Thứ Tư, 09/09/2026 08:16

Nguyễn Bảo: Đời lính - Đời văn

Một đời người đi qua chiến tranh, một đời văn đi qua những biến động của lịch sử, cuối cùng lại trở về với điều giản dị nhất: con người.

Với những nhà văn từng trực tiếp cầm súng trên chiến trường, chiến tranh không chỉ là một đề tài, còn là một phần quan trọng của đời sống tinh thần. Vì thế, trang viết về người lính của họ được nâng đỡ bởi chính trang đời người lính. Nguyễn Bảo là một trường hợp tiêu biểu.

Một đời văn gắn với người lính

Nhà văn Nguyễn Bảo lúc trẻ.

Sinh năm 1950 tại Thanh Hóa, năm 1971, khi đang là sinh viên Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp, Nguyễn Bảo (tên thật Nguyễn Ngọc Bảo) tình nguyện lên đường vào Nam, gắn bó với chiến trường Khu V ác liệt. Có năng khiếu sáng tác, ông được điều về Ban Văn học thuộc Cục Chính trị Khu V. Sau chiến tranh, ông công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, từng làm Trưởng ban Văn xuôi, Phó Tổng Biên tập và sau đó là Tổng Biên tập. Ông nghỉ hưu năm 2010.

Trong hành trình sáng tác, Nguyễn Bảo đã xuất bản nhiều tác phẩm đáng chú ý: Biển đêm (tập truyện ngắn, 1981), Người ở thượng nguồn (tiểu thuyết, 1983), Giám định của đất (tiểu thuyết, 1989), Khoảng sáng không mất (tiểu thuyết, 1992), Những người sẽ vào thành phố (tập truyện ngắn, 1996), Ảo ảnh (tập truyện ngắn, 2004), Thượng Đức (tiểu thuyết, 2005), Phía sau người lính (tập truyện ngắn, 2009), Đỉnh máu (tiểu thuyết, 2012), Trang trại có ma (2014)… Ông nhận nhiều giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, các giải thưởng và bằng khen văn học của Bộ Quốc phòng, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Đất Quảng lần thứ nhất cho tiểu thuyết Thượng Đức và Giải thưởng Nhà nước về Văn học, Nghệ thuật năm 2022. Qua nhiều chặng đường sáng tác, dù viết về đề tài nào, hình tượng trung tâm trong văn xuôi Nguyễn Bảo vẫn thường là anh bộ đội Cụ Hồ, với những vẻ đẹp vừa lý tưởng vừa hiện thực, vừa cao cả vừa đời thường.

Hai tiểu thuyết đặc sắc thể hiện rõ nhất vốn sống, phong cách và bản lĩnh của Nguyễn Bảo là Thượng ĐứcĐỉnh máu.

Nhà văn từng quan niệm: “Đối với chiến tranh, giữa sự sống và cái chết mong manh đến nhường nào và để có được nền độc lập của dân tộc, biết bao nhiêu người lính phải đổi bằng xương, bằng máu của mình – đó là một sự thật nghiệt ngã... Tuổi trẻ của tôi là ở Khu V. Từ tiểu thuyết đến truyện ngắn, tôi chỉ duy viết về người lính. Từ bom đạn ác liệt đến ngày hòa bình, tôi sống với tâm tư của một người lính”. Quan niệm ấy lý giải vì sao Nguyễn Bảo luôn cần một khoảng thời gian dài để viết về chiến tranh. Ông tham gia chiến dịch Thượng Đức năm 1974 nhưng gần bốn mươi năm sau mới có thể hoàn thành tác phẩm Thượng Đức. Đó không phải là sự chậm trễ mà là một quá trình tích lũy tư liệu, ký ức, trải nghiệm và quan trọng hơn cả là sự lắng đọng của cảm xúc cùng độ lùi cần thiết của thời gian.

Thượng Đức là một địa bàn chiến lược quan trọng, nơi quân ta mở cánh cửa tiến vào Đà Nẵng. Nhưng chiến thắng ấy được đánh đổi bằng những trận đánh khốc liệt và sự hy sinh lớn lao. Viết sao cho tái hiện được sự căng thẳng, khốc liệt của chiến trường mà không biến văn chương thành bản sao của sử liệu là một thách thức lớn. Nguyễn Bảo đã vượt qua thách thức ấy bằng sự kết hợp giữa vốn sống và tài năng. Như chính ông khẳng định: “Để sáng tác về đề tài chiến tranh và người lính, điều quan trọng nhất đối với mỗi nhà văn cần có hai yếu tố: Tài năng và vốn sống”. Muốn tác phẩm có sức hấp dẫn, nhà văn phải có “tầm”, phải viết trung thực và dành sự đầu tư thỏa đáng, công tâm cho tác phẩm của mình. Không chỉ là kinh nghiệm sáng tác cá nhân, có lẽ còn là một gợi ý đáng suy ngẫm đối với những người viết về chiến tranh hôm nay.

Điều đáng quý ở Thượng Đức là tác phẩm không chỉ giàu tư liệu về một trận đánh có ý nghĩa chiến lược, mà còn đi sâu vào số phận con người. Nguyễn Bảo mở rộng quan niệm về nhân cách người chỉ huy: phẩm chất của một người lãnh đạo không chỉ nằm ở chuyện thắng hay thua, mà ở tình yêu thương và trách nhiệm đối với những người lính. Vấn đề về nhân cách người chỉ huy trong tiểu thuyết có ý nghĩa vượt khỏi phạm vi một trận đánh, để khái quát một đặc trưng, có thể là chân lý: Một người lãnh đạo tài năng giống như người cầm lái giỏi, phải xác định đúng hướng, biết đè sóng, vượt gió, quan trọng hơn, phải biết chịu trách nhiệm trước những con người đang đặt niềm tin vào mình.

Một chi tiết trong quá trình tiếp nhận Thượng Đức cũng cho thấy sức mạnh đặc biệt của văn chương. Có nhân vật – Bí thư Huyện ủy Hoàng Thủy – từng bị kỷ luật trong chiến tranh do những nhận định, đánh giá sai lệch. Qua những chứng cứ được nhà văn đưa vào tác phẩm, nhân vật được nhìn nhận lại, được điều tra kỹ và trả lại danh dự. Đó là điều đáng suy ngẫm: văn chương đích thực luôn tiềm tàng sức mạnh của chân lý và đạo lý. Khi lịch sử còn những khoảng khuất, văn học có thể góp phần soi sáng số phận con người và trả lại cho họ sự công bằng mà đôi khi thời gian chưa kịp thực hiện.

Đỉnh máu (2012) có thể xem như một bước phát triển khác trong tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Bảo. Cùng nằm trong không gian chiến lược của chiến trường Khu V, Đỉnh máu tiếp nối một số vấn đề từ Thượng Đức nhưng có cấu trúc, bố cục, hệ thống nhân vật và chi tiết riêng. Nếu nhìn từ lý thuyết diễn ngôn, nét đáng chú ý của tác phẩm là sự chuyển dịch từ diễn ngôn chiến thắng sang diễn ngôn về chấn thương.

Văn học chiến tranh trước đây thường tập trung vào những đối cực lớn: ta/ địch, thắng/ thua, sống/ chết. Nguyễn Bảo đi xa hơn khi đặt câu hỏi về số phận con người sau những đối cực ấy. Nhân vật Ngọ là một sáng tạo đáng chú ý. Vừa là nhân vật chính, vừa là người kể chuyện, Ngọ luôn mang dấu ấn của một con người bị chiến tranh và những nghịch cảnh đời thường làm tổn thương. Trước khi vào trận, yêu Nắng thì bị chối từ; trong chiến tranh, yêu Tính thì Tính hy sinh; khi hòa bình trở lại, nhà ở lại bị chiếm dụng trắng trợn.

Nếu người lính trong văn học sử thi thường được hoàn tất bằng chiến công, thì Ngọ của Nguyễn Bảo lại được nhận diện qua những gì chưa thể hoàn tất: tình yêu, mái nhà, ký ức và sự bình yên của đời tư. Chính sự dở dang ấy làm nên chiều sâu hậu chấn thương của nhân vật. Ngọ không phải một “người hùng” theo mô hình sử thi truyền thống mà là một con người bị lịch sử và đời sống làm tổn thương, luôn phải vật lộn để tìm lại ý nghĩa tồn tại của mình. Ở đây, Nguyễn Bảo đã đưa tiểu thuyết chiến tranh đến gần hơn với tiểu thuyết đời tư, đồng thời tạo ra một “mã” diễn ngôn về chấn thương. Đó là một hướng đổi mới quan trọng trong cách viết về chiến tranh: chiến tranh không chỉ có chiến công, còn có những vết thương kéo dài trong tâm hồn con người.

Đỉnh máu vì thế có thể được nhìn nhận là tiểu thuyết về chiến tranh mang chiều kích lịch sử và đời tư. Ở phương diện lịch sử, tác phẩm cố gắng trung thành với không gian, thời gian và những sự kiện chiến tranh. Ở phương diện đời tư, đó là câu chuyện về thân phận cá nhân trong những khúc ngoặt dữ dội của lịch sử. Những đoạn nhật ký của Anh hùng Lê Mã Lương trong tác phẩm có thể xem như một dấu gạch nối thú vị giữa hai phương diện ấy: lịch sử và đời tư, sự kiện và ký ức, chiến công của cộng đồng và số phận của cá nhân.

Nhà văn Nguyễn Bảo lúc công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Trang viết bắt nguồn từ trang đời

Nếu không phải là người trực tiếp cầm súng chiến đấu, có lẽ Nguyễn Bảo khó có Thượng Đức, Đỉnh máu, Biên ải, máu và nước mắt và những trang viết thuyết phục về người lính. Các nhà văn trẻ hôm nay hoàn toàn có thể viết về chiến tranh hay hơn ở một phương diện nào đó, hấp dẫn hơn về kỹ thuật tự sự, hiện đại hơn về ngôn ngữ và cấu trúc. Nhưng để đi xa, họ vẫn cần những điểm tựa. Văn học chiến tranh không thể chỉ được viết bằng trí tưởng tượng. Nó cần ký ức, tư liệu, trải nghiệm và sự trung thực với lịch sử. Ở phương diện ấy, thế hệ nhà văn như Nguyễn Bảo là một phần ký ức sống của văn học chiến tranh vệ quốc. Những tác phẩm của ông không chỉ là thành quả của một đời viết, còn là những “điểm tựa” để thế hệ sau tiếp tục đối thoại, tiếp nối và sáng tạo.

Văn học về đề tài chiến tranh cách mạng và hình tượng người lính luôn làm sống lại một thời anh hùng của lịch sử giữ nước, vì thế mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Đất nước càng giàu mạnh, văn minh càng không được phép quên quá khứ. Bởi ký ức về chiến tranh không chỉ để tự hào về chiến thắng, còn để hiểu giá trị của hòa bình, biết trân trọng sự sống, biết sống có trách nhiệm hơn với con người. Những trang viết về sự hy sinh của quần chúng cách mạng trong Thượng Đức là một ví dụ. Hình ảnh những bà mẹ lao lên trước mũi xe ủi, những người phụ nữ ôm con nhỏ lăn ra trước xe bọc thép, những đoàn học sinh, sinh viên tuổi còn rất trẻ xuống đường đấu tranh và đối mặt với súng đạn của kẻ thù… không chỉ kể lại một thời lịch sử. Nó đặt ra một câu hỏi cho hiện tại: chúng ta sẽ giáo dục thế hệ hôm nay như thế nào để họ hiểu rằng những giá trị đang có được đã từng phải trả bằng biết bao máu và nước mắt?

Bởi vậy, đọc Nguyễn Bảo không chỉ là đọc về chiến tranh. Còn là đọc về hòa bình.

Có một câu rất quen thuộc: “Văn là người” nhưng thật đúng với Nguyễn Bảo. Trang viết và trang đời của ông có sự thống nhất đáng quý. Văn ông chân chất, mộc mạc nhưng không yếu mềm. Trái lại, luôn có sự quyết liệt và bản lĩnh của một người từng trải. Đó là thứ văn luôn quý trọng con người, đề cao nhân phẩm và thấm đẫm tình người. Ngoài đời, con người Nguyễn Bảo dường như cũng hiện ra theo cách ấy. Với người không ưa mình, ông vẫn khoan hòa; không thù ghét, không cố chấp. Trong công việc, ông tâm huyết, trách nhiệm, hết mình. Trong quan hệ, ông chân thành, tinh tế, nhẹ nhàng. Có lẽ đó chính là điều làm nên sự thống nhất đẹp đẽ giữa trang viết và trang đời Nguyễn Bảo.

Một đời người đi qua chiến tranh, một đời văn đi qua những biến động của lịch sử, cuối cùng lại trở về với điều giản dị nhất: con người. Và có lẽ, đó cũng là giá trị bền vững nhất trong văn chương Nguyễn Bảo. Ông viết về chiến tranh nhưng không để chiến tranh lấn át con người. Ông viết về chiến thắng nhưng luôn nhớ tới những người đã ngã xuống. Ông viết về quá khứ nhưng hướng bạn đọc cái nhìn về tương lai. Đọc Nguyễn Bảo hôm nay, điều còn lại không chỉ là những trận đánh, những vùng đất, những tên người. Mà là một niềm tin: sau tất cả những khốc liệt của lịch sử, con người vẫn có thể đứng lên, mạnh mẽ. Sau máu và nước mắt, sự sống vẫn có thể hồi sinh, lạc quan. Sau chiến tranh, điều đáng gìn giữ nhất vẫn là hòa bình, tình người và phẩm giá con người.

Đó là trang viết, cũng là trang đời của Nguyễn Bảo.

PGS.TS NGUYỄN THANH TÚ