Thứ Năm, 01/10/2026 11:35

Những đại biểu gần dân, vì dân

Nhìn lại chặng đường lịch sử của Quốc hội và các cuộc bầu cử, từ những ngày đầu lập nước đến hôm nay, có thể thấy đất nước luôn cần những đại biểu gần dân, hiểu dân và sống vì lợi ích của nhân dân...(HOÀNG MINH ĐỨC)

.HOÀNG MINH ĐỨC

Cách mạng tháng Tám đã mở ra một chân trời mới. Việt Nam từ chỗ là một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, nước ta đã giành được nền độc lập dân tộc, bước lên vũ đài chính trị của thế giới. Đó là nhờ việc lựa chọn những đại biểu xứng đáng đứng ra gánh vác công việc của chính phủ sâu sát với quần chúng nhân dân và sống cho dân.

Lần đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến hàng ngàn năm, kết thúc 80 năm đô hộ của thực dân Pháp. Đây là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Khác với các triều đại phong kiến, hoặc các chính thể tư bản, khi lật đổ được một chính phủ, một triều đại tất yếu dẫn đến cảnh chém giết, “tru di tam tộc”, tàn sát thế lực cũ. Nhưng với Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì không hề chém giết, tù đày một ai. Ngay cả vua Bảo Đại - Vĩnh Thụy cũng được Bác Hồ đón về Thủ đô mời làm cố vấn tối cao cho Chính phủ.

Một tuần sau lễ thành lập nước, ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh 14/SL quyết định Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước.

Ngày 13/12/1945, Bác Hồ viết trên báo Cứu quốc (số 130): “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức gánh vác công việc nước nhà.

Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước nhà thì đều có quyền ra ứng cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó…

Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thực sự là Chính phủ của toàn dân”.

Theo cuốn hồi kí Trọn một con đường của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên (Nguyễn Văn Đồng) thì Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tỉnh Quảng Bình có 5 đại biểu. Câu vè vận động bầu cử Thuần Nho, Võ Quyết, Văn Đồng/ Trần Hường, Hoàng Diệm chớ quên người nào đã được lan rộng trong nhân dân. Kết quả là cả 5 người đều tập trung số phiếu gần 100%. Đây là những đại biểu trưởng thành trong đấu tranh cách mạng, không những gần dân mà sống trọn đời vì dân.

Ngày 2/3/1946, kì họp đầu tiên khóa I khai mạc. Quốc dân Đảng, Việt Cách đòi dành 70 ghế trong Quốc hội. Vì lợi ích lâu dài của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thuyết phục các đại biểu chấp thuận, nâng số đại biểu tham dự kì họp lên là 403.

Ngày 28/10/1946 kì họp thứ hai của Quốc hội khai mạc tại Nhà hát Lớn, một số đại biểu Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ do hoàn cảnh kháng chiến không tham gia được. Những đại biểu Việt Quốc và Việt Cách cảm thấy mình không xứng đáng tự ý bỏ họp gần một nửa. Sau mười ngày tranh luận, ngày 9/11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống. Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều. Theo diễn biến thăng trầm của lịch sử, đến nay Hiến pháp đã được sửa đổi nhiều lần.

Cuộc kháng chiến 9 năm trường kì thắng lợi, đất nước ta tạm thời bị chia làm 2 miền. Theo hiệp nghị Giơ-ne-vơ, năm 1956 cả nước sẽ tổ chức Tổng tuyển cử, nhưng Đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai âm mưu chia cắt đất nước ta lâu dài nên ra sức phá hoại.

Quốc hội Việt Nam khóa II (nhiệm kì 1960-1964) nhóm họp trong hoàn cảnh đế quốc Mĩ đã nhảy vào miền Nam, chuẩn bị leo thang đánh phá miền Bắc. Quốc hội hoạt động theo những nguyên tắc của Hiến pháp năm 1959 đề ra. Ở Quảng Bình có 7 đại biểu tham dự.

Đặc biệt vì hoàn cảnh chiến tranh nên Quốc hội Khóa III phải kéo dài từ năm 1964 đến năm 1971. Vinh dự trong 7 đại biểu Quảng Bình, tôi có bà chị dâu là Hoàng Thị Thiệu, làm bí thư Xã Đoàn Quảng Minh, Thường vụ Tỉnh Đoàn Quảng Bình (nay thuộc xã Nam Gianh, tỉnh Quảng Trị) tham gia. Ở Hà Nội về ứng cử có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, và ông Phan Văn Hai (Ba Du), nghệ nhân ngành nghệ thuật sân khấu ca kịch Việt Nam. Còn lại 5 người đang ở Quảng Bình, là ông Nguyễn Tư Thoan, Bí thư Tỉnh ủy; ông Phạm Xuân Quảng, Chủ tịch huyện Tuyên Hóa; ông Võ Khắc Ý, Chủ nhiệm hợp tác xã Việt Xô; ông Lê Trạm, Chủ nhiệm hợp tác xã ngư nghiệp Lộc Ninh.

Quốc hội khóa III, kì họp thứ nhất diễn ra từ ngày 25/6/1964 đến ngày 3/7/1964. Cả nước có 429/455 đại biểu có mặt. Lúc đó chị Thiệu mới 23 tuổi. Chị đã được gặp mặt Bác Hồ. Một hôm Bác Hồ mời tất cả đại biểu thanh niên đến nhà khách. Trên bàn tiệc, các cô chú phục vụ đã dọn sẵn kẹo và nước. Bác ân cần hỏi han từng người và luôn miệng nhắc: “Các cháu ăn kẹo đi chứ, ta vừa ăn vừa nói chuyện. Mà các cháu phải nhớ ăn cho hết kẹo đấy nhé. Ăn không hết thì cầm về. Còn nước uống không hết thì chừa lại cho Bác”. Tất cả cười vang, ai nấy đều vui vẻ. Cuối buổi Bác mời tất cả ra sân chụp ảnh chung với Bác. Ai cũng muốn đứng gần Người hơn.

Kì họp thứ tư (từ ngày 19/5/1968 đến 22/5/1968), lúc đó chị Thiệu làm chủ nhiệm hợp tác xã Minh Lệ. Chị đã đưa năng suất khoai của hợp tác xã Minh Lệ lên gần 20 tấn trên một héc ta. Lúc này Quảng Bình đã trở thành chảo lửa chiến tranh, chị phải đi bộ lên xã Phúc Trạch (Bố Trạch) rồi mới có xe theo đường rừng ra Hà Nội. Trước giờ họp, Bác Hồ đến hội trường. Các đại biểu thanh niên của các đoàn tranh nhau vây quanh Bác. Bác kéo tay chị Thiệu đến gần và nói: “Bác muốn nghe tình hình quân dân Quảng Bình. Cháu Thiệu hãy kể lại tình hình bà con trong ấy cho Bác nghe. Làm thế nào mà tránh được bom đạn của địch. Làm thế nào để vừa sản xuất, vừa chiến đấu”. Bác hỏi han công tác chăm sóc người già, thương bệnh binh và thiếu nhi trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn. Chị Thiệu trả lời khi máy bay lao xuống ném bom nếu trúng vị trí mình đang đứng thì thấy cái đầu tròn và hai cánh máy bay nằm ngang. Mình phải chạy ngược lại cái hướng của máy bay của địch lao xuống. Ban đêm trẻ con và người già phải ra ngoài đồng, nằm ngủ dưới hầm. Học sinh đến trường phải đội mũ rơm tránh mảnh đạn pháo rớt xuống đầu. Họp hành cũng phải thắp đèn lên ngồi dưới hầm mà họp. Mỗi khi bom ném xuống khu vực nào là dân quân phải có mặt ở đó. Bắn 3 phát súng để mọi người đến cứu thương, đào hầm sập. Khi máy bay ném bom thì mọi người xuống trú ẩn, dân quân kê súng trường lên bờ hầm mà bắn máy bay. Nghe xong Bác khen quân dân Quảng Bình “hai giỏi”, chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi.

Đến tiếp thế hệ chúng tôi được làm cử tri, được đi bầu cử thì non sông đã thu về một mối, tôi thấy những con người bình dị quanh tôi vẫn có quyền ứng cử vào hội đồng nhân dân các cấp. Thầy giáo Nguyễn Ngọc Phương, người từng làm công tác đoàn đội ở nhà trường với chúng tôi được làm Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình khóa XIV nhiệm kì 2016-2021. Anh thường đi đến với người dân lấy ý kiến và có những đề xuất rất hay, thiết thực trước Quốc hội.

Cạnh nhà tôi có anh Hoàng Đăng Quang. Thuở nhỏ anh học cùng một lớp với vợ tôi và đứa em trai thứ ba của tôi. Ngày trước anh cũng đi chăn trâu cắt cỏ, hái củi cùng các bạn nhỏ trong làng. Lên học cấp 3 hàng ngày anh vẫn đi gánh hàng cho mẹ bán. Học đại học, rồi cao học anh vẫn ghé vào nhà tôi chơi. Anh bàn luận một số vấn đề về việc biên soạn lại trong sách giáo khoa môn toán. Rời ngành giáo dục anh chuyển sang công tác Đảng và chính quyền. Anh từng giữ chức Bí thư Huyện ủy Quảng Trạch, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Quảng Bình. Anh về chỉ đạo phát triển nông nghiệp sạch như trồng lúa hữu cơ ở xã Quảng Hòa, làm các công trình giao thông trong làng, trong huyện. Tháng 10/2015 anh được bầu Bí thư Tỉnh ủy rồi 26/1/2016 được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII. Ngày 24 tháng 6 năm 2016, anh được bầu làm Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình khóa XVII nhiệm kì 2016-2021 với 48/49 phiếu bầu.

Về làng, anh rất quan tâm đến những việc mà địa phương đã làm được và chưa làm được. Anh nói với chúng tôi về những khó khăn và thế mạnh của tỉnh Quảng Bình. Anh nói về ngành du lịch với Phong Nha - Kẻ Bàng, di sản thiên nhiên thế giới, về những công trình về điện gió, điện năng lượng mặt trời. Mặc dù lên làm cán bộ trên tỉnh, trên Trung ương về làng anh vẫn tham dự sinh hoạt câu lạc bộ văn nghệ Quảng Minh chúng tôi. Đầu năm 2020, gặp chúng tôi anh nói: “Hết tuổi công tác, thỉnh thoảng về làng em sẽ đi bộ với các bác”. Tưởng năm sau anh sẽ nghỉ hưu nhưng tháng 8/2020, anh được bố trí Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương; sau đó được phân công giữ chức Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương Đảng. Anh được Đảng và nhân dân tín nhiệm ra Trung ương làm việc thêm 5 năm nữa.

Tại phiên họp ngày 3/2/2026, Bộ Chính trị đồng ý cho anh nghỉ công tác từ ngày 1/3 và nghỉ hưu từ ngày 1/12 năm nay.

Nhìn lại chặng đường lịch sử của Quốc hội và các cuộc bầu cử, từ những ngày đầu lập nước đến hôm nay, có thể thấy đất nước luôn cần những đại biểu gần dân, hiểu dân và sống vì lợi ích của nhân dân. Chính họ là cầu nối bền chặt giữa ý Đảng và lòng dân, góp phần xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.

H.M.Đ