Thứ Ba, 13/10/2026 08:32

“Người Pa Cô - con cháu Bác Hồ”

Việt Nam và cả thế giới biết người Pa Cô bởi lẽ sống, niềm tin mãnh liệt vào Đảng, Bác Hồ và cách mạng, chiến đấu dũng cảm kiên cường, đánh đuổi giặc thù, giải phóng quê hương đất nước, núi rừng thân yêu...(HOÀNG QUẢNG THỦY)

. HOÀNG QUẢNG THỦY
 

Người Pa Cô con cháu Bác Hồ/ Dù gian khổ vượt núi băng đèo/ Dù gian nan vẫn không ngại chi/ Đi đánh Mĩ giữ lấy núi rừng… Lời bài hát ghi danh dân tộc Pa Cô từ thời kháng chiến chống Mĩ, vang vọng cùng bản hùng ca đất nước đến bây giờ và có lẽ mãi mãi. Việt Nam và cả thế giới biết người Pa Cô bởi lẽ sống, niềm tin mãnh liệt vào Đảng, Bác Hồ và cách mạng, chiến đấu dũng cảm kiên cường, đánh đuổi giặc thù, giải phóng quê hương đất nước, núi rừng thân yêu. Một dân tộc nhỏ nhoi (khoảng 40.000 người) sinh sống giữa đại ngàn Trường Sơn từ Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị đến A Lưới, phía Tây thành phố Huế đã góp phần làm rạng danh Tổ quốc. Đời đời tôn vinh và tri ân là đạo lí cao cả, người Pa Cô rất xứng đáng được đón nhận.

Người Pa Cô có nhiều tên gọi: Pa Cô, Pa Hi, Tà Ôi, Tà Uốt và Kan Tua. Nhưng ghi danh chính là Tà Ôi. Không hiểu sao, ở chiến trường Trị - Thiên quân Giải phóng chúng tôi hay gọi tên là Pa Cô. Ngay cả bây giờ cũng vậy, tên tộc Pa Cô vẫn được nhắc nhiều hơn cả. Có lẽ vì lời ca “Người Pa Cô con cháu Bác Hồ” chăng? Đơn vị tôi, Trung đoàn 6 - Phú Xuân gắn bó với người Pa Cô suốt 10 năm ròng rã (1965 - 1975) chung chia gian khổ ác liệt, nhường cơm sẻ áo, chia lửa, chia máu… trên chiến trường được đánh giá ác liệt nhất. Và tôi là một người chiến sĩ trần mình lăn lộn trong đó. Nghĩa tình sâu nặng gắn kết những kỉ niệm buồn vui một thuở với người Pa Cô, đâu có dễ quên. Hễ có dịp tới miền đất này, chiến trường xưa thì hình ảnh người Pa Cô lại hiện lên mồn một như những thước phim tư liệu sinh động được cài sẵn trong óc, thôi thúc con tim.

Dọc đường chiến trận thuở đó, bất cứ ở đâu, lúc nào cũng có người Pa Cô với nhiều vị trí nhiệm vụ khác nhau. Việc nhỏ việc to, việc gì cũng làm, làm say mê nhiệt tình, không quản ngại khó khăn ác liệt, nguy hiểm, đạn bom dội ầm ầm. Họ là chiến sĩ quân Giải phóng, dân quân du kích, TNXP, dân công vận tải… đủ mọi lứa tuổi, thành phần. Người người, nhà nhà tham gia kháng chiến từ trẻ em đến các cụ già tuổi “cổ lai hi”. Thiếu niên mới 14, 15 tuổi đã có ba, bốn năm băng rừng cùng bộ đội chiến đấu, vận chuyển vũ khí, tải thương… Có người nói, cả dân tộc Pa Cô đã biên chế chính thức trong đội ngũ cách mạng điệp trùng. Không sai. Anh hùng LLVTND Hồ Vai và Hồ Kan Lịch là những người như thế. Chân thật, hăng hái nhiệt tình, xả thân đánh giặc. Tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, Bác Hồ và cách mạng gần như là một thuộc tính bẩm sinh của người Pa Cô. Phẩm chất đó ánh ngời như ngọc, quý hơn vàng lan tỏa giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ.

Đói nghèo cơ cực đeo bám quanh năm. Nồi cháo hổ lốn “tà lục tà lạo” ngô, khoai, rau, sắn… ngày nào cũng vậy. Chiến tranh, không dệt được vải, họ xài toàn quần áo bộ đội, thi thoảng gặp người bận trang phục các bộ tộc Lào ở biên giới. Chăn màn đương nhiên không có trong “biên chế”, không có trong danh mục tên gọi. Chống muỗi, chống vắt, chống rét chỉ có thuốc lá Tà Ôi, ớt chỉ thiên và bếp lửa. Nhưng không phải lúc nào cũng đỏ lửa sưởi ấm. Máy bay OV10 luôn dòm ngó sẵn sàng gọi máy bay cường kích dội bom, pháo. Chui rúc trong những lán lều nhà sàn lợp lá nón, lá đoác thâm u dưới rừng cây đa tầng rợp tán lá là già trẻ gái trai Pa Cô ngày ngày lên rẫy mưu sinh và có mặt trên mọi nẻo đường đánh giặc. Gầy guộc, đen đúa, khô quắt nhưng ánh mắt người Pa Cô bao giờ cũng bừng sáng, miệng cười tươi hồn hậu, thân thiện, rất hiền, rất dễ mến.

Nói về người Pa Cô không phải nghe ai đó kể loáng thoáng rồi “bịa chuyện” thành văn hư cấu “nổ” tứ tung. Nhiều năm chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên, tôi và đơn vị Trung đoàn 6 - Phú Xuân là bạn đồng hành, là đồng chí đồng đội, là quân dân cá nước, chung chia gian khổ ác liệt, chia sẻ máu xương với người Pa Cô. Quên sao được những kỉ niệm vui buồn khắc sâu trong trí não như con trai ngậm ngọc trong nước biển chát mặn để có những chiếc nhẫn lấp lánh hạnh phúc cho đời.

Tin tuyệt đối vào Đảng, Bác Hồ và cách mạng, người Pa Cô vô cùng căm ghét kẻ thù, quyết không đội trời chung, không bao giờ thỏa hiệp. Tôi nhớ, đầu tháng 9/1972, đoàn vận tải từ mặt trận đến dốc Ông Già xuống Khe Rùa nghỉ chân, chuẩn bị vượt dốc Thanh Niên lên viện 94 thì gặp sự cố hi hữu. Nhóm vận tải người Pa Cô phát hiện mấy “thương binh” họ ke cáng là lính ngụy Sài Gòn. Mặt mày phừng phừng đầy căm giận, họ tuyên bố thẳng thừng: “Hắn là giặc, để cho hắn chết. Mình không cáng hắn lên viện mô…” Giải thích, động viên mãi không được, người phụ trách đoàn phải hoán đổi cho mấy người Pa Cô sang cáng thương binh quân Giải phóng. Yên việc nhưng họ vẫn cứ làu bàu: “Hắn là giặc, để cho hắn chết, đưa lên viện mần chi?…”

Một lần khác, có cán bộ vào bản Pa Cô tuyên truyền: “Cách mạng đang bước vào giai đoạn mới, sắp chiến thắng. Thế ta là thế đi lên…” Nghe vậy, một cụ già phản ứng ngay lập tức: “Không được. Mình không đồng ý. Thế cách mạng phải đi xuống mới mau thắng lợi. Đi lên mệt hung, lâu lắm! Không ưng cái bụng mô.” Người cán bộ trẻ lí lẽ mãi không được đành nhờ trưởng bản can thiệp. Người Pa Cô là thế, rất kiên định lập trường khi niềm tin đã thấm sâu vào tim óc, máu thịt. Hầu hết họ mù chữ, biết tiếng Kinh rất hạn chế, phải “dân vận khéo” người Pa Cô mới tin và hiểu, hiểu và tin có cơ sở bền vững lâu dài.

Hồ Đức Vai (thứ 5 từ trái sang) là người con ưu tú của dân tộc Pa Kô đầu tiên được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND và đã nhiều lần được ra miền Bắc báo công với Bác Hồ (Ảnh: TL)

Chuyện nữa. Ra viện, mưa rừng đầu mùa xối xả. Khe suối ngập nước lên tới vài mét. Các lối về mặt trận đều bị chặn. Gạo mang theo đã cạn, chỉ còn ít muối, con dao găm, bật lửa và cái ăng gô. Tôi, Khái và Dũng quyết định tạt vào chòi Mụ Hường tá túc, ngớt mưa sẽ tiếp tục hành quân về đơn vị. Mụ Hường (tên gọi của người Pa Cô) vốn người Kinh lấy chồng Tà Ôi phụ trách bản (chòi) khoảng 20 hộ. Đó là một dãy lán liền kề nhau, ngăn cách bởi vách nứa, có bếp riêng. “Nhà” chúng tôi nghỉ chỉ có hai ông bà già, con cháu đều “đi cách mạng”. Vừa ở rẫy về, hai gùi măng, sắn, rau… rỉ nước ướt đẫm sạp. Áo quần aam (cha, bố, ba) và ay (mẹ, mạ, má) cũng ướt sũng dính sát vào hai thân hình gầy gò, nhăn nheo, run bần bật. Chúng tôi trình bày lí do vào nhà, aam vui vẻ nhận lời và nói gì đó với ay. Mươi phút sau, một nồi đồng gần đầy nước được bắc lên bếp. Lửa cháy rần rật, nổ lách tách tỏa lan hơi ấm. Rồi rổ sắn, măng, ngô, gạo… với cả ớt chỉ thiên cùng “nhảy” vào nồi, sôi sùng sục. Nồi cháo “tà lục tà lạo” chín, cả nhà cùng ăn vô cùng đầm ấm, vui vẻ. Cháo nóng vậy mà aam, ay cứ vô tư dùng tay vốc từng bụm cho nhanh vào miệng. Tôi, Khái và Dũng được “ưu tiên” có thìa tự chế hẳn hoi nhưng không tài nào “cấp tập” như hai cụ. Phải luôn miệng hà hít mới cho trôi qua cổ thứ cháo lạ cay chảy nước mắt. Hai hôm sau, hai ông bà Pa Cô vẫn lên rẫy thu hái lương thực, thực phẩm, vẫn nồi cháo hổ lốn “Tà lục tà lạo”, vẫn vui vẻ vô tư với “Khách không mời mà tới” giữa lúc tắt mùa, đói rét hoành hành… Chưa hết. Cả ba đêm nghỉ lại ở chòi Mụ Hường, đêm nào cũng nghe đàn tà-lư vọng theo nhịp nhảy của đám trẻ “đi làm cách mạng” về múa hát ở khu vực trưởng chòi, trưởng bản. Vui đáo để!

Về đơn vị chiến đấu, dẫu trăm ngàn công việc bộn bề, giữa gian khổ và ác liệt, tôi vẫn không quên làng bản Pa Cô, chòi Mụ Hường. Bài thơ - Nhật kí số 20, in trong tập ĐIỂM DANH là nỗi niềm tâm trạng của tôi gắn với kỉ niệm chiến trường:

… Nhớ cảnh nhớ người nơi

làng bản

Aam lên núi bẻ măng ngàn

Ay bì bõm bên suối vắng

Củ sắn, rau rừng… tấm lòng son

Miền Tây, miền Tây! Tình

sâu nặng

Kỉ niệm giăng vương những

lối mòn…

(Nam Đông - Khe Tre, 1972)

Đã hơn 50 năm, già nửa thế kỉ chung sống, chiến đấu với người Pa Cô, những kỉ niệm còn tươi rói như mới diễn ra hôm qua. Cảnh cũ dù đã đổi thay nhiều vẫn còn đó. Những người xưa thuộc thế hệ chúng tôi không còn nhiều, đa phần đã là “người thiên cổ”. Nhiều người là thương binh, liệt sĩ, nạn nhân chất độc màu da cam/ dioxin, nạn nhân chiến tranh hủy diệt điêu tàn…

Tôi có dịp đến Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, Lalay, tham quan nhiều làng bản Pa Cô ở Trị - Thiên. Đổi thay chóng mặt. Dân trí cao, sung túc no đủ. Sản xuất, kinh doanh, phát triển du lịch mạnh mẽ ở vùng biên cương thanh bình, hạnh phúc. Điều đáng nói là hầu hết người Pa Cô làm chủ và rất tự tin, hướng tới tương lai trên mảnh đất âm u năm xưa.

Nhân kỉ niệm 60 năm thành lập Trung đoàn 6 - Phú Xuân anh hùng (10/10/1965 - 10/10/2025) tôi và nhiều đồng đội đã đến ngôi đền thờ hơn 13 ngàn liệt sĩ của đơn vị tại Ba Lòng thuộc tỉnh Quảng Trị để thăm viếng, tri ân bạn chiến đấu đã nằm lại vĩnh viễn trên chiến trường Trị - Thiên mà non nửa số đó chưa xác định được danh tính và chưa tìm ra hài cốt. Già nua ốm yếu, gặp nhau chỉ có ôm khóc, kể chuyện xưa trong đó có chuyện về người Pa Cô. Hơn 13 ngàn cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 6 hi sinh có nhiều người Pa Cô, đồng đội tôi. Giữa làn hương khói nghi ngút, hòa trong dòng người đông đúc có cả lớp trẻ người Pa Cô trong sắc phục “Thanh niên tình nguyện”. Bất giác, tôi lại nhớ về những năm tháng đánh giặc… Người Pa Cô xưa cũng như nay là vậy, trọn vẹn nghĩa tình. Đất nước, Đảng, Bác Hồ và cách mạng luôn trong tim. Đúng là “người Pa Cô con cháu Bác Hồ”.

H.Q.T