Thứ Sáu, 07/08/2026 07:05

Những hạt mầm trên đất Bentiu

Trực thăng chuẩn bị hạ cánh, quất lớp bụi cuộn lên mù mịt. Một màu gan gà nuốt trọn vạn vật. Từ trên nhìn xuống, sân bay Rubkona phơi mình trần trụi... (​Bút kí dự thi. LƯƠNG ĐÌNH KHOA)

. LƯƠNG ĐÌNH KHOA
 

Phạch... phạch... phạch… Cánh quạt trực thăng chém vào không khí, từng cuộn bụi đỏ quạch thốc ngược lên, nuốt chửng tầm nhìn. Nắng hập xuống. Bentiu (Nam Sudan) phơi mình trống hoác, rệu rã. Tiếng súng nổ đì đùng đằng xa giờ đã trở nên quen thuộc mỗi ngày.

Hà Nội đón hai anh em tôi bằng cái rét ngọt đầu tháng giêng năm 2026. Vẫn mang nguyên niềm rạo rực của chàng rể mới cưới hồi cuối tháng 12 năm ngoái, vừa thấy tôi, chàng sĩ quan trẻ Nguyễn Sỹ Công của Phòng Chính trị, Bệnh viện Quân y 103 nở nụ cười rạng rỡ. Chất giọng trầm ấm, đặc sệt âm sắc xứ Nghệ rổn rảng cả một góc quán cà phê nhỏ. Dường như cái nắng gió hanh hao của lục địa đen vẫn còn in hằn nơi đuôi mắt. Khoảnh khắc ấy, trông anh thật lạ lẫm giữa những cơn gió mùa đông bắc đang cào ngoài cửa kính. Mấy người bạn xứ Nghệ của tôi vẫn hay tếu táo rằng: dân quê mình sinh ra và lớn lên giữa ngọn gió Lào thổi rạc bờ tre, quen cái mặn mòi của cát trắng nên dẫu quăng quật ở đâu cũng bám rễ cắm sâu. Có lẽ chính cái nôi khắc nghiệt ấy đã nhào nặn nên một Sỹ Công lầm lì như tảng đá, kiên cường bám trụ giữa chảo lửa Bentiu. Nhiệm kì đầu tiên của Công gắn bó với Khoa khám bệnh, Bệnh viện dã chiến 2.4 từ tháng 4/2022 đến tháng 7/2023. Không lâu sau, anh lại tiếp tục lên đường cùng Bệnh viện dã chiến 2.6, từ tháng 9/2024 đến tháng 10/2025. Lần này, anh gánh cùng lúc hai vai: Tổ trưởng truyền thông và thành viên Đội cấp cứu đường không (AMET).

“Kho video cậu đăng trên YouTube kể về hành trình tại Nam Sudan, mình đã cày nhẵn rồi. Góc máy mộc mà cuốn quá!” Tôi mở lời. “Ôi, em lười dựng video dài lắm. Trên mạng người ta thấy bề nổi thôi anh. Gia tài thực sự của em nằm hết ở đây này!” - Công cười, dúi vào tay tôi chiếc ổ cứng nhỏ xíu, chỉ bằng cuốn sổ tay. Chiếc ổ cứng vừa kết nối, toàn bộ dữ liệu như một cuốn phim quay chậm. Những video clip sắp xếp ngay ngắn theo mốc thời gian thực sự là một cuốn nhật kí bằng hình, được chàng lính âm thầm ghi lại trong suốt hai nhiệm kì. Công để tôi trọn vẹn một giờ đồng hồ chìm đắm trong kho tư liệu ấy. “Anh cứ xem trước đi. Cái ngột ngạt, hanh hao của Nam Sudan... kể không hết được đâu, phải tự để nó ngấm qua màn hình đã. Khi đó, anh em mình mới bắt đầu câu chuyện được”.

Nguyễn Sỹ Công cùng lá quốc kì Việt Nam tại Nam Sudan

Nghi thức “nhập địa” nơi đất nghèo khốc liệt

Trực thăng chuẩn bị hạ cánh, quất lớp bụi cuộn lên mù mịt. Một màu gan gà nuốt trọn vạn vật. Từ trên nhìn xuống, sân bay Rubkona phơi mình trần trụi. Không nhà ga ốp kính, cũng chẳng có lấy một chiếc băng chuyền hành lí. Cái nóng hầm hập ngót nghét 50°C phả thẳng vào mặt ngay khi cửa máy bay vừa hé. Không khí quánh đặc như hồ dán, thít lấy cuống phổi. Một mớ hỗn độn khét lẹt vị cỏ cháy, nồng nực đất nung và cả cái thứ mùi ngai ngái, khăn khẳn bốc lên từ khu lán tị nạn.

Thượng úy Nguyễn Sỹ Công bước ra khỏi máy bay, sải bước dứt khoát, chắc nịch, thay cho dáng vẻ bỡ ngỡ của chàng lính trẻ ngày đầu tiên đặt chân đến Nam Sudan năm nào. Khẽ nheo mắt xuyên qua màn bụi đỏ rát mặt, người lính hít một hơi thật sâu, mỉm cười: “Chào Bentiu! Chú bộ đội Việt Nam lại “về nhà” rồi đây!”.

Lần trở lại này, trong ba lô của Công có thêm những “báu vật” chẳng giống ai. Xen giữa quân tư trang cùng vài gói mì tôm là hàng chục bánh xà phòng thơm hương xoài, hương dừa.., thứ anh tranh thủ gom vội lúc quá cảnh ở sân bay Thái Lan. Người dân bản địa từ lâu đã quen với mùi mồ hôi lưu cữu quyện lẫn bụi đỏ và sự vất vả mưu sinh. Giữa cái nồng nặc ấy, những cục xà phòng của Công bỗng trở thành một món quà nhỏ bé nhưng vô cùng quý giá.

Chiếc xe bọc thép mang huy hiệu UN lầm lũi tiến vào đón đoàn. Cánh cửa sắt đóng sầm lại, hơi nóng bị đẩy ra ngoài, những mảnh ghép kí ức cũ bất chợt ùa về.

Nhớ lần công tác trước, mỗi sáng thức dậy trong container, thứ đầu tiên xộc vào cuống họng Công là vị mặn chát của mồ hôi hòa cùng cơn khát khô cháy cổ. Nhiều đêm niêm mạc mũi ứa máu bởi độ ẩm tuột xuống mức thấp kỉ lục. Ban đầu, anh khá hoang mang. Nhưng rồi “đất nào nặn người nấy”. Nó như thứ nghi thức “nhập địa” khắc nghiệt ở chốn này.

Bữa chiều của lính mũ nồi xanh đôi khi có thêm những viên đậu phộng, Công thường nhịn phần mình để mang cho lũ trẻ. Đám nhỏ tranh nhau chí chóe. Có viên rớt thẳng xuống đất, chúng vẫn vồ lấy, chùi vội vào áo rồi tống thẳng vào miệng nhai ngấu nghiến.

Một lần, khi Công chìa chiếc bánh quy qua khe hở của hàng rào kẽm gai, bàn tay đen nhẻm của một cậu bé vồ lấy. Lạ là, thằng bé lập tức dùng sức bóp vụn chiếc bánh. Những vụn bánh lẫn lộn mồ hôi và bụi đỏ nhớp nháp trong lòng bàn tay. Công ngẩn người, vẻ khó hiểu. Chỉ đến khi bắt gặp những ánh mắt gằn lên sự thèm khát bản năng của những đứa trẻ xung quanh, anh mới lặng người nhận ra: Chiếc bánh lành lặn sẽ là mồi lửa cho cuộc giành giật, giẫm đạp nhau. Chỉ khi bị bóp vụn, chút đồ ăn ít ỏi ấy mới an toàn thuộc về một đứa trẻ tị nạn.

Chiều hôm sau, thấy anh ngang qua khu lán trại của người tị nạn, lũ trẻ lại lao ra, chìa những bàn tay nhỏ xíu. Nhìn quanh mãi không thấy cậu nhóc rách rưới hôm qua, Công chỉ tay về chỗ cậu bé từng đứng, ra dấu hỏi: “Where is he?”. Một đứa bé chừng 10 tuổi, vừa mút ngón tay vừa buông sõng một từ gọn lỏn: “Die” (Chết rồi).

Công điếng người. Ở Bentiu, cái chết lướt qua thản nhiên đến rợn gáy. Rắn cắn, sốt rét ác tính, hay đơn giản chỉ là đói. Muôn vàn cái cớ để tước đi một sinh mệnh. Quen đến mức, chẳng ai còn đủ sức mà khóc,

Nỗi nhớ đo bằng vạch sóng

Công tìm đến khu chợ Bentiu nằm trên một khoảng đất trống với vài sạp hàng quây tôn rách bươm. Thịt bò treo lủng lẳng trên móc gỉ sắt, nhặng xanh bâu đặc thành từng mảng. Chỉ một cú phất nhánh cây, lũ nhặng bay vù lên để lộ ra thớ thịt đỏ au. Vừa hạ tay xuống, lớp màng đen lập tức bu kín lại. Ở khu chợ tồi tàn này, 1kg thịt bò tươi giá chỉ chừng 4 USD - tương đương một trăm nghìn tiền Việt. Ấy vậy mà vài quả cà chua héo quắt lại mang giá trên trời, đúng nghĩa rau cỏ đắt đỏ hơn cả thịt thà. Quả thực, cái giá để duy trì sự sống ở đây đắt đỏ đến mức nghẹt thở.

Nam Sudan chỉ có mùa mưa và mùa khô. Mùa khô, hoàng hôn đỏ quạch, mùi đạn bom khét lẹt lửng lơ trên những bãi cỏ cháy trơ trọi. Còn mùa mưa, những túp lều tị nạn mỏng quẹt như nilon nát bị gió quần tơi tả. Bùn đất ở đây đen quánh kì quái, hễ mưa xuống là bê bết, bám rịt gót giày nặng trịch, bước một bước mất sức gấp ba. Đã có bận xe lầy, bùn ngập ngang hông - những người lính phải hụp xuống, lóp ngóp móc cáp, gân cổ đẩy xe giữa trời mưa xối xả.

Nhưng ngẫm lại, bom đạn hay cái nắng gắt chưa chắc đáng sợ bằng sự tĩnh lặng. Thứ im lặng đặc sệt, cứ thế nhẩn nha khoét sâu vào nỗi nhớ quê nhà, âm thầm thử thách sức chịu đựng của những người đàn ông xa xứ.

Sóng mạng ở đây mỏng, đứt đoạn như hơi thở người ốm, giá lại đắt đỏ đến gần hai triệu đồng mỗi tháng. Muốn nghe giọng nói quê nhà, Công phải thành “thợ săn sóng”. Hai giờ đêm, khi cả doanh trại chìm sâu vào giấc ngủ, tiếng dế Châu Phi bắt đầu râm ran và cái nóng dịu bớt, thì ánh đèn điện thoại vẫn sáng ở một góc container. Đây là “khung giờ vàng”, lượng truy cập ít nhất, may ra mới “vớt” được chút sóng vạch mỏng manh.

“Alo, mẹ à? Con đây!” - Anh cất tiếng, tim đập thình thịch.

Phía Việt Nam, âm thanh vọng lại méo mó, giật cục. Nỗi nhớ quê hương của người lính trẻ cứ thế được đo bằng những đêm trắng cùng vài vạch sóng wifi lúc căng, lúc mất,

Đất cằn rồi cũng “phải lòng”

Phập! Những mũi cuốc của người lính nện xuống đất khô khốc, nảy bật ngược lại. Một luồng tê dại chạy dọc bả vai. Cái giống đất ở đây mang bản tính chối từ vạn vật. Những cơn mưa hiếm hoi trút xuống, nước chưa kịp ngấm qua bề mặt đã bị mặt trời nung cho bốc hơi sạch sẽ. Dẫu vậy, người lính gốc Nghệ lớn lên giữa cát trắng gió Lào đâu dễ dàng lui bước. Thay vì gồng mình dụng sức, anh chuyển sang chiến thuật “vỗ về”. Không có phân bón hóa học, anh đi thu gom vỏ rau củ thừa, cỏ dại khô, thậm chí cả rác hữu cơ... ủ mục để làm “thức ăn” chăm bón. Chắt từng ca nước vo gạo, mót từng chậu nước rửa rau... Hoàng hôn xuống, anh tưới tắm cho từng luống cằn. Dần dà, đất cũng “phải lòng” người, tơi xốp, ấp lấy hạt mầm.

Ngặt nỗi, mầm xanh vừa nhú thì bầy cầy Mangut đã mò tới “hỏi thăm”. Những vị khách không mời này thoạt trông thì lông mượt, mắt sáng dễ thương, nhưng hễ đêm xuống là chúng kéo cả bầy vào vườn, đào xới tan hoang tìm giun dế. Hiển nhiên, những luống rau muống, mồng tơi cũng bị cày nát tan tành. Thế là lính ta đành bày binh bố trận, mở một cuộc “chiến tranh du kích” dở khóc dở cười. Ngày thì hì hục cuốc đất, chăng lưới, gia cố hàng rào, đêm thay nhau thức chong chong, gõ nhịp đuổi.

Và rồi, những mầm xanh đầu tiên rốt cuộc cũng kiên nhẫn đội đất mà nhú lên. Như để đáp đền những giọt mồ hôi mặn chát nhỏ xuống, đám rau đều lớn nhanh vùn vụt. Đến mùa thu hoạch, vườn rau trở thành một mảng màu kì lạ giữa lòng sa mạc. Những củ cải trắng Việt Nam khi sang đây hợp thổ nhưỡng lớn nhanh như thổi. Chúng trắng muốt, nằm ngạo nghễ trên luống đất nâu với kích thước to bằng cả cổ tay người trưởng thành. Bầu, bí, mướp đắng quấn quýt lấy giàn tre như minh chứng cho sức sống kiên cường giữa bầu trời lạ lẫm.

Chỉ tay vào đoạn video thu hoạch, đôi mắt Công chợt sáng rực. Lớp vỏ căng mịn, mát lạnh của củ cải đối lập hoàn toàn với sự khô khốc xung quanh. Giàn mướp đắng, giàn bầu xanh mưới mát đã chứng minh rằng, đất dù “khát” đến mấy, nếu kiên trì tìm cách ắt sẽ đơm hoa. Anh chàng Thượng úy bật cười giòn tan khi nhớ lại cảnh mời một ông lão bản địa cắn thử mướp đắng Việt Nam: “Ông lão nhăn nhúm mặt mày vì vị đắng chát. Thấy em cười, ra hiệu “ăn đi, tốt lắm”, ông ta mới dám nuốt. Một lúc sau thì gật gù, cười toe toét. Chắc vị ngọt hậu thanh mát đã thấm vào cuống họng, len lỏi làm dịu đi cái hanh hao của sa mạc”.

Mảng màu xanh mướt tạm thời xoa dịu đi những đôi mắt mệt mỏi vì chiến tranh. Nhưng với Sỹ Công, dăm ba luống rau cải thiện bữa ăn vẫn là chưa đủ. Điều khiến những nỗ lực của anh lan tỏa nằm ở những buổi chiều muộn, khi Công cởi chiếc áo lính để hóa thành một người nông dân thực thụ. Anh hiểu rằng, những bó rau cho đi rồi cũng hết. Chỉ khi họ tự biết móc vào đất mà sống, thì tương lai mới có hi vọng…

Trên màn hình laptop, tôi thấy những đôi mắt to tròn, đen láy chằm chằm nhìn vào tay Công. Đôi tay ấy ân cần cầm lấy tay người dân bản địa, đặt vào cán cuốc, chỉ cho họ thấy đất này không chết, nó chỉ đang ngủ. Anh dạy họ cách ủ phân từ rác, be bờ giữ nước... Những ánh mắt nghi ngại ban đầu dần biến mất. Đất cằn đến mấy, được hơi người ấp ủ cũng phải mềm lòng”.

Biệt đội “Socola” và rạp chiếu bóng giữa trời đêm

Góc vườn nhỏ xoa dịu đi sự cằn cỗi của đất đai. Còn lớp học quây tạm bằng mấy tấm tôn rách ngoài kia lại là nơi thắp lên những tia sáng đầu tiên cho đám trẻ bản địa, mặc dù bên trong nóng hầm hập chẳng khác nào chiếc lò nung gạch.

Keng! Keng! Keng! Sau tiếng gõ của thanh sắt vào miếng kim loại gỉ sét treo lủng lẳng trên cành cây khô, lũ trẻ túa ra, nhao nhao như ong vỡ tổ. Âm thanh lanh lảnh ấy kéo tụi nhỏ khỏi cơn đói dằn vặt và tiếng súng. Bàn tay to bè của Công nắm lấy những nắm tay bé tẹo, khẳng khiu. Đó là giờ học máy tính. Một cậu bé tên Abuk với những ngón tay run rẩy lơ lửng trên bàn phím đầy e dè, sợ lỡ tay làm hỏng cái “hộp thần kì” của chú Công. “Don’t worry. Press here” - Công trấn an, cầm ngón tay Abuk gõ nhẹ xuống. Tiếng “tạch” khẽ vang lên, kéo theo chữ “A” hiện rành rọt trên nền màn hình sáng xanh. Mắt thằng bé mở to hết cỡ, kinh ngạc như vừa chứng kiến phép lạ. Abuk quay ngoắt sang nhìn chú bộ đội Việt Nam, nhe hàm răng trắng cười thích thú.

“Biệt đội Socola” - đó là cái tên đầy cưng nựng mà Công dành cho học trò của mình. Trong “biệt đội” ấy, anh đặc biệt thương Dudu và Dada - hai cậu bé nhỏ tuổi nhất. Dudu người loắt choắt, lọt thỏm trong chiếc áo phông cũ in hình siêu nhân mà anh mang từ Việt Nam sang. Đôi mắt thằng bé to, lòng trắng nổi bật trên khuôn mặt đen nhám. Công tâm sự: “Dudu hay nhìn em. Không phải ánh nhìn của thằng bé xin kẹo, mà như muốn hỏi: “Chú ơi, thế giới bên ngoài kia có giống ở đây không?”. Ánh nhìn đau đáu ấy cứ bám riết lấy em suốt chuyến bay về nước. Nó luồn vào cả những câu chuyện vụn vặt bên mâm cơm gia đình, đến mức ngày đi lần hai, mẹ dúi vào tay gói kẹo dặn: “Mang sang cho thằng Dudu, Dada nhé”….

Bentiu về đêm, tiếng côn trùng rỉ rả vang lên, thỉnh thoảng bị chìm lẫn giữa tiếng súng nổ đì đùng nơi xa. Nhưng ở góc doanh trại này, mọi lo âu như tan biến. Tâm trí đám trẻ lúc này đang dán chặt vào tấm vải trắng căng lên giữa bãi đất trống. Máy chiếu gồng mình kêu cọt kẹt, luồng sáng xé toạc bóng đêm, hắt lên tấm phông. Hôm nay chiếu “Tom & Jerry”. Chẳng cần phụ đề hay thuyết minh, mọi rào cản ngôn ngữ như tan biến sau mỗi cú vồ của mèo Tom. Tiếng cười rinh rích, nắc nẻ át đi cái thăm thẳm của bóng đêm. Giữa khoảnh khắc ấy, người lính Việt Nam chợt đứng lặng. Mọi ngột ngạt của vùng chiến sự bỗng chốc lùi lại phía sau. Nhìn những khuôn mặt đen nhẻm đang ngửa lên há hốc miệng cười, ánh mắt lấp lánh như sao trời - anh thấy lòng bình yên đến lạ. Cảm giác ấy hệt như lúc đang ngồi hóng mát ở một góc sân đình quê nhà.

Đang mải mê với màn chiếu bóng, tôi bỗng khựng lại trước một đoạn video khác: Sỹ Công trổ tài làm “thợ cạo”. Dưới bóng cây vào một buổi chiều, tay lăm lăm chiếc tông-đơ cũ, anh thoắt cái biến thành tay thợ cắt tóc đắt khách nhất vùng. Tiếng tông-đơ rè rè chạy trên những mái đầu xoăn tít, vụn tóc đen nhánh rơi lả tả, lẫn vào bụi đỏ. Cắt xong, anh tỉ mẩn lau mặt cho từng đứa bằng khăn ướt, tự nhiên như một người anh gột rửa bùn đất cho đàn em. Bọn trẻ ríu rít sờ đầu trọc lóc, cười ngặt nghẽo rồi dụi đầu vào bụng Công, cọ cọ làm nũng.

Ngoài cửa sổ, không khí Tết Bính Ngọ len lỏi ở từng đoạn phố. Bắt được ánh mắt Công đang dõi theo chiếc xe chở hoa rong ngang qua, tôi hỏi không khí Tết ở Nam Sudan thế nào. Anh trầm ngâm: “Tết thì ai chẳng nhớ nhà. Nhưng với người lính xa xứ, Tết ở Bentiu không chỉ để ngóng về quê, mà là để san sẻ”.

Theo lời Công kể, lá dong là thứ xa xỉ ở Bentiu nên đơn vị phải xẻ lá chuối thay thế. Dây nilon chằng buộc hàng hóa được tận dụng, tước nhỏ làm lạt. Nhưng điều đặc biệt nhất nằm ở “nhân bánh”. Các chiến sĩ quyết định gói bánh chưng nhân đậu xanh, tuyệt nhiên không có thịt lợn. Lí do rất đơn giản: đơn vị đóng quân cạnh láng giềng Pakistan, họ là những người theo đạo Hồi nên kiêng thịt lợn.

Khi những đĩa bánh chưng chay bốc khói nghi ngút được bê sang mời, Công thấy rõ sự bất ngờ xen lẫn xúc động trong mắt họ. Trong đoạn video, những cái ôm, vỗ vai và tiếng hô “We love Vietnam” vang dội cất lên - một thứ cảm giác xốn xang, kiêu hãnh chạy dọc sống lưng,

Tấm huân chương mang tên “Chào anh Công”

Tháng 7/2023, chuyến bay mang cờ Liên Hợp Quốc đưa chiến sĩ Bệnh viện dã chiến 2.4 về nước - tạm biệt cái nóng cháy thịt, những đêm thức trắng chực chờ vạch sóng wifi, mùi súng đạn và cái nghèo đeo bám.

Xe bọc thép vừa trườn qua cổng để ra sân bay, một cảnh tượng bất ngờ dội thẳng vào lồng ngực Công. Bụi đỏ thốc lên mù mịt. Xuyên qua màn bụi ấy, một bầy trẻ đen nhẻm, chân trần lao thốc theo chiếc xe. Chúng cắm đầu chạy thục mạng, tay vung vẩy trên không, miệng hét khản đặc: “Vietnam! Vietnam! Papa Cong! Papa Cong!”. Đám trẻ cứ chạy, chạy mãi... cho đến khi cái bóng của chúng chỉ còn là những chấm nhỏ lọt thỏm vào lớp bụi mờ mịt sau gương chiếu hậu. Đó là thước phim ám ảnh nhất về Châu Phi mà Công mang theo trong hành trang rời đi.

Trở về dải đất miền Trung, đứng trước biển Nghệ An hiền hòa, Công để mặc gió thốc vào lồng ngực. Lẽ ra anh đã có thể thở phào nhẹ nhõm: trước mặt là biển xanh sóng vỗ, sau lưng là mâm cơm gia đình ấm cúng. Vậy mà tâm trí vẫn không thôi văng vẳng những thanh âm dội về từ vùng đất đỏ: Tiếng sỏi đá lạo xạo dưới bước chân, mùi nắng khét lẹt và cả cái vị khô, chát ngầm đặc trưng của đất Bentiu. Những câu hỏi không đầu không cuối cứ bám riết lấy tâm trí Công: Mình về rồi, ai tưới giàn bầu đang trổ hoa? Không có tông-đơ của chú Công, tóc thằng Dudu ai xén cho? Tiếng kẻng sắt gọi chữ mỗi sáng còn gõ nhịp không?

Sự dằn vặt ấy khiến anh hay tỉnh giấc giữa đêm tĩnh mịch quê nhà. Tiếng hô “Vietnam! Papa Cong!” ngọng nghịu như vang lên trong đầu. Công nhận ra, mình đang mắc nợ vùng đất ấy. Nợ “Biệt đội Socola” những bài tiếng Anh dở dang. Nợ đám trẻ những đêm chiếu phim “Tom & Jerry”. Nợ dải đất khô cằn kia những hạt giống chưa kịp ươm trồng...

Không chần chừ thêm, mùa thu năm 2024, anh đặt bút viết đơn tình nguyện trở lại Nam Sudan. Bánh xe của hành trình 10.000 cây số lại tiếp tục lăn.

Ngày trở lại Bentiu, tại cổng căn cứ Liên Hợp Quốc, một bóng người chôn chân giữa màn bụi đỏ. Joseph - anh bảo vệ người bản địa cầm chặt trên tay bức ảnh chụp chung với Sỹ Công từ nhiệm kì trước. Bức ảnh quăn mép, ố vàng vết mồ hôi được giữ như báu vật. Thấy bóng lính Việt Nam nào đi qua, anh lại chìa ra, mắt ánh lên tia hi vọng khắc khoải: “Công? Công? Vietnam?”.

Hơn hai năm trước, Joseph gầy tong teo, mắt trắng dã hoảng loạn. Vợ đẻ mà đói trơ xương, đứa con trai thì lả đi như nhánh củi khô. Tranh thủ những ca gác đêm, Công chắt mót từng hộp sữa, viên vitamin dúi vội cho người cha ấy. Chỉ chừng đó thôi cũng đủ lôi bật một gia đình khỏi miệng vực tử thần. Nay nghe tin Công quay lại, Joseph bỏ ngủ trưa, phơi mình giữa bụi bặm để đón cho kì được “người anh em”.

Xe phanh lại trước cổng, vừa thấy Công mở cửa xe bước xuống, Joseph đã chồm tới. “Công! Công!” Anh hét lên, ném bỏ mọi quy tắc an ninh lao đến. Điều khiến Công lặng người là lấp ló sau chân Joseph, sinh linh bé nhỏ từng cận kề cái chết ngày nào giờ đã là một cậu bé lấm lem, bám chặt chân cha. Thằng cu con rụt rè ngước nhìn Joseph, rồi quay sang Công, nhe hàm răng trắng lóa nổi bật trên nước da đen cháy. Nó nhào tới, đu chặt lấy bắp chân Công, miệng bật ra thanh âm lơ lớ: “Chào... anh... Công!”.

Chẳng phải thứ tiếng Anh bồi, cũng không phải ngôn ngữ Dinka bản địa. Đó là tiếng Việt. Méo mó, ngọng ngịu nhưng đủ làm Công rân rân sởn gai ốc. Sống mũi người lính trẻ đột ngột cay xè. Anh bế bổng thằng nhóc lên ngang tầm mắt, hít một hơi thật dài. Mùi khét nắng, mùi mồ hôi hôi hổi của con trẻ quyện bết vào vai áo. Đứng bên cạnh, Joseph vừa cười vừa quệt vội nước mắt. Anh phân trần rằng suốt bao ngày qua đã dạy con học nói đúng câu đó, chỉ để đợi đến khoảnh khắc gặp lại này.

Chỉ tay vào bức ảnh hội ngộ, đôi mắt Công như có ngân ngấn nước: “Đời binh nghiệp, sau này có thể em sẽ được gắn nhiều tấm huy chương lên ngực áo. Thế nhưng với em lúc này, ba tiếng “Chào anh Công” vang lên cùng đôi mắt rưng rưng của Joseph chính là tấm huân chương vô giá nhất.

Chiều Bentiu. Mặt trời như hòn than nung dở, lửng lơ trên đường chân trời cuồn cuộn sắc đỏ. Qua màn hình máy tính, tôi thấy Sỹ Công hì hụi leo lên thân một cây bao báp cổ thụ. Thân cây xù xì, nứt nẻ, sừng sững vươn những cành khẳng khiu chọc thẳng lên nền trời.

Trong bộ quân phục dã chiến, người lính Việt Nam tựa lưng vào lớp vỏ bao báp ngàn năm. Vạt nắng chiều hắt chéo thẳng vào vai áo trái, làm rực lên lá cờ đỏ sao vàng tạo thành một vệt sáng kiêu hãnh, tương phản hoàn toàn với vẻ xám xịt của vùng đất tị nạn. Người lính ấy đang điều khiển flycam, thu vào tầm mắt trọn vẹn mọi khoảnh khắc của Bentiu. Gió hoang mạc vụt lên từng đợt. anh nhảy phịch xuống đất, tay phủi bụi quần, miệng huýt sáo một điệu nhạc hóm hỉnh.

Sớm mai nắng lên, cái guồng quay trần trụi kia lại xoay vần. Những luống rau muống, mướp đắng rồi cũng có lúc tàn lụi; kẹo bánh dẫu nhiều rồi cũng chia hết. Nhưng có một thứ rễ đã kịp cắm sâu bám chặt: tình người lính Việt gieo xuống lớp đất cằn cỗi này vẫn đang cựa mình vươn lên. Giống như tán bao báp ngàn tuổi đang dang tay che chở cho lũ trẻ giữa bao chiều Bentiu đầy nắng và lộng gió.

L.Đ.K