Dẫu vẫn biết sự hi sinh nào cũng là nỗi đau đớn khôn nguôi cho người ở lại nhưng sự ra đi của người lính Cụ Hồ trong giây phút chiến thắng cuối cùng cận kề vẫn là một điều gì đó làm lòng người đắng nghẹn...(TÂM ANH)
.TÂM ANH
Ngày 30 tháng 4 nói riêng và những ngày tháng tư năm 1975 nói chung là những khoảng thời gian không thể nào quên của đất nước, dân tộc. Đó là ngày hội thống nhất non sông sau 30 năm dài đằng đẵng người dân hai miền phải sống trong cảnh “ngày Bắc, đêm Nam”. Và những ngày ấy đã đi vào văn học, nghệ thuật trong suốt hơn nửa thế kỉ qua như một lẽ tự nhiên của nhiều thế hệ nghệ sĩ nói chung và các thế hệ nhà văn - chiến sĩ như một lẽ tự nhiên nhất.

Trong Thơ hóa ở nghĩa trang, nhà văn Nguyễn Trọng Luân - một người lính của Sư đoàn 320 đã từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và có mặt ở Sài Gòn trong thời khắc chiếc tăng 390 huyền thoại húc đổ cửa dinh Độc lập, những ngày tháng 4 lịch sử là ngày tưởng niệm các đồng đội đã không may ngã xuống. Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh nghĩa trang Củ Chi, nơi nằm lại của những người lính Cụ Hồ đã “đem thanh xuân gieo tự do cho đất nước”: Tôi mang bài thơ mới được in/ Vào nghĩa trang Củ Chi/ Tạp chí Văn nghệ Quân đội còn thơm mùi giấy/ Đặt bên những tên người đã hóa mùi hương/ Giữa những hàng bia lặng thinh. Đứng trước những nấm mộ của đồng đội, thời gian như quay ngược trở lại với tác giả, kí ức của trận chiến năm xưa chợt hiện về. Nhà văn Nguyễn Trọng Luân đã rất tinh tế khi chọn mốc thời gian là ngày 29 tháng 4: Câu thơ cúi đầu/ Bài thơ về trận đánh/ Sáng ngày 29 tháng tư. Bằng việc lùi thời gian lại một ngày trước ngưỡng cửa của chiến thắng, của hòa bình và hạnh phúc, câu thơ khiến người đọc càng thấy xót xa, ngậm ngùi cho những người lính đã hi sinh trong thời khắc ấy. Những ngày cuối tháng tư lịch sử năm 1975 bên cạnh niềm vui chiến thắng còn là nỗi đau, nỗi tiếc thương vô bờ không gì diễn tả nổi. Dẫu vẫn biết sự hi sinh nào cũng là nỗi đau đớn khôn nguôi cho người ở lại nhưng sự ra đi của người lính Cụ Hồ trong giây phút chiến thắng cuối cùng cận kề vẫn là một điều gì đó làm lòng người đắng nghẹn. Đến khổ thơ tiếp theo, không gian thơ được mở rộng hơn, vươn tới tận trung tâm thành phố. Yếu tố huyền ảo được sử dụng làm không gian trở nên thiêng liêng, tạo ra cuộc gặp gỡ giữa âm và dương, giữa những người đồng đội với nhau: Cuốn sách bùng lên ngọn lửa/ Bên bờ sông Sài Gòn/ Nghĩa trang có rất nhiều cây cổ thụ/ Dào dạt tiếng ve/ Ngan ngát gió Củ Chi/ Tàn tro bay về phía thành phố. Để rồi sau giây phút ấy, tác giả thấy lòng mình nhẹ nhõm, thanh thản vì đã trọn tình vẹn nghĩa với đồng đội: Có lẽ các anh ấy đã nhận được rồi/ Bài thơ đăng Tạp chí Văn nghệ Quân đội/ Viết tiếp từ sự sống/ Cho những người đã hi sinh... Khổ kết của bài thơ chính là lời khẳng định về tình đồng chí, đồng đội cao cả, về đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung.
Là nhà thơ trẻ thuộc thế hệ 9X, sinh ra và lớn lên trong thời bình, trưởng thành trong quân ngũ, Thượng úy Nguyễn Thị Kim Nhung - cũng như phần lớn người cầm bút cùng thời với mình - khát khao, nỗ lực có một cách thể hiện mới về những người lính đi trước và những ngày chiến thắng của dân tộc. Cũng sử dụng yếu tố tâm linh để khắc họa như nhà văn Nguyễn Trọng Luân nhưng trong Thức cùng tưởng tượng, chúng ta bắt gặp một hình dung khác về người lính và những ngày tháng tư huyền thoại. Ở bài thơ này, tác giả đã dựng nên hai thi ảnh người lính với những sắc màu khác nhau. Đó là những người lính trở về từ cỏ “mãi mãi tuổi hai mươi” được gợi lên với vẻ đẹp ngây thơ, hồn nhiên. Họ không chỉ một lần cùng thức cho cạn đêm nay để tìm về tuổi thiếu thời rộn rã tiếng cười cùng tiếng dế mèn, tiếng chim ri, với con thằn lằn bò ngoằn ngoèo và mùi cỏ ngái: dấu ngụy trang tắm táp vội làm gì/ ta thèm một vết chim ri trên/ da anh ấu thơ cựa thức/ Ta mơ giấc Thằn Lằn đuổi bắt/ tiếng cười lặn vào lòng đất/ dưới ngực anh ngái vị đồng quê/ mùa về trong trí nhớ, tìm về với giấc mơ về hạnh phúc còn dang dở: Dưới trăng non anh đi tìm một nửa/ không gặp em chỉ gặp tiếng dế mèn/ nụ hôn vội đặt lên môi cỏ sắc. Ở chiều ngược lại, đó là hình ảnh của người lính già mang trong mình nỗi ám ảnh khôn nguôi về một thời bom đạn chiến trường: nghe đạn bom vừa chợt thức/ thêm một lần chôn cất tuổi xanh/ cuối rừng thông sấm đã đầu mùa. Có thể thấy, cả hai thi ảnh người lính một âm - một dương; một già - một trẻ; một hồn nhiên tươi trẻ - một ám ảnh đều kín đáo gợi nên những vết thương sâu mà chiến tranh mang lại cho con người như lời nhận định đắng chát của Benjamin Franklin: “Chiến tranh không được trả giá trong thời chiến. Hóa đơn sẽ đến sau đó”. Bút pháp đối lập ấy vẫn được Nguyễn Thị Kim Nhung sử dụng khi nhìn lại tháng tư lịch sử. Tác giả đã đặt ra một sự tương phản đầy suy ngẫm. Một bên là sự hồn nhiên, ngây thơ coi chiến tranh như một trò chơi của đứa trẻ sinh ra trong thời bình với ảo mộng “khoác áo anh hùng” với một bên là sự hi sinh thầm lặng của người lính: Tháng tư ai còn ngồi kể/ đứa trẻ khoác áo anh hùng/ những trận bắn tưng bừng hình dung Đêm sốt ruột một vì sao lẻ/ những người lính lại lẫn vào cỏ/ cỏ xanh không cần tưởng tượng. Sự tương phản này vừa phản ánh “trái ngọt” mà hòa bình mang lại được vừa là lời nhắc nhớ về công tác giáo dục truyền thống, lịch sử cho những người trẻ tuổi để họ biết rằng những gì mình có hôm nay được vun trồng từ tuổi trẻ, xương máu của biết bao người lính và chiến tranh chưa cũng không bao giờ là “trò chơi tưng bừng”.
Qua hai bài thơ, hình ảnh người lính hiện lên với đầy đủ những cung bậc nhân bản nhất: họ biết yêu, biết đau, biết hi sinh và cuối cùng là hóa thân vào cỏ cây, sông núi. Và những ngày tháng tư lịch sử qua lăng kính của hai tác giả không chỉ là một ngày lễ hội mà là một ngày của sự thức tỉnh kí ức, nơi người sống cúi mình trước người đã khuất để viết tiếp bản trường ca về sự sống.
T.A