Thứ Năm, 09/04/2026 15:09

Rực cháy lên màu hoa đỏ...

 

Nếu tất cả trở về đông đủ

Sư đoàn tôi sẽ thành mấy Sư đoàn…

Người viết câu thơ ấy bây giờ đã đột ngột đi đâu? Vừa hai hôm trước trên vỉa hè lá sấu rụng tơi bời phố nhà binh Lý Nam Đế ông còn căn dặn tôi những việc nhỏ trong thơ, trong đời sống. Thì ra ông vẫn chăm đọc. Ông càng chăm sống biết bao nhiêu. Ngày ngày, chiếc bóng liêu xiêu góc đường sấu rụng mưa giăng mịt mùng khi rét buốt lúc giữa hè nắng gắt inh ỏi tiếng ve kêu vẫn thủy chung một bóng hình liêu xiêu lên xe buýt vân du khắp ngả. Gặp ai cũng nụ cười hiền nhỏ nhẹ cầm bàn tay mỏng mảnh chiếc lá nghiêng như một tiếng đàn văng vẳng từ chốn ngàn xưa vọng lại. Bây giờ ông đã đi đâu?

Ông là nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Người cũng như tên, tên cũng như người thanh bình giản dị cứ thế riêng ra một góc thoang thoảng mây bay mà từng câu thơ vừa mênh mang vừa chắc khừ chất lính:

Hơi núi giăng triền đá

Chiếc võng xa nhà treo ở rừng hoang

Hai đầu dây cây Bắc, cây Nam

Chiếc võng hóa mảnh trăng nằm giữa

Đất nước tôi chia làm hai nửa

Trận bom rung vọng suốt hai đầu

Trong cuộc chiến tranh này

Triệu chiếc võng rừng sâu

Làm triệu cây cầu nối liền vết cắt

Da thịt người vá lành da thịt đất

Trong nỗi đau của đất có con người.

(Trường ca Sư đoàn)

Tổng tập tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu. 

Thơ Nguyễn Đức Mậu khởi đầu đã là như thế. Cái tâm tình của người lính chiến vừa thẳm sâu hun hút vừa thắm thiết bình dị tại sao có thể đúc lên những lời gan ruột từ muôn người đồng quy về một mối? Thơ Nguyễn Đức Mậu, từ những dòng thứ nhất, đã sáng suốt nhận diện chính mình trong màu áo chiến binh:

Bài hát đầu tiên tôi hát Sư đoàn

Mây trời trắng khoảng trời Tây Bắc

Các anh tôi thuở mũ nan, súng kíp

Có bao người tôi chưa được tìm thăm

(Trường ca Sư đoàn)

Thơ Nguyễn Đức Mậu càng về sau càng thao thiết một nỗi lòng của người chiến sĩ đã đi qua tầng tầng lửa đỏ chiến tranh nhưng tuyệt không ùng oàng bom đạn mà đã có cái nhìn xa hơn rất nhiều nhưng tuyệt đối giản dị như cách trò chuyện hàng ngày của người lính trận:

Viết lên áo lính, viết lên màu cờ

Viết cùng dấu chân trải nghìn dặm đất

Viết năm chiến tranh, viết ngày gieo hạt

Viết lên trời cao vằng vặc dải Ngân Hà…

(Trường ca Sư đoàn)

Chúng tôi, lứa văn bút sau ông dễ gì hiểu được câu thơ: Tên tuổi chúng tôi trụi trần như quả đạn/ Tên tuổi chúng tôi lỗ chỗ vết đạn bay trên nền đỏ lá cờ. Thì chúng ta đây, dễ gì hiểu hết câu thơ: Cái đốm lửa đêm rừng sáng mãi/ Màu đất chiến hào đỏ rực mỗi hoàng hôn. Và đây nữa, câu thơ bình dị làm sao mà cũng cao lớn làm sao: Tôi nhìn lên đỉnh núi/ Tôi nhìn lên dấu chân đồng đội/ Có một thời mặt đất hóa trời sao. Và ở đây, chỉ có thể là Nguyễn Đức Mậu mới gọi được ra những câu thơ như máu thịt của chính mình: Tôi gọi cả hai bàn chân đã mất/ Hai bàn chân lạc trong hố bom dày/ Đêm Thành Cổ mưa rơi lấp mặt/ Tôi ôm Bường rụng buốt cả vòng tay. Và cái cách Nguyễn Đức Mậu phát thư cho những người đã chết: Những lá thư như cánh chim trúng đạn/ Rơi hoài giữa khoảng hư vô/ Dòng địa chỉ rối bời sắc cỏ/ Khi kẻ mong thư hóa nấm mồ. Còn đây nữa, những câu thơ đã từ lâu đọng trong trí nhớ của những người lính chúng tôi: Người nằm nghiêng, súng cũng nằm nghiêng/ Người ngủ ngồi, súng ôm ghì trước ngực…/ Từng tiểu đội trong khi nằm ngủ/ Đôi chân vạn dặm vẫn mang giày…

Thơ Nguyễn Đức Mậu, dù mở ra bất kỳ ở trang nào, đều đậm đặc sắc màu lính trận. Thơ ông như máu thịt của ông. Thơ ông chính là muôn vàn đồng đội đã hòa chung trong một giọng điệu của người cầm súng. Những câu thơ Nguyễn Đức Mậu trữ tình đến mấy vẫn là tiếng lòng của người lính trận khôn khuây: Con vẫn ước làm vầng trăng bé bỏng/ Trôi bồng bềnh giữa lòng mẹ trời sâu/ Chúng con lớn lên đã có mưa ngâu/ Đã có miếng trầu lá xanh vôi trắng/ Đã có đá mài gươm, đã vàng tre làng Gióng…/ Lửa nhen lời cổ tích suốt đêm thâu. Cái chất lính tráng không chỉ đậm đặc mà dường như đã trở thành tập quán trong từng câu thơ Nguyễn Đức Mậu: Tổ quốc là tấm áo lính sờn vai/ Mặc áo lính chúng tôi thành người lính/ Bạn tôi ngã trước tầm đạn bắn/ Màu áo xanh gói trọn hình hài. Và nếu không trực diện ở chiến trường giữa lằn ranh sống chết chắc chẳng thể nào viết ra được câu thơ: Nếu không có con đường vào mặt trận/ Con đường rừng sột soạt mảnh lân tinh/ Dưới vực sâu đêm dày vốc được/ Đốt dép lên soi rõ bước chân mình.

Nguyễn Đức Mậu sinh năm 1948 tại xã Nam Điền, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định. Ông nhập ngũ năm 1966, vào chiến trường rồi về Văn nghệ Quân đội một mạch đến lúc nghỉ hưu. Từ những bài thơ đầu tiên nơi chiến trường gửi ra đến suốt hành trình thơ Nguyễn Đức Mậu sau này luôn thấm đẫm mùi đạn bom máu xương đồng đội. Những bài thơ đầu tiên được in trên Văn nghệ Quân đội là sung sướng tột cùng của người chiến sĩ. Khi lần đầu tới Văn nghệ Quân đội, Nguyễn Đức Mậu đã rụt rè mấy lần trước cổng Nhà số 4 mới dám nhấn chuông. Vô cùng đặc biệt, người đàn ông cao lớn từ trong phòng khách đi ra mở cổng đón nhà thơ trẻ Nguyễn Đức Mậu chính là Tổng Biên tập Thanh Tịnh. Thanh Tịnh - một nhà thơ tiền chiến nổi tiếng với câu thơ nhiều người còn nhầm tưởng là thơ của Bác Hồ: Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong, và một câu khác cũng giống như ca dao đúng với thân phận cuộc đời Thanh Tịnh: Trải qua mấy chục năm trường/ Ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân. Nguyễn Đức Mậu đã sớm được tiếp xúc với những nhân vật lẫy lừng từ lâu hâm mộ. Đó là Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, Xuân Sách, Nhị Ca, Văn Thảo Nguyên, Nguyễn Minh Châu... Đến nỗi, anh lính Sư đoàn bộ binh Nguyễn Đức Mậu tưởng như còn đang nằm chiêm bao vậy.

Từ trái qua phải là những nhà văn, nhà thơ Nhà số 4: nhà thơ Lê Thành Nghị, nhà văn Nguyễn Trí Huân và nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu tính khí trầm hậu, ưu tư nhưng hóm hỉnh. Cái gì cũng biết mà vô cùng ít nói. Có nói thì nói vào thơ. Không to giọng. Càng không ồn ào. Cứ thủng thẳng thế thôi mà tận cùng bờ bãi. Ông rất sợ thơ dở. Cuộc đời ông đã phải đối diện với biết bao bài thơ kém chất lượng gửi đến. Phải đọc nó. Phải loại bỏ nó. Thiên hạ ai ai cũng làm thơ để khổ thân người biên tập như ông. Ông đọc. Ông đãi khối đất cát, đá sỉ ấy để lựa ra những hạt vàng. Hơn nửa thế kỷ là như vậy. Cứ nhìn ông như chiếc lá xô nghiêng chiều phố Lý Nam Đế thấy thật thương ông.

Nguyễn Đức Mậu là người chừng mực. Ông còn luôn rất thẳng và nóng tính. Nhưng chân thành, chí thiết và nghĩa khí. 

Nguyễn Đức Mậu như cây cầu độc mộc còn sót lại sau nắng mưa giông gió, đúng như ông từng viết: “Nơi tôi ở vắng Thâm Tâm, Trần Đăng, Thôi Hữu, Nguyễn Thi. Lớp nhà thơ, nhà văn một thời đi kháng chiến. Trang bản thảo nằm trong ba lô, những nhân vật câu thơ là mẫu quặng. Căn hầm thay phòng viết, ngọn đèn thắp bằng nhựa cây cháy sáng mặt trời. (Những nhà thơ, nhà văn ăn khẩu phần lính trận, ngủ gối đầu rễ cây, bao gạo. Đường kháng chiến hiểm nghèo đèo dốc. Đường văn chương bạc tóc đêm dài. Cây bút và khẩu súng. Các anh quên mình đã có một thời trai).

Những trận sốt rừng, những viên đạn giặc, đã tràn vào trang viết dở dang. Nhà văn hy sinh, nhường khát vọng đời mình cho nhân vật. Máu thấm đất, máu chảy vào trang viết, máu thay cho đoạn kết không lời. Nhà thơ hy sinh như ngọn lửa cháy hết mình để tự hóa thân. Trên vuông đất bia khô cằn đá sỏi, những câu chữ như hạt cây sót lại, ngôn ngữ cỏ xanh tự chắp nên vần.

Cây đại già làm một chứng nhân, ngôi nhà các anh giờ chúng tôi đến ở. Căn phòng cũ mấy lần thay ổ khóa. Lớp nhà thơ mang áo lính nhiều thêm.

Trái tim các anh, khoảng đất nào xa lắc. Trái tim đập phập phồng trên trang sách chẳng bình yên”.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thấm thoắt đã bước vào U80 mà xem ra vẫn còn nặng nợ với thơ ca chữ nghĩa lắm. Lứa các ông dường như đều đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Những gì cần viết ra, nói ra thảy đều trân trọng được bày lên mặt giấy. Chỉ riêng với bài thơ Màu hoa đỏ thôi, đã xứng đáng một cống hiến, một tài năng không thể lẫn vào đâu với nhân dân và Tổ quốc. Tổ quốc và nhân dân cần lao đã hy sinh vô bờ bến rất cần những câu thơ như trong Màu hoa đỏ. Vẻ đẹp của người lính trong Màu hoa đỏ đã như những hình ảnh đạt tầm biểu tượng của sự hy sinh:

Dòng tên anh khắc vào đá núi

Mây ngàn hóa bóng cây che

Chiều biên cương trắng trời sương núi

Mẹ già mỏi mắt nhìn theo

 

Việt Nam ơi! Việt Nam!

Núi cao như tình mẹ, bốn mùa tóc bạc nỗi thương con

Việt Nam ơi! Việt Nam!

Ngọn núi nơi anh ngã xuống

Rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa

Rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn.

Thế hệ các nhà văn chống Mỹ, những bậc đa đề trong ngôi nhà số 4 cứ thế vợi dần càng khiến lứa chúng tôi như có điều gì như lực bất tòng tâm. Mới vừa năm trước (2025), chúng tôi đã phải liên tiếp vĩnh biệt nhà văn Khuất Quang Thụy và nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình. Cả hai ông tôi đều nhiều lần lấn lá bên giường bệnh. Có một lần, khi chỉ có hai người, nhà văn Khuất Quang Thụy còn bàn với tôi tái bản cuốn tiểu thuyết Tình báo không phải là nghề của tôi. Chỉ vài tháng trước khi ông mất, tôi cùng ông và Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh còn thực hiện một chương trình nói chuyện ghi hình tại Thư viện Quốc gia. Ông còn dặn: “Chú đang viết dở cuốn tiểu thuyết về tình báo. Bây giờ nghỉ hoàn toàn quản lý tha hồ viết ông ạ. Bản thảo chỉ vài tuần nữa là xong…”.

Rồi ông đột ngột ra đi, chỉ kịp căn dặn gia đình đưa về quê chôn cất.

Tiếp đó là nguyên Tổng Biên tập Ngô Vĩnh Bình.

Và hôm nay là nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Đối với cá nhân tôi, dường như luôn có một đường dây dẫn sâu xa với thế hệ các nhà văn chống Mỹ. Từ những ngày lẫm chẫm ở Truyền hình quân đội đã được phân công làm phim chân dung về các ông, về ngôi nhà số 4. Rồi tôi chuyển công tác về nơi mình ưa thích một mạch đã tròn 20 năm. Hai mươi năm ấy, trong vô vàn ấn tượng, dấu mốc, bước ngoặt, thì đã có rất nhiều cuộc ra đi vĩnh viễn của các nhà văn trong ngôi nhà đang dần trở thành huyền thoại.

Đại tá, nhà thơ PHÙNG VĂN KHAI

Phó tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội