.NGUYỄN VŨ ĐIỀN
1.
Tháng 8/2023, tôi về Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương (Đồn 457) để tìm đề tài sáng tác về bộ đội biên phòng.
Với tôi, chuyến đi ấy còn mang một ý nghĩa rất riêng. Sau gần hai mươi năm khoác áo lính, rồi nhiều năm trở về với cuộc sống đời thường, được trở lại một đơn vị quân đội khiến tôi có cảm giác như trở về với đồng đội, trở về với những tình cảm mà chỉ những người từng đi qua đời lính mới thật sự thấu hiểu, đó là tình cảm của những người lính dành cho nhau lúc thường cũng như lúc ra trận.
Có lẽ vì thế mà ngay từ khi đặt chân đến đồn, tôi đã tự nhủ phải tìm cho được một câu chuyện chân thực về người lính biên phòng; một câu chuyện đủ sức nói lên những cống hiến, hi sinh thầm lặng của họ mà không sa vào những lối kể quen thuộc.
Suốt mấy ngày liền, tôi theo các chiến sĩ lên biên giới. Đứng trên cửa khẩu nhìn xuống, dòng sông Mã uốn lượn giữa những cánh đồng vừa gặt còn ánh màu rơm mới. Bên kia đường biên, bà con bản Đán của nước bạn Lào cũng đang vào mùa thu hoạch. Những thửa ruộng vàng ruộm chạy dọc triền sông. Tiếng mõ trâu lốc cốc từ những mỏm đồi phía xa vọng lại. Những làn khói mỏng từ các đống rơm bọn trẻ đốt bay ngoằn ngoèo trong ánh chiều còn sót lại.
Nếu không có Trạm Biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương và Trạm Biên phòng cửa khẩu Bản Đán của nước bạn thấp thoáng phía xa với kiến trúc khác biệt, có lẽ ít ai nghĩ nơi đây là đường biên giới giữa hai quốc gia. Cũng chẳng mấy ai biết những người nông dân đang cần mẫn trên những cánh đồng bên kia sông là bà con nước bạn Lào.
Ngày nối ngày, cuộc sống ở vùng biên vẫn diễn ra yên ả như bao làng quê khác. Lúa vẫn chín, chợ vẫn họp, người dân hai bên biên giới vẫn cần mẫn với ruộng nương của mình. Chỉ khi theo chân những người lính lên chốt, đi tuần trên đường biên hay thức cùng họ trong những đêm mật phục, tôi mới hiểu để có được nhịp sống bình dị ấy, biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ biên phòng đã âm thầm đánh đổi bằng mồ hôi, tuổi trẻ và cả máu của mình.
Trong những ngày ở Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương, tôi theo anh em đến nhiều nơi. Nhưng nơi để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất là Chốt Liên Hồng. Chốt nép dưới vách ta luy của tuyến đường tuần tra biên giới, ngay trên đường phân thủy giữa hai sườn núi. Phía này là xã Chiềng Khương, tỉnh Sơn La; phía bên kia là huyện Mường Ét, tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào. Con đường lên chốt chỉ hơn bảy cây số nhưng quanh co, dốc dựng, nhiều khúc cua gấp ôm sát vách núi. Đã có hàng chục năm cầm lái, vậy mà suốt quãng đường ấy, không ít lần tôi vẫn thấy tim mình thót lại.
Chốt chỉ là một căn nhà nhỏ lợp tôn nép dưới vách ta luy. Không điện lưới, không sóng điện thoại, nước sinh hoạt phải gùi từ mó nước cách đó vài cây số lên. Chỉ có bốn cán bộ, chiến sĩ thay nhau bám chốt, quản lí một đoạn biên giới có nhiều đường mòn, lối mở. Anh em kể, hơn hai năm dịch Covid-19, chốt gần như không có ngày nghỉ. Dù mưa rừng hay giá rét, các tổ tuần tra vẫn thay nhau bám biên, kiểm soát từng đường mòn, lối mở để ngăn dịch bệnh xâm nhập vào địa bàn.
Trong số những người lính trên chốt hôm ấy, tôi nhớ nhất chiến sĩ Lò Văn Duy, chàng trai dân tộc Lào quê ở Mường Và, Sốp Cộp. Duy có dáng người rắn chắc, nước da sạm nâu vì nắng gió. Mỗi lần cười, gương mặt cậu như bừng sáng. Cậu nói chậm, mộc mạc, câu nào cũng mở đầu bằng tiếng “dạ”.
Tôi hỏi:
- Quê em ở đâu?
Duy cười:
- Dạ. Nhà cháu ở Mường Và, chú ạ.
Tôi lại hỏi:
- Đi lâu thế này có nhớ nhà, nhớ người yêu không?
Duy đưa mắt về dãy núi mờ phía sau chốt:
- Nhớ chứ chú. Nhưng ở xa thế này cũng để xem người yêu còn thương mình thật lòng không...
Cả căn nhà bật lên tiếng cười.
Chiều muộn, sương từ các triền núi đổ xuống trắng đặc lối đi, chỉ cách vài mét đã không còn nhìn rõ mặt người. Chúng tôi ở lại dùng bữa cơm tối với anh em. Dưới quầng sáng nhỏ của ngọn đèn năng lượng mặt trời, mâm cơm chỉ có rau rừng xào tỏi, mấy con chuột núi vừa bẫy được nướng thơm lừng, bát canh cá nấu với lõi cây chuối thái nhỏ và bát muối giã ớt.
Mấy chàng lính trẻ rôm rả mời khách. Tiếng cười nối nhau trong căn nhà nhỏ.
Đêm đã khuya, chúng tôi trở về đồn. Suốt quãng đường xuống núi, trong tôi vẫn hiện lên căn chốt nhỏ nép dưới vách ta luy, quầng sáng vàng dưới ngọn đèn năng lượng, mâm cơm tối đạm bạc và những gương mặt rất trẻ của những người lính biên phòng. Nụ cười của Duy cứ theo tôi mãi.
Mấy hôm sau, cơm tối xong, tôi đi một vòng quanh sân đồn mà chẳng thấy anh em đâu. Hỏi ra mới biết, theo tin trinh sát, một đường dây vận chuyển ma túy sẽ đưa hàng từ bên kia biên giới vào nội địa trong đêm. Phần lớn cán bộ, chiến sĩ đã bí mật chia thành nhiều tổ lên đường làm nhiệm vụ.
Đêm ấy, mưa lất phất. Tôi nằm mãi mà không sao chợp mắt.
Gần sáng, có tiếng xe máy dừng trước sân đồn. Anh em đã trở về. Quần áo ai cũng lấm lem bùn đất, gương mặt hốc hác sau đêm thức trắng. Hai đối tượng vận chuyển ma túy cùng toàn bộ tang vật đã bị bắt giữ. Chẳng ai nhắc nhiều đến cuộc truy bắt vừa qua. Đèn phòng làm việc lại sáng. Các cán bộ bắt đầu lấy lời khai, hoàn tất những thủ tục ban đầu của vụ án. Những chiến sĩ trực tiếp tham gia mật phục chỉ kịp tắm gội qua loa, ăn vội bữa sáng rồi lại trở về với công việc thường ngày…
Đầu tháng 7/2026, sau gần ba năm, tôi trở lại Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương và có dịp trò chuyện với Thượng tá Bàn Tiến Vĩnh, Đồn trưởng. Trên bàn làm việc của anh vẫn là tấm bản đồ tuyến biên giới với những nét bút đỏ ngoằn ngoèo nối các chốt và những tuyến đường tuần tra chạy dọc theo sườn núi.
Chỉ tay lên tấm bản đồ, anh cho biết đơn vị hiện quản lí gần 26km đường biên giới, 14 cột mốc quốc giới và Cửa khẩu quốc tế Chiềng Khương, tiếp giáp với huyện Mường Ét, tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào. Ngoài nhiệm vụ quản lí, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ gìn an ninh biên giới và cửa khẩu, cán bộ, chiến sĩ của đồn còn thường xuyên phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tuyên truyền pháp luật, giúp nhân dân phát triển kinh tế, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, đấu tranh với các loại tội phạm và xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh.
Nghe anh nói, tôi lại nhớ căn chốt nhỏ ở Liên Hồng, nhớ đến Duy, nhớ những người lính vừa trở về sau một đêm mật phục, quần áo còn lấm đầy bùn đất. Trên tấm bản đồ trước mặt, những nét bút đỏ ngoằn ngoèo dường như không còn là những kí hiệu khô cứng. Tôi hình dung đó là những cung đường mà ngày này qua ngày khác, những người lính biên phòng vẫn lặng lẽ đi qua.
2.
Ngày thứ ba ở Chiềng Khương lần này, tôi lên thắp hương tại Đài tưởng niệm các liệt sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La trong khuôn viên đồn. Trên những tấm bia đá hoa cương đen bóng là tên tuổi của 53 liệt sĩ đã hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Sau khi thắp hương, tôi lặng lẽ lần theo từng dòng chữ trên bia.
Trước đó, tôi vẫn nghĩ Sơn La chỉ có đường biên giới với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào nên bộ đội biên phòng của tỉnh chủ yếu chiến đấu và hi sinh trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào hoặc ở các tỉnh Tây Bắc. Vì thế, khi thấy trên hai tấm bia tưởng niệm có tới 17 liệt sĩ hi sinh tại chiến trường miền Nam, trong đó 16 người ngã xuống trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam những năm 1977-1978, tôi thực sự bất ngờ. Đọc kĩ hơn, tôi giật mình nhận ra chỉ riêng tháng 2/1978 đã có bốn liệt sĩ quê Sơn La hi sinh tại tỉnh Sông Bé, đó là các anh: Hà Duy Báu, Cà Văn Phúc, Nguyễn Văn Đức và Tòng Văn Ộng.
Những cái tên ấy lập tức gợi tôi nhớ đến trận chiến đấu quyết tử của Đồn Công an nhân dân vũ trang Hoa Lư năm 1978 mà tôi từng nhắc đến trong cuốn Rừng khộp mùa thay lá của mình. Có phải các anh đã chiến đấu và hi sinh trong trận đánh ấy?
Suy nghĩ ấy cứ day dứt, kéo tôi ngược về kí ức của gần nửa thế kỉ trước.
Tháng 8/1978, tôi lên đường nhập ngũ. Sau mấy tháng huấn luyện ở Phủ Lý, chúng tôi lên tàu vào Nam rồi sang Campuchia đúng vào thời điểm cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam bước vào giai đoạn ác liệt nhất. Đoàn tân binh Hà Nội chúng tôi là một trong những đơn vị được tăng cường cho Quân khu 7 trước khi chiến dịch mở màn. Đầu tháng 12/1978, đoàn xe chở chúng tôi từ Đồng Nai theo Quốc lộ 13 hướng về cửa khẩu Hoa Lư. Đến nơi, cảnh tượng hiện ra thật khẩn trương. Bộ đội, thanh niên xung phong đi lại như mắc cửi. Xe tăng, xe kéo pháo nối dài trên những con đường đất đỏ. Những kho súng, kho đạn phủ bạt kín mít nằm sát ven đường. Hỏi chuyện những người lính đi trước, chúng tôi mới biết chỉ mấy tháng trước, chính tại nơi này đã diễn ra trận chiến đấu quyết liệt của Đồn Công an nhân dân vũ trang Hoa Lư. Các chiến sĩ trong đồn đánh lui nhiều đợt tiến công của quân Pol Pot. Nhưng trước lực lượng áp đảo, đơn vị buộc phải mở đường máu rút lui. Trên đường rút, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hi sinh…
Gần nửa thế kỉ trôi qua, câu chuyện về trận đánh ấy cũng lùi dần vào kí ức. Bởi ngay sau đó, chúng tôi bị cuốn vào cuộc chiến trên đất Campuchia. Những địa danh Kratie, Sisophon, Kh’vao, Battambang, Pailin... những bãi mìn, những cơn sốt rét ác tính, bệnh đái huyết sắc tố, những cơn đói, cơn khát giữa rừng biên giới Campuchia - Thái Lan đã lấy đi sinh mạng của biết bao đồng chí, đồng đội của tôi cho đến hôm nay...
Rời đài tưởng niệm liệt sĩ ở Chiềng Khương, tôi vẫn bị ám ảnh bởi những cái tên trên bia đá. Trong số những liệt sĩ trên tấm bia ấy, liệu có ai đã chiến đấu trong trận Hoa Lư mà tôi từng nghe kể gần nửa thế kỉ trước?
Tôi bắt đầu lần tìm trong sách báo, tài liệu về lịch sử Bộ đội Biên phòng và cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Rồi một ngày, tôi đọc được bài Bất khuất Hoa Lư trong loạt bài Những tượng đài bất tử trên biên giới đăng trên báo Biên phòng năm 2023. Bài báo tái hiện trận chiến đấu ngày 28/2/1978, khi 33 cán bộ, chiến sĩ Đồn Công an nhân dân vũ trang Hoa Lư anh dũng hi sinh trong lúc bảo vệ chủ quyền biên giới.
Nhưng điều khiến tôi dừng lại lâu nhất lại là một chi tiết khác: “Bộ phận mở đường do Đồn trưởng Nguyễn Văn Vải và Đồn phó Ngô Văn Hát chỉ huy. Bộ phận thứ hai do Chính trị viên Hoàng Yển và Chính trị viên phó Cà Văn Phúc phụ trách...”
Tôi đọc đi đọc lại mấy dòng ấy và những dòng viết về Thượng sĩ, Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Đức, quê ở Yên Châu, tỉnh Sơn La: “Biết mình không qua khỏi, anh vẫn dặn đồng đội nếu trở về được hãy báo với đơn vị rằng mình đã hoàn thành nhiệm vụ, quyết không để bị giặc bắt...”
Tôi lặng người.
Linh cảm bấy lâu của tôi đã đúng. Trong trận chiến đấu ở Hoa Lư năm ấy có những người lính biên phòng quê Sơn La.
Nhưng câu thông tin ấy lại mở ra những câu hỏi khác. Ngoài Cà Văn Phúc và Nguyễn Văn Đức còn có những ai? Vì sao những người lính biên phòng Sơn La lại có mặt ở Sông Bé trong những năm tháng ấy? Trong số họ, có ai đang còn sống?
3.
Trở về thành phố Sơn La, tôi mang những câu hỏi ấy đi gặp những người lính cùng thời nhưng vẫn chưa tìm được câu trả lời.
Một hôm, tôi đưa xe đi thay dầu ở cửa hàng của anh Nguyễn Quốc Trung, nguyên cán bộ quân lực Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Sơn La, người từng công tác cùng với tôi. Nghe tôi kể về những điều còn băn khoăn, anh Trung nói ngay:
- Ồ, có thằng Khánh. Ngày xưa nó là lính biên phòng, đánh nhau ở biên giới Tây Nam đấy.
Tôi hỏi:
- Khánh nào?
Anh đưa tay chỉ về phía ngã tư:
- Cao Xuân Khánh. Nhà ngay bên kia ngã tư Cầu Trắng, đường vào Quảng trường ấy. Đi, tôi đưa ông đến gặp nó.
Thế là thay dầu xe xong, anh chạy xe máy phía trước, tôi lái ô tô theo sau.
Cái tên Cao Xuân Khánh khi ấy với tôi hoàn toàn xa lạ. Suốt quãng đường, tôi cứ nghĩ mình sắp gặp một người chưa từng quen biết.
Vừa bước vào nhà, một người đàn ông tóc đã bạc gần hết từ trong đi ra đón khách. Anh có dáng người đậm, chắc, nước da sạm nắng và gương mặt từng trải. Chỉ sau vài câu chuyện, cả hai chúng tôi đều ngạc nhiên khi biết hóa ra đã từng gặp nhau từ những năm cùng công tác ở các cơ quan của tỉnh. Chị Triển, vợ anh, lại là đồng nghiệp cũ của tôi. Thế là mọi khoảng cách dường như tan biến. Chúng tôi nhắc lại những đồng nghiệp một thời, người đã nghỉ hưu, người chuyển công tác, người đã đi xa, rồi câu chuyện tự nhiên xoay sang chuyện gia đình.
Tôi hỏi:
- Anh chị được mấy cháu?
Anh Khánh cười:
- Vợ chồng tôi có hai cháu, một trai một gái. Chúng nó đều đã có công ăn việc làm, dựng vợ gả chồng cả rồi. Thằng lớn tên Dũng cũng là bộ đội biên phòng, giờ công tác tận Lai Châu, chú ạ.
Nghe anh nói, tôi bỗng thấy lòng mình ấm lại. Gần nửa thế kỉ trước, người chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang Cao Xuân Khánh rời Đồn Mường Lèo lên đường vào chiến trường biên giới Tây Nam. Hôm nay, con trai anh lại tiếp tục khoác màu áo biên phòng trên biên giới Lai Châu. Hai thế hệ, hai chặng đường khác nhau, nhưng vẫn cùng một màu áo, cùng một nhiệm vụ giữ gìn biên cương Tổ quốc.
Câu chuyện đang rôm rả bỗng chùng xuống khi tôi nhắc đến trận chiến đấu ở Đồn Hoa Lư năm 1978.
Tôi hỏi anh:
- Anh còn nhớ trận đánh hôm ấy không?
Anh Khánh im lặng một lúc rồi chậm rãi nói:
- Nhớ chứ. Sao quên được chú... Đêm 27/2/1978, tôi trực trên đài quan sát. Qua ống nhòm, tôi thấy quân Pol Pot đang khẩn trương đào hầm hào, bao vây đồn từ ba phía. Biết chắc chúng sắp đánh lớn, tôi báo cáo ngay với Đồn trưởng Nguyễn Văn Vải.
Anh dừng lại, nhấp một ngụm trà rồi kể tiếp:
Ban chỉ huy báo cáo tình hình lên cấp trên. Nhận thấy nếu để địch hoàn thành hệ thống hầm hào thì việc giữ đồn sẽ rất khó khăn, anh Vải họp rất nhanh rồi quyết định nổ súng trước. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Địch liên tục đưa quân áp sát, mở nhiều đợt tiến công. Anh em bám công sự đánh trả hết sức dũng cảm. Đến khoảng bốn giờ chiều ngày 28, đạn gần cạn, lương thực, nước uống cũng không còn, trong khi lực lượng tăng viện không thể vào được. Cấp trên buộc phải ra lệnh cho đồn mở đường máu rút lui để bảo toàn lực lượng.
Anh nhìn chén trà trước mặt, giọng chùng hẳn:
- Tôi cùng ba đồng đội đi theo một hướng. Ra khỏi đồn không lâu thì lạc trong rừng Lộc Tấn. Sáu ngày sau mới tìm được đường về đơn vị...
Anh lặng đi một lúc rồi nói tiếp:
- Khi địch rút, anh em quay lại làm công tác thương binh, liệt sĩ. Họ tìm thấy một thi thể đã trương phình, không còn nhận dạng được nữa nên tưởng là tôi. Đồng đội đưa về mai táng trong nghĩa trang của đồn, trên mộ cắm một tấm biển gỗ ghi tên Cao Xuân Khánh...
Anh ngừng lời. Lúc lâu sau, anh mới nói tiếp, giọng rất nhỏ:
- Ngày trở về đơn vị, tôi ra nghĩa trang. Đứng trước ngôi mộ mang tên mình, tôi chết lặng. Người nằm dưới nấm mộ ấy là một đồng đội khác. Còn tôi... coi như được sống thêm một lần nữa...
4.
Cuộc gặp với anh Khánh hôm ấy đã giúp tôi giải đáp nhiều điều vẫn day dứt bấy lâu. Qua anh, tôi mới biết từ năm 1975 đến năm 1977, thực hiện chủ trương của Bộ Nội vụ, lực lượng Công an nhân dân vũ trang Sơn La đã hai lần điều động hàng trăm cán bộ, chiến sĩ vào tăng cường cho tuyến biên giới Tây Nam. Anh Khánh, khi ấy là chiến sĩ Đồn Mường Lèo, có mặt trong đoàn quân lên đường đợt đầu tiên.
Đoàn hành quân bằng ô tô từ Sơn La vào Nam. Tốc độ tiến công như vũ bão của quân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 khiến đoàn xe đi đến đâu thì nơi ấy vừa được giải phóng. Khi đến miền Đông Nam Bộ, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Ngay sau đó, các anh được điều động về nhận nhiệm vụ tại các đơn vị Công an nhân dân vũ trang trên tuyến biên giới Tây Nam. Trong số ấy, anh Khánh cùng các anh Ngô Văn Hát, Tòng Văn Ộng, Nguyễn Văn Đức, Cà Văn Phúc và Hà Duy Báu được phân công về tỉnh Sông Bé. Những người khác về Đắk Lắk, An Giang, Tây Ninh.
Qua lời kể của anh Khánh và những tư liệu sưu tầm được, bức tranh về trận chiến đấu ở Đồn Hoa Lư ngày 28/2/1978 hiện lên rõ hơn. Trong trận chiến đấu không cân sức ấy, ta tiêu diệt một trăm linh bảy tên địch. Vể phía ta, ba mươi ba cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hi sinh. Nhiều người ngã xuống trên đường cùng đồng đội mở đường máu thoát khỏi vòng vây của địch.
Trong số những người lính ấy có những người con của Sơn La. Người nằm lại chiến trường. Người mang thương tích suốt đời. Người lạc giữa rừng nhiều ngày mới trở về đơn vị. Mỗi người một số phận nhưng họ đều đã đi qua trận chiến ấy bằng tất cả lòng quả cảm của người lính biên phòng.
Để tiếp tục kiểm chứng những tư liệu đã thu thập được, tôi liên hệ với Hội Cựu chiến binh và Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Phước, nhờ hỗ trợ, chụp lại tấm bia ghi danh liệt sĩ tại Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Hoa Lư để đối chiếu với bia tưởng niệm các liệt sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La ở Chiềng Khương.
Nhận được đề nghị của tôi, anh Trương Văn Thi, Chánh Văn phòng Hội Cựu chiến binh tỉnh Bình Phước, đã nhiệt tình giúp đỡ. Chỉ một ngày sau, những bức ảnh chụp tấm bia ghi danh liệt sĩ ở Hoa Lư đã được anh gửi ra Sơn La.
Tôi đặt những bức ảnh cạnh nhau, lặng lẽ dò từng dòng chữ, từng họ tên, năm sinh, ngày hi sinh. Kết quả đối chiếu cho thấy bốn người lính biên phòng quê Sơn La đã anh dũng hi sinh trong trận đánh ở Hoa Lư, đó là các anh Hà Duy Báu, Cà Văn Phúc, Nguyễn Văn Đức và Tòng Văn Ộng.
Hai anh Ngô Văn Hát và Cao Xuân Khánh may mắn trở về. Anh Ngô Văn Hát, quê Chiềng Khương, sau này trở về công tác trong lực lượng Bộ đội Biên phòng Sơn La, từng giữ cương vị Đồn trưởng Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương trước khi nghỉ hưu. Anh mất năm 2023.

Đài Liệt sĩ Bộ đội Biên phòng Sơn La tại Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương.
Nhưng việc đối chiếu tư liệu cũng mang đến cho tôi một phát hiện khác. Trên bia ghi danh liệt sĩ ở Hoa Lư, tên liệt sĩ Hà Duy Báu được khắc thành Hà Huy Báu; liệt sĩ Tòng Văn Ộng lại được ghi là Tòng Văn Ong. Ngày hi sinh của hai liệt sĩ Tòng Văn Ộng và Nguyễn Văn Đức trên bia tưởng niệm ở Chiềng Khương cũng không trùng với chiến lệ và các tài liệu về trận đánh. Riêng chức vụ của liệt sĩ Cà Văn Phúc cũng được ghi khác nhau giữa hai nơi.
Tôi nhìn đi nhìn lại những dòng chữ trên hai tấm bia. Chỉ vài con chữ khác nhau, vài ngày tháng không trùng khớp. Nhưng với những người đã ngã xuống, những sai lệch ấy không phải là vô tri. Mỗi cái tên là một con người. Ngày hi sinh là dấu mốc cuối cùng của một cuộc đời. Nghĩ đến điều đó, tôi càng thấy việc trả lại sự chính xác cho những tấm bia kia không chỉ là công việc của những người làm lịch sử, mà còn là một cách để những người hôm nay bày tỏ lòng biết ơn với những người đã nằm xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
5.
Sau khi những tư liệu về trận Hoa Lư dần được sáng tỏ, tôi ngỡ mình đã đi đến cuối câu chuyện. Nhưng rồi một cuộc gặp khác lại giúp tôi hiểu rằng, có những điều quan trọng không nằm trong những trang hồ sơ hay những tấm bia đá. Bởi ít hôm sau cuộc gặp, bất chợt anh Khánh gọi điện cho tôi:
- Dũng nó về phép đấy chú. Chú rảnh thì qua nhà chơi.
Tôi đến nhà anh. Thấy tôi bước vào, anh đứng dậy bắt tay rồi quay vào trong gọi lớn:
- Dũng ơi, chú Điền đến rồi con.
Từ phòng trong, một chàng trai mặc quân phục bước ra chào khách. Nước da rám nắng, dáng người rắn rỏi và cái bắt tay chắc khỏe khiến tôi nhớ đến những người lính biên phòng ở Chiềng Khương. Dũng nói năng mộc mạc, cởi mở. Chỉ ít phút, khoảng cách giữa tôi và cháu đã không còn nữa.
Dũng kéo ghế ngồi cạnh bố. Đúng lúc ấy, chị Triển từ dưới bếp đi lên, đặt ấm trà và đĩa hoa quả xuống bàn rồi cười:
- Các anh nói chuyện nhé, em vừa pha ấm trà mới.
Bên ấm trà nóng, Dũng kể cho tôi nghe về cuộc sống của người lính biên phòng hôm nay.
- Ở nơi chúng cháu đóng quân, đồng bào coi bộ đội biên phòng như người nhà ấy chú ạ. Có việc gì khó khăn hay phức tạp là bà con lại tìm đến đồn trước tiên...
Dũng kể chuyện rất tự nhiên. Khi thì cùng đồng đội cáng sản phụ vượt dốc xuống trạm y tế giữa đêm. Khi thì đưa người bệnh xuống bệnh viện huyện. Mùa mưa lũ lại giúp dân di dời khỏi vùng nguy hiểm. Có hôm xuống bản vận động bà con bỏ dần những hủ tục trong cưới xin, ma chay, xây dựng nếp sống mới. Ở nhiều nơi, những người lính biên phòng còn trở thành những thầy giáo quân hàm xanh, dạy từng con chữ cho trẻ em vùng cao.
Dũng cười rồi nói:
- Nhiều khi xuống bản, bà con cứ giữ chúng cháu ở lại ăn cơm. Thấy mình đến là họ mừng. Được bà con tin và quý thì mọi vất vả cũng nhẹ đi nhiều, chú ạ.
Nghe Dũng kể, tôi chợt nhận ra người lính biên phòng hôm nay và thế hệ của anh Khánh năm xưa tuy ở hai thời khác nhau nhưng dường như vẫn đang đi trên cùng một con đường. Ngày trước, anh Khánh cùng đồng đội cầm súng giữ biên cương giữa khói lửa chiến tranh. Hôm nay, Dũng và những người lính trẻ lại lặng lẽ gìn giữ từng đường biên, cột mốc, giúp dân, bám bản và đối mặt với những hiểm nguy không tiếng súng.
Tôi quay sang anh Khánh. Suốt câu chuyện, anh hầu như không nói gì, chỉ lặng lẽ ngồi nghe con trai kể, thỉnh thoảng lại mỉm cười. Trong ánh mắt người lính già, tôi thấy thấp thoáng niềm tự hào. Có lẽ anh hiểu hơn ai hết rằng con đường mình từng đi năm nào vẫn có những người tiếp bước.
Tôi hỏi Dũng:
- Cháu có thường nghe bố kể về trận Hoa Lư không?
Dũng khẽ lắc đầu.
- Không chú ạ. Bố cháu ít kể lắm. Chỉ những hôm các bác, các chú là đồng đội cũ đến chơi, mọi người mới ngồi nhắc chuyện ngày xưa. Nghe các bác kể, cháu mới biết nhiều đồng đội của bố đã nằm lại ở biên giới Tây Nam.
Nói rồi, Dũng nhìn sang bố. Anh Khánh vẫn lặng im. Một lúc sau, anh mới chậm rãi nâng chén trà, nhấp một ngụm. Trong căn phòng nhỏ, chỉ còn tiếng nước trong ấm sôi lục bục và hương trà mới thoảng nhẹ.
Đúng lúc ấy, một cậu bé chừng bốn, năm tuổi từ trong nhà chạy vụt ra, ôm chặt lấy chân anh Khánh rồi tò mò nhìn vị khách lạ. Gương mặt vốn nhiều suy tư của anh bỗng giãn hẳn. Anh cúi xuống bế cháu lên, cười hiền: Đít nhôm của ông đây. Thằng bé dụi đầu vào vai ông, lí nhí chào khách rồi cười khanh khách. Bất chợt, tôi nhớ đến ngôi mộ mang tên Cao Xuân Khánh ở Hoa Lư năm nào. Nếu người nằm trong ngôi mộ ấy là anh, sẽ không có buổi chiều bình yên này. Sẽ không có người lính trẻ đang ngồi trước mặt tôi. Và cũng sẽ không có tiếng cười trong veo của đứa bé vang lên giữa một buổi chiều yên bình ở thành phố Sơn La.
6.
Vẫn còn một điều khiến tôi trăn trở, đó là liệt sĩ Tòng Văn Ộng.
Càng đối chiếu tư liệu, tôi càng nhận ra hồ sơ của anh là trường hợp có nhiều sai lệch nhất. Từ họ tên, ngày hi sinh đến một số thông tin trên các bia tưởng niệm và trong những nguồn tư liệu khác nhau đều chưa thống nhất. Theo chỉ dẫn của anh Cao Xuân Khánh, tôi tìm đến bản Hip, xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La (nay thuộc phường Tô Hiệu, tỉnh Sơn La), nơi gia đình liệt sĩ đang sinh sống. Mẹ anh đã mất từ lâu. Cụ Tòng Văn Xí, bố anh, năm nay chín mươi sáu tuổi. Cụ có dáng người đậm, chắc, mái tóc bạc trắng. Đôi mắt đã mờ theo năm tháng nhưng giọng nói vẫn sang sảng. Nhắc đến người con cả, cụ vẫn nhớ rành rọt từng chuyện.
Hôm tôi đến, chẳng ai trong gia đình biết tôi là ai và đến vì việc gì. Nghe tôi kể về hành trình đi tìm những người lính biên phòng Sơn La đã hi sinh ở Hoa Lư, mọi người đều vui vẻ tiếp chuyện. Người em dâu của anh Ộng kể rằng anh từng học Trung học Sư phạm rồi trở về dạy học ở địa phương. Năm 1974, anh tình nguyện nhập ngũ, trở thành chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang. Sau đó, anh cùng đồng đội lên đường vào Nam chiến đấu và hi sinh tại Hoa Lư. Khoảng mười năm trước, gia đình đã đưa hài cốt anh từ Bình Phước về an táng tại nghĩa trang của bản.
Trước khi ra về, tôi xin phép lên thắp cho anh một nén hương. Cụ Xí chậm rãi bước lên cầu thang, tôi theo sau.
Trên bàn thờ, di ảnh liệt sĩ Tòng Văn Ộng được đặt ở vị trí trang trọng. Trong ảnh, anh mặc quân phục Công an nhân dân vũ trang. Gương mặt hiền và thư sinh vẫn còn nguyên dáng dấp của một thầy giáo trẻ.
Dưới di ảnh, ngày hi sinh của anh được ghi là 10/2/1978. Trong khi đối chiếu với hồ sơ trận đánh ở Hoa Lư và danh sách liệt sĩ tại Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Hoa Lư, tôi biết anh đã hi sinh ngày 28/2/1978.
Tôi trao lại toàn bộ những tư liệu mình sưu tầm được để gia đình có thêm căn cứ đối chiếu và, nếu cần, kiến nghị các cơ quan chức năng xem xét điều chỉnh thông tin về anh cho thống nhất.
Kể từ đó, mỗi dịp tết hoặc những lần có việc đi ngang qua bản Hip, tôi lại ghé thăm cụ Xí, mừng tuổi cụ và thắp cho anh Tòng Văn Ộng một nén hương…
Lời kết
Tôi đến Chiềng Khương chỉ với mong muốn tìm một câu chuyện về người lính biên phòng. Nhưng càng đi, càng gặp, càng lần theo những dấu vết còn sót lại của chiến tranh, tôi càng nhận ra câu chuyện ấy đã được bắt đầu từ rất lâu, trước cả ngày tôi đặt chân đến vùng biên này. Nó được viết bằng sự hi sinh của những người lính đã nằm lại ở Hoa Lư, ở An Giang, ở Đắk Lắk... rồi lặng lẽ nối dài qua những thế hệ người lính tiếp bước nơi biên cương.
Khi mà sau chiến tranh, những người lính còn sống trở về vẫn thường nói với nhau rằng: mình chỉ là những người may mắn hơn đồng đội, như những hạt gạo còn sót lại trên sàng. Có lẽ vì thế mà chúng tôi luôn mang trong lòng một phần kí ức của những người đã nằm lại.
Cũng vì thế mà hôm nay, trên những cung đường tuần tra dọc biên giới, trong những căn chốt heo hút giữa đại ngàn hay những bản làng xa xôi, những người lính biên phòng vẫn lặng lẽ tiếp bước cha anh. Họ không chỉ gìn giữ từng đường biên, cột mốc, mà còn gìn giữ sự bình yên của mỗi mái nhà, để tiếng cười trẻ thơ vẫn hồn nhiên vang lên nơi miền biên viễn.
Và có lẽ, với những người đã đi qua chiến tranh như chúng tôi, đó cũng là cách thiết thực nhất để tri ân những đồng đội đã nằm lại: kể đúng câu chuyện của họ, gọi đúng tên họ và tiếp tục gìn giữ sự bình yên mà họ đã đánh đổi cả tuổi xuân, thậm chí cả cuộc đời mình để bảo vệ.
N.V.Đ