. VŨ MAI PHONG
“Anh về ra mắt “khươi Tày”(1)
Rượu chưa đổi chén đã say
San Lùng nghiêng đêm thổ cẩm
Quê mình yêu lắm
Noọng ơi!”
Năm thứ tư đại học, nàng rủ tôi về quê dịp tết trước khi chính thức làm “khươi Tày”. Đó cũng là lần đầu tiên tôi ăn tết xa nhà, không có cái không khí đón giao thừa ở đền Sóc Lang Thái Bình quê tôi.
Chiều 29 tháng Chạp, tiết trời lành lạnh, khoác chiếc áo đủ ấm, tôi bắt xe khách lên Hà Nội để kịp chuyến tàu đêm. Qua chợ Sóc thấy đào, quất đã xếp kín, hương tết tràn ngập. Không khí náo nức của phiên chợ ngày xuân càng khiến lòng tôi thêm mong mỏi được gặp nàng sau một tuần nghỉ tết sớm.
Sân ga Hà Nội lúc nào cũng nhộn nhịp. Sinh viên đã về nghỉ từ trước ngày 23. Chuyến 21 giờ 45 ít khách Tây hơn chuyến 21 giờ. Chủ yếu người lao động và sinh viên ở lại làm thêm đến sát tết mới về.
May mắn tôi vẫn mua được một vé ghế cứng, dù rằng nó giáp cửa khoang vệ sinh.

Mùa xuân của dân tộc Tày. Ảnh Lục Niên
Tàu tới ga phố Lu lúc chạng vạng sáng. Tôi mệt rũ người sau những cú lắc lư của con tàu cũ kĩ mang trên mình biết bao nhiêu dấu tích thời gian. Xuống sân ga, hít căng vào lồng ngực luồng không khí mát lạnh, trong lành mà cái mùi tàu chợ, mùi khoang vệ sinh ẩm ướt và bí bách vẫn còn váng vất. Gió núi cùng cảnh vật trên triền cao khiến tinh thần tôi phấn chấn hẳn, tuy vẫn chưa át được tiếng xình xịch, xình xịch dư âm còn văng vẳng trong đầu.
Nàng đứng chờ tôi ở cửa ra, vồn vã:
- Anh có bị say tàu không? Cả chặng đường anh ngủ được chứ?
- Em có thấy người anh vẫn đang lắc lư không? Tàu đỗ lắm ga quá. Anh không mệt mà chỉ sốt ruột sợ em đợi lâu.
- Anh đi chuyến này là tàu chậm. Đi tàu nhanh sẽ đỗ ít ga hơn.
Nàng đón tôi bằng chiếc xe 82 Super Cup đèn vuông, màu xanh rêu.
- Cả đêm em không ngủ, nóng lòng gặp anh, em ra đây từ bốn giờ sáng cơ. Anh trai em bảo để anh ấy đi đón hộ, nhưng em muốn đi đón anh.
Chằng cái ba lô ra sau, nàng nhẹ nhàng:
- Anh mệt nên cứ ngồi sau để em lái, em quen xe, cũng quen đi đường núi rồi.
Thấy tôi có vẻ tần ngần, nàng cười rõ tươi:
- Trước kia em còn đi xe Minsk mà. - Nàng mạnh bạo kéo tay tôi vòng qua eo - Yên tâm mà ngắm cảnh nhé.
Lần đầu đi đường miền núi, đèo dốc quanh co. Một bên là vách núi rừng rậm, một bên là thung xanh vời vợi. Sáng sớm, mùi thơm của hoa rừng, mùi tóc của nàng quyện với khói củi pơ mu từ những ngôi nhà sàn ven đường cho tôi cái cảm giác vừa thân thuộc, vừa lạ lẫm như đang khám phá một thế giới khác.
- Mấy con dốc thì tới được nhà mình? - Tôi ghé sát hít mùi hương trên tóc nàng lẫn với mùi gió đại ngàn.
- Qua chín con dốc ạ. Thế anh có bị ù tai không?
- Có. Chắc là lên cao thay đổi áp suất nên bị ù tai như đi máy bay nhỉ?
Chiếc xe đã leo được mấy con dốc rồi tôi không nhớ rõ. Rồi đến đoạn lao xuống dốc, nàng cài số cho xe chạy xuống chậm.
- Thả dốc đèo, nhiều người họ tắt máy, cắt côn cho trôi tự do, nhưng đi như thế nguy hiểm lắm, dễ bị mất phanh và không làm chủ được tốc độ. Em đi xe Minsk thì thả côn, nhưng đi xe số thì cứ cài số đi cho an toàn.
Nàng tỏ ra rất kinh nghiệm. Tôi nghe nàng nói thế thì ôm siết chặt hơn eo nàng. Đi qua một rặng tre vầu là tới khe ngầm, vài cây trẩu ra hoa sớm. Màu trắng hoa trẩu bừng nơi sườn dốc. Cánh đồng làng Chiềng mà nàng thường kể trong những câu chuyện ở trường đã ngay trước mắt. Từng đụn khói trắng bay lên phía rừng cọ xanh ngút dưới chân núi. Bản Chiềng ẩn hiện trong sương sớm. Vậy là tôi đã về nơi nàng sinh ra như chúng tôi từng hẹn ước.
Trên bậc thang ngôi nhà sàn cũ kĩ, hai người phụ nữ vấn chiếc khăn màu xanh ngồi têm trầu. Đó là bà nội và mẹ nàng. Thấy cháu gái đưa bạn trai về tới ngõ, bà tươi cười hiền hậu:
- Cả nhà ơi ra đón cháu nào...
Dưới sân phía trước nhà sàn đã trải sẵn mấy tàu lá chuối rừng tươi. Con lợn gần một tạ bị trói nơi góc sân. Mấy người đang lúi húi chuẩn bị bắc nước. Nàng giới thiệu tôi với mọi người trong nhà, rồi nhanh nhẹn vào bếp.
Lửa reo vui đón khách quý.
Sau màn chào hỏi, tôi định xắn tay vào làm cùng nàng nhưng lúng túng không biết làm gì ngoài việc đứng quan sát mấy người anh trai của nàng làm thịt con lợn vô cùng thuần thục.
- Anh không phải làm gì cả. Các món ngày tết ở trên này chỉ xoay quanh con lợn thôi. Nhà nào cũng nuôi một vài con để dành giết thịt vào sáng ba mươi. Và ăn tết cũng tính từ hôm nay đó. - Nàng vừa nói vừa xách ấm nước sôi ra đưa anh trai.
Cái thủ lợn sau khi đã làm sạch được đặt gọn vào mâm. Người anh cả thành kính bưng đặt lên ban thờ.
- Cái thủ lợn này để thắp hương đến trưa mùng 1 tết mới bỏ xuống chế các món. - Nàng ghé tai tôi nói khẽ.
Trên thềm nhà sàn, mấy người chị dâu đang chuẩn bị gạo nếp, lá dong để gói bánh chưng. Bánh chưng chỉ được gói vào ngày 30 vì hôm nay mới có thịt để làm nhân.
Nàng kéo tôi vào bếp. Trên cái chạn bát đũa tít trong góc để một ban thờ nhỏ, có ba bức hình cắt bằng giấy màu.
Nàng giải thích:
- Đây là ban thờ ông Thổ Công, ông Thổ Địa và bà Thổ Kỳ, như dưới xuôi hay gọi là cúng ông Công, ông Táo đó.
Nàng vừa làm vừa giới thiệu cho tôi những đặc trưng khác biệt. Gác bếp chính là nơi bảo quản và chế biến thực phẩm chính yếu của người vùng cao. Thay vì để tủ lạnh như dưới xuôi, đa số các món được treo gác bếp để chống ruồi nhặng, ôi thiu và không bị phân hủy. Các món điển hình mà dịp tết người Tày thường làm rất phong phú. Đầu tiên là món “chao cuổn”. Lấy cái mỡ chài quấn thịt băm rồi gói lá dong treo gác bếp. Vài ngày thịt sẽ lên men rất thơm, khi ăn thì nướng than hoặc chiên lên. Món “chả xìa” làm từ dẻ sườn, róc thịt ra hai bên, ướp với thính, gia vị và rượu cũng gói túm vào lá dong treo gác bếp. Món “bẳm khình” là các món xương cục băm trộn gừng giã, rượu mắm, muối gói lá dong hoặc cho ống nứa treo gác bếp. Món này khi ăn thì chưng lên. Món “nhưa thổm” là món thịt chua, làm từ thịt vụn rời rạc không thành miếng như tai lợn, thịt thủ, trộn với thính cho vào ống nứa... Khi ăn thì cho ít nước xâm xấp rồi chưng lên ăn với rau sống.
Sau tết đất nương được phơi ải nên rau má mọc rất nhiều, rau mọc được hai bước rễ là lúc ngon nhất, người ta nhổ cả gốc rửa sạch rồi chấm với “nhưa thổm” siêu ngon. Em giới thiệu với anh mà đang thèm ăn rau má đây này.
- Anh thì thích món măng rừng, thế dịp Tết có măng sặc, măng vầu không?
- Măng sặc, măng vầu sớm nhất phải hết tháng Giêng măng mới nhú khỏi mặt đất. Hai loại măng này rất hợp chấm với “nhưa nhổm” chưng mẻ đó.
Món “nhưa giảng” chính là thịt treo gác bếp. Dưới xuôi gọi là thịt hun khói. Thái bản ngang miếng thịt ba chỉ chừng ba đốt ngón tay thôi. Cho ngâm với rượu pha muối từ hôm trước tới hôm sau thì vớt ra rửa nước ấm rồi treo gác bếp. Món lạp xưởng làm từ lòng non, thổi căng lên, treo gác bếp cho se lại. Thịt nạc, thịt ba chỉ thái mỏng ướp gia vị và rượu rồi luồn vào cái lòng non kia. Xong lại treo gác bếp sau 4, 5 ngày là ăn được.
Tôi quan sát mọi thứ theo giới thiệu của nàng. Cảm nhận sự phong phú hấp dẫn của những món ăn vùng cao của người Tày.
- Anh để ý thấy ướp món gì cũng có rượu trắng nhỉ.
- Rượu giúp cho thịt thơm, nhanh lên men thôi mà. À, ăn tết còn món canh cá muối nữa. Mùa đông vùng cao rất lạnh nên họ thường tháo ao sớm, cá sẽ được làm sạch, cứ ướp một lớp cá là lớp muối, riềng và một lớp thính. Cá muối có màu vàng ươm, vị chua thanh, mùi thơm của thính, của riềng.
Rồi nàng nhanh nhẹn dặn tôi:
- Lát luộc bánh chưng xong, anh ra buộc bánh và dựng cây nêu cùng mọi người nhé. Ở làng này thường dựng nêu vào chiều 30 tết. Hình như phong tục cũng giống người Kinh anh nhỉ?
- Dưới xuôi không nhiều làng còn giữ phong tục này đâu.
- Từ xưa, ông nội em vẫn dặn là ngọn cây nêu phải cao hơn nóc nhà sàn nên cây tre, nứa hay vầu làm cây nêu được chọn rất kĩ.
Nghe nàng thuyết trình một hồi về các món ăn tết của người Tày, cảm thấy thật ấm áp. Hương vị tết núi tràn ngập. Bữa trưa cũng vừa kịp dọn ra gồm thịt nướng và các món chế biến từ lòng, tiết canh lợn và chum rượu mới mở nắp thơm nức. Đó chính là rượu “San lùng” được chưng bởi thóc nương và men từ 15 loại lá rừng theo công thức của người Dao đỏ.
Biết tin tôi lên ăn tết nên họ hàng, làng xóm cũng tới ăn tất niên. Tất thảy cũng phải vài ba mâm. Khổ nỗi tôi kém nhất khoản uống rượu. Ấy thế mà cứ liên tục được mời “đổi chén”. Tục đổi chén ở đây rất thú vị. Đã đổi chén là phải hết còn trả lại chén cho người mời. Từ chối uống thì khó, mà uống hết thì say. Tôi không nhớ uống được mấy lần đổi chén, chỉ thấy mâm bát cứ chao đảo, mắt díu lại. Cố bò lại cái đệm gần cửa sổ nhà sàn rồi nằm lăn ra lúc nào không biết, vẫn nghe thấy giọng ông chú của nàng trêu:
- Thế này “khươi Tày” là khó rồi...
Mặt trời cuối cùng của năm cũ đang dần khuất sau sườn núi.
Chiều ba mươi tết nơi rẻo cao thật bình yên. Tiếng chim chóc gọi nhau về tổ. Tiếng suối Nậm Mả róc rách chảy sau nhà. Hình như có cả tiếng nai tác. Có những âm thanh mà tôi chưa từng được nghe. Những âm thanh thật gần của rừng già. Sắc hồng hoa đào, sắc trắng hoa mận ánh lên trong thăm thẳm hoàng hôn đại ngàn.
Nàng nắm lấy tay, lay tôi dậy:
- Bố bảo anh dậy ra buộc bánh chưng lên cây nêu kìa. Buộc xong cặp bánh này, anh là “khươi Tày” rồi đấy nhé...
Tôi vừa buộc nút dây cuối cùng, hai chiếc bánh chưng khẽ đung đưa trên ngọn nêu như cặp lồng đèn xanh giữa trời xuân miền núi. Nàng vỗ tay reo lên vui vẻ: “Sau đây, tết Tày chính thức bắt đầu!”
Tôi cũng thấy hình như mình say hơn.
V.M.P
1/2026
--------
1. Khươi Tày: rể Tày