Thứ Năm, 29/01/2026 09:33

Thành cổ Quảng Trị - tượng đài của tuổi hai mươi

Tôi nhìn sông. Tôi nhìn Trường Sơn mờ xa trong mây khói. Đất này là linh địa... (ĐẶNG HOÀNG THÁM)

Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm (Lê Bá Dương). Những câu thơ của người cựu binh ấy ám ảnh tôi suốt chuyến đi dọc miền Trung đầy nắng gió. Bắc Trung Bộ đã vào mùa mưa, nhưng khi nắng lên vẫn còn những cơn gió Lào oi ả, thổi qua đại ngàn Trường Sơn rồi tràn xuống dải duyên hải, xao xác trên những cát trắng khô cằn. Chúng tôi dừng chân bên dòng Thạch Hãn trong xanh, bèo dại và lục bình lững lờ. Con sông điềm nhiên, lặng lẽ, như thể chưa từng có một thời đạn bom bi tráng.

Lối vào Thành cổ Quảng Trị. Ảnh: Tư liệu

Tôi nhìn sông. Tôi nhìn Trường Sơn mờ xa trong mây khói. Đất này là linh địa. Đây từng là bãi chiến trường từ đời Lý, Trần, đến thời Trịnh - Nguyễn phân tranh; rồi sông Bến Hải chia cắt hai miền hơn hai mươi năm trường. Châu Ô xưa với giọt nước mắt Huyền Trân hình như cũng đã nhỏ xuống Thạch Hãn buổi theo chồng về Chiêm. Bao mùa qua, bên dòng sông huyền thoại này, người ta trở về để xót thương những thân phận đã hóa hồn vào cỏ cây sóng nước: những người mẹ, người cha, người chị, người anh đi tìm dáng hình người thân đã ngã xuống nơi Thành cổ.

Trong khuôn viên Thành cổ, tôi ngồi dưới bóng cây sứ đại cành trĩu hoa trắng, tình cờ lật một trang sách:

“19.8.1972

… Ngày mai tôi giáp trận ác liệt, đấy là điều tất nhiên của chiến trận. Rất có thể rồi đây tôi sẽ ngã xuống. Không cần gì, đấu tranh là phải đổ máu. Có máu mới có màu đỏ, có chiến thắng. Không sợ chết, không sợ hi sinh gian khổ. Cái chủ yếu là phải sống. Cuộc sống đẹp nhất là sống trong chiến trận. Cuộc đời đẹp nhất là cuộc đời tôi rèn…”

(Trích nhật kí liệt sĩ Nguyễn Kỳ Sơn)

Đi qua cổng thành, con đường thẳng dẫn tới tượng đài kỉ niệm. Hai bên cỏ xanh rờn, gió đùa phơ phất. Tôi cố hình dung chàng trai trẻ Nguyễn Kỳ Sơn, sinh viên Đại học Thủy lợi Hà Nội, ngày nào đã cố thủ ở góc nào của bức tường rêu, chong súng, mắt đăm đăm chờ giặc. Chợt nhớ Lev Tolstoy từng tả người lính Nga chờ xáp trận trong truyện Sevastopol: “Này các cậu! Hãy chuẩn bị muối và bánh mì để đón bọn Pháp.” Sau đó, người lính ấy đã ngã xuống trong giáp chiến. Tôi muốn nói đến sự lạc quan của tuổi trẻ. Trong những dòng nhật kí cuối cùng, Nguyễn Kỳ Sơn cũng đã nói điều ấy.

Những người giữ Thành cổ là những con người bình thường: có gia đình, bạn bè, người yêu. Có người từng qua trận mạc, cũng có người vừa hôm qua mới xếp bút nghiên, vội vã chia tay mái trường, lên đường “tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Không ít chiến sĩ nơi đây trước khi nhập ngũ là sinh viên các khoa Văn, Toán, Địa chất, Thủy nông, Sư phạm… Họ tình nguyện vào chiến trường B, biết rõ sự ác liệt đang chờ. Có thể họ sẽ không trở về. Nguyễn Văn Thạc, Nguyễn Kỳ Sơn, Lê Văn Ninh… cùng nhiều người khác đã vĩnh viễn nằm lại với Thành cổ, bên dòng Thạch Hãn xanh trong.

Điều gây ấn tượng mạnh với người thăm Thành cổ là những hiện vật ở Nhà trưng bày của Khu di tích. Dù mưa bom bão đạn, giữa cái chết lạnh lùng, những chiến sĩ vẫn giữ sự lạc quan của tuổi hai mươi. Có đoạn tư liệu kể vui:

“Những khi thế này, việc lí thú nhất là bắt muỗi bằng ngọn đèn làm bằng hộp Coca-Cola Mĩ. Những chú muỗi gầy có, béo có; nhỏ có, to có, lần lượt bay vào ngọn đèn đầy muội đen. A! OV-10 này! A! L-19 này! Con này là B-52, con kia bay nhanh quá, cho nó là F-4 vậy… Cứ thế, mỗi con là một ‘loại’ không lực Hoa Kì, lần lượt lao quanh đèn tôi. Con gãy cánh, con đứt đuôi… đúng là quân tham - cho mày chết!” (Một thời hoa lửa)

Dưới bom đạn trút xuống suốt 81 ngày đêm (28/6 - 16/9/1972) trong một không gian chỉ khoảng 2,6 km chu vi, diện tích hơn 18ha, người ta kinh ngạc trước sức chịu đựng của con người. Chỉ có ý chí quyết thắng và lòng dũng cảm tuyệt vời của một thế hệ được Tổ quốc rèn luyện mới làm nên chiến công ấy. Quân ta chiến đấu anh dũng; kẻ thù phải trả giá đắt. Hơn một vạn tên địch bị tiêu diệt, nhiều phương tiện quân dụng bị phá hủy. Sứ mệnh giữ Thành cổ đã hoàn thành.

Tôi đứng trước Đài chứng tích Sinh viên - Chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị, nơi tưởng niệm những người lính trẻ trước lúc nhập ngũ là sinh viên các trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Bách khoa Hà Nội, Mỏ - Địa chất… Tượng đài vừa được trùng tu, tôn tạo. Nơi đây hơn bốn mươi năm trước, lớp thanh niên tuổi đôi mươi theo tiếng gọi non sông, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Vinh quang ở Thành cổ Quảng Trị thuộc về tuổi hai mươi trong 81 ngày đêm máu lửa.

Theo người thuyết minh, khi xây dựng Khu bảo tồn Thành cổ, người ta phát hiện nhiều di vật của các chiến sĩ đã hi sinh, trong đó có tư trang cá nhân. Đặc biệt, lá thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh gửi người vợ trẻ nơi hậu phương được phục chế nguyên vẹn: mười trang sổ tay nhỏ, lời lẽ cảm động và bi hùng. Bảo tàng còn trưng nhiều ảnh tư liệu: cảnh quan chiến trường, chiến sĩ Giải phóng chiến đấu, phút thư giãn giữa đống gạch vụn, hình ảnh nhân dân tiếp tế bộ đội… Có các di vật gốc như bình toong, dây thắt lưng, hăng-gô, lược nhôm từ xác máy bay, khăn dù, nón tai bèo sáu múi. Gần cổng khu di tích còn bày bán vài món lưu niệm gợi nhớ: mũ tai bèo, áo in ngôi sao và chữ “Thành cổ Quảng Trị”, cùng những cuốn sách về 81 ngày đêm và nhật kí liệt sĩ.

Rời khuôn viên, chúng tôi ra bến thả hoa ở bờ Nam sông Thạch Hãn, đối diện cổng Bắc Thành cổ. Phía bờ Bắc cũng có một bến thả hoa xây dựng năm 2012. Công trình ấy dành cho nhân dân, cán bộ, khách thập phương đặt hương hoa, thả đèn hoa đăng xuống dòng sông, tưởng niệm anh linh những người đã ngã xuống trên mảnh đất này.

Chiều Quảng Trị vàng hanh. Dòng Thạch Hãn trầm lặng, mênh mang xuôi về biển qua những xóm làng yên ả. Tôi thắp một nén hương, trong lòng dâng niềm tri ân kính cẩn, trước khi trở vào Nam, gửi lại Thành cổ bao thương tiếc. Hơn bốn mươi năm - quá nửa đời người - bao đổi thay, tôi lại nhớ những câu thơ trong cuốn nhật kí đã in thành sách của Nguyễn Kỳ Sơn:

Mặc thân sống chết sá gì,

Là người chiến sĩ quyết vì

nhân dân.

Tôn thờ một chữ hi sinh,

Đến ngày chiến thắng thì con

sẽ về.

Ngày mai sáng rực trời quê,

Ba mẹ tin ở ngày về của con…

Ôi, những lời thơ giản dị mà thao thiết biết bao!

Và xin cúi đầu trước tượng đài tuổi hai mươi - tượng đài của một thế hệ đã lấy tuổi thanh xuân đặt lên bệ thờ Tổ quốc.

ĐẶNG HOÀNG THÁM