.TRANG THANH
Đấy là những ngày mưa xuân ảm đạm, nồm ẩm tái tê. Hoa xoan càng rụng nhiều, muỗi càng bay rặm mặt. Những con dơi to tướng nấp vào đâu đó trên mái rạ bay túa ra, chao qua liệng lại ngay trước mắt tôi.
Quyển sách trong tay lơi xuống. Căn nhà leo lét một ngọn đèn hạt đỗ vừa được cha thắp lên. Tiếng ho của cha khiến đốm lửa chao đi, phập phù, chực tắt. Nhưng trước khi tất cả những điều này diễn ra, đứa trẻ ấy đã có nhiều giây phút một mình, lắng nghe tiếng hót và cả bước nhảy khẽ khàng e ngại của chú sẻ nâu lạc đàn. Một đứa trẻ từ thuở bắt đầu biết chữ, đã (phải) đọc thơ Tú Xương, Truyện Kiều, thơ chữ Hán của Nguyễn Du, rồi cả Tam quốc diễn nghĩa. Trong nhà không có sách gì dành riêng cho nó. Mà nếu từ chối những cuốn sách già nua ấy, nó chỉ có thể chơi với tiếng dế ngân lên nơi góc vườn, hay dõi theo vệt bò của một con sên trần yếu ớt. Một đứa trẻ thường hay xấu hổ sẽ không bao giờ dám nói với ai rằng, nó mơ ước viết được một bài thơ...
Bay lặng im, bước chân đầu tiên đi tìm gương mặt của định mệnh
Bài thơ đầu tiên, tôi viết sau một buổi chiều cùng mẹ đi giẫy cỏ. Khi ấy tôi 12 - 13 tuổi. Mùa thu mang theo những cơn gió khô hanh trong buổi chiều ong nắng khiến tôi mỏi mệt. Sau buổi chiều ấy là bắt đầu một năm học mới, mẹ đã đến trường dự buổi họp phụ huynh đầu năm: Con theo mẹ lên những triền đê/ Lá cỏ cứa vào chân bật máu và con khóc/ Gánh cỏ oằn vai mẹ theo từng nhịp bước/ Lúc bấy giờ, con có hiểu gì đâu// Mẹ đến trường con trong tấm áo bạc màu/ Gặp bạn bè, con cúi nhìn bẽn lẽn/ Đi bên mẹ, những bước chân e thẹn/ Lúc bấy giờ, con có hiểu gì đâu// Tuổi thơ của con là những chú chim sâu/ Chiêm chiếp gọi khi thấy lòng trống đói/ Chim sâu bé nhỏ chẳng bao giờ biết nói/ Tiếng chim dại khờ, dằng dặc dấu hỏi tuổi thơ con.
Tuổi thiếu nữ, buồn bã nhiều hơn là mơ mộng. Trong thể chất yếu đuối của một đứa con gái còi cọc, ưa lặng lẽ, quan sát và nghĩ ngợi, tôi thu mình trong sự đeo bám dai dẳng của những khúc mắc nội tâm hơn là mở lòng hòa nhập với cuộc sống. Mẹ hay rủ tôi cùng làm vài việc như cắt gốc rạ, cuốc ruộng, tát nước, làm cỏ lúa, trồng rau... Tôi làm hời hợt trong khi thoắt chốc lại hoa mày chóng mặt, đầu óc vẩn vơ, lấn bấn với những câu hỏi ẩm ương rồi loay hoay tự tìm cách trả lời. Sau này nhớ lại quãng thời gian ấy, tôi đã viết bài thơ đối thoại (2003): mẹ ơi, muối từ đâu sinh ra?/ - từ mồ hôi của mẹ/ không phải. từ biển/ nhưng biển từ đâu sinh ra?/ - từ nước mắt của mẹ/ không phải. từ những dòng sông/ nhưng dòng sông từ đâu sinh ra?/ - từ nỗi buồn của người đời/ không phải. từ mưa mùa hạ/ nhưng mưa từ đâu sinh ra?/ mẹ đừng bảo rằng từ nước mắt!/ - còn con?/ con biết. mưa của trời/ mọi thứ đều của trời, mẹ ạ!// mẹ cúi nhìn theo/ nhát cuốc/ bổ/ xuống đồng.

Cuộc sống ở nông thôn ngày ấy nghèo và buồn, người lớn thường hay cãi nhau, nhiều khi chan tương đổ mắm, có cả xô xát. Tôi thường lo lắng, hoang mang, sợ hãi khi phải chứng kiến những bi kịch đời sống thường nhật, ngay cả khi nó chỉ diễn ra bên ngoài ô cửa nhà mình. Mẹ tôi ít khi cười. Cha càng ít cười hơn. Tôi nhớ nhất, luôn là tiếng thở dài của mẹ. Tôi đau xót nhất khi nhớ về những cơn ho quặn thắt ruột gan đã cướp đi người cha khi tôi mới mười bảy tuổi. Nên có lúc, tôi không thể ngưng lại ý muốn hỏi cha những điều mà một người bình thường chỉ có thể nghĩ đến trong cơn tuyệt vọng: thế giới bên kia có linh hồn thật không chả?/ có cuộc sống thật không cha?/ cha có nhìn thấy con hàng ngày?/ có thấy con tuyệt vọng không? (gửi cha). Thơ, với tôi, bắt đầu từ những điều muốn nói với mẹ: mẹ ơi/ sẻ nâu không biết hót là con/ bây giờ nhớ mẹ/ nhà mình nữa/ xóm nghèo/ dải làng cong dòng sông lưng mẹ/ mây cũng bay qua/ mưa cũng rơi qua/ bão lũ cũng tràn qua (gửi mẹ).
Thơ, với tôi, cũng bắt đầu với sự tự vấn. Chỉ nghĩ về cái tên của mình, soi gương nhìn thẳng vào diện mạo của mình, những dự cảm bất lành cũng đeo bám tôi không dứt: tôi nhìn/ tôi/ trán dô cằm nhọn gò má cao/ nhân trung sâu/ thọ đau kiếp nạn/ mím môi/ không sẻ cho người// tối lẫn nửa mặt/ tôi nhìn/ đau tôi/ trong câu thơ mất ngủ/ tôi khát nụ cười (Trang Thanh).
Bằng một cách nào đấy bí ẩn hơn tất cả những gì có thể vây bọc lấy tôi trong cõi mộng mị của riêng mình, tôi luôn nghĩ về ý nghĩa sự tồn tại người, bắt đầu từ bản thân: tôi mang gương mặt u ám/ kiếp mẹ thương cha/ trao vào tôi hình hài tình yêu trong suốt// đôi chân nhỏ bé/ đặt lên mặt đất/ dấu chấm than đầu tiên/ nỗi buồn loài người (định mệnh). Nhiều câu hỏi về thân phận con người, đã có trong những bài thơ đầu tiên tôi viết: tôi luôn tự hỏi: hôm nay sinh ra/ ngày mai hát ca hay than khóc?/ mình có chịu nổi cô độc không?/ có lúc tôi thèm như con thú hoang/ gầm rung đại ngàn tự do/ có lúc tôi thèm như em bé nhỏ/ hờn dỗi khóc vòi/ nhiều khi tôi thèm chết (định mệnh). Trong bài thơ mang tên viết cho Cương - người bạn đã gọi tôi là Trang Thanh, trong một bức thư vụng về gửi lên trường đại học, khi tôi 19 tuổi, tôi vẫn bắt đầu bằng tự vấn: Trang Thanh/ trang giấy trải rộng hay tiếng vọng?/ độc khúc ly bôi/ lặng lẽ con đường không dấu người. Tập thơ Bay lặng im kí tên Trang Thanh, được viết trong quãng 2003 - 2007, xuất bản năm 2008 và đoạt Giải thưởng thơ Lá Trầu năm đó, đã hé lộ một “cam kết định mệnh” giữa tôi và chữ: tôi làm người thơ kể chuyện mình, và kể chuyện nhân gian (ước mơ, 2004). Từ đấy, thơ, với tôi, chân thực như từng trang nhật kí, hiện diện một gương mặt xa vắng u hoài, triền miên nghĩ ngợi, nhưng cũng đầy hăm hở những bước đầu tiên trên con đường thành nguyện ước mơ thi sĩ, trong những “cam kết định mệnh” của riêng mình.
2. Mây trắng - “tang vật” của thời gian, tình yêu và những “cam kết định mệnh”
Bốn năm sau Bay lặng im, tôi in tập thơ Mây trắng, để khép lại câu chuyện tưởng chừng dang dở giữa tôi và nhà văn Nguyễn Khắc Phục, vì phần lớn tập thơ này tôi viết cho anh. Nhưng khi cùng đọc lại tập thơ này, chúng tôi hiểu rằng, Thơ đã “kí sinh” trên dòng Thời Gian nặng nề, khắc khoải của chúng tôi. Còn chúng tôi, phải được “kí sinh” trên chính tình yêu máu thịt của đời mình. Một tình yêu mà từ đó, thơ đã sinh ra - trong bất an và say đắm; đã tạm trốn đi - trong bình yên, hạnh phúc của tháng ngày ngắn ngủi; và rồi sẽ trở lại - khi bóng tối trùm lên ngôi nhà có một người khuất bóng. Thơ dự cảm cho chúng tôi tất cả những điều ấy: ta đã nói với nhau rất nhiều/ về sự già cỗi của những hàng cây/ về đỉnh núi cao ngất, những vực sâu/ biển một ngày kia còn mình ta với sóng (dự cảm). Nhưng nếu chúng tôi chấp nhận xa nhau, thì suốt cuộc đời này, sẽ chỉ còn sống trong, hoặc trống rỗng, hoặc nặng nề, khắc khoải. Anh như bóng của cây gạo, tôi có lúc lại muốn bay lặng im và thèm được tự do như mây trắng. Một cây gạo rực lửa không nỡ thiêu đốt mây trắng. Nhưng mây trắng lại không đành lòng bỏ đi mà nợ một lời xin cây gạo lượng thứ. Bởi vậy, chúng tôi đã cố buộc cái không hình dung thành cái có thể nắm giữ, dù biết rằng, rồi đây, tất cả chỉ là một giấc mộng... Trong tôi, những hình dung về con đường chữ rõ nét dần hơn trong Mây trắng với những câu thơ đầy hoang mang: mẹ đã dạy chúng con thương nhau vô điều kiện/ nhưng cuộc sống cứ bỏ đi đâu đó bên ngoài ô cửa nhà mình/…/ làm sao chữ có thể đậu lại trên dải đất này/ làm sao con dám hi vọng/ ngày chết rất nhanh/ mặt đất chạy quá chậm/ thi sĩ sinh ra trong sự giả dối căng đầy... (thi sĩ). Từ đấy, tôi biết rằng, con đường của thi ca là một hành trình đầy bất trắc. Đã nhiều đêm tôi mơ thấy những nhà thơ đã chết/ trở về đòi nợ tôi đêm bồng bềnh suy kiệt (loài cô độc). Nhà thơ bước vào giấc mộng đời người, đôi khi, cơn cớ chỉ bằng những hình dung của chữ. Cho dù, “chữ chữ chữ âm u”, “chữ muốn lao khổ tim tôi thêm những lần suy kiệt”, nhưng là bởi, giữa chúng tôi đã bắt đầu vì chữ, thì sẽ cùng nhau trả nợ cuộc đời mình cho chữ. Mây trắng, do đó, đã trở thành “tang vật” cho thời gian, tình yêu và những “cam kết định mệnh”: còn tiếng thở sâu trên đất này/ còn mây trắng bay (mây trắng). Ai cũng biết, mây trắng không bao giờ ở yên, không bao giờ thuộc về vĩnh hằng bất biến, bởi thế, họa chăng, nó chỉ có thể thuộc về cam kết cuộc đời của những nhà thơ, những người sẵn sàng hiến mình cho một giấc mộng.
3. thanh không - “bài thơ khóc nhà thơ”
Trong 5 năm yên ấm: mơ ngôi nhà chúng ta về/ tiếng con ú òa ngoài hiên/ những đóa hoa mẫu đơn/ tĩnh lặng tận cùng dâu bể (bình yên), tôi dường như không viết thơ tình. Cho đến tháng 6/2015, sinh nhật tôi không nến cũng không quà/ hoa độc nở trên màn hình sinh thiết (khúc bi ai từ rừng hoa độc). Bài thơ đầu tiên kéo tôi trở lại, lấy chữ làm điểm tựa mong manh trong cơn tuyệt vọng, là bài thơ cây đèn soi vào bóng tối, với lời đề tựa Cho Nguyễn Khắc Phục và con trai chúng ta.
chữ đã bỏ tôi?/ lòng dạ ruỗng rời. Tôi hỏi mà trong lòng biết rõ, nếu số phận nghiệt ngã khiến người yêu thương nhất có thể rời bỏ tôi và các con, thì chữ nhất định sẽ quay trở lại. Lúc này, tôi nhớ đến bài thơ có tên là khúc hát đêm cuối cùng, cũng là bài thơ tôi viết cho anh Nguyễn Khắc Phục, sau này in trong thanh không: chúng ta còn một đêm này/ những hoa quỳnh không biết có ngày mai.
Chưa từng có cơn đau nào xoáy sâu và kéo dài trong đời tôi đến thế: tôi muốn hỏi trời cao về những kiếp đọa đày/ người chỉ cho tôi mái đầu xanh những vành tang trắng. Tôi từng nhiều lần nghĩ mình sẽ chết theo anh: có thể nào sống lại những cánh đồng/ tôi mơ bầy sẻ nâu hạ huyệt mộ mình trên mây trắng (viết cho người ở phía bóng tối). Nhưng rồi tôi phải sống, vì các con cần tôi. Tôi có lúc phải “trò chuyện với linh hồn” để cứu vớt lấy chính mình khi mỗi ngày qua đi, những câu hỏi ngày mai ra sao/ nỗi hoại tàn vong bóng/ đứt đoạn kinh cầu, giam hãm tôi trong ớn lạnh và đau ốm triền miên. Nhiều năm liền sau khi anh Phục mất đi, tôi gần như không thoát khỏi kí ức: mỗi ngày bóng cùng ta lẳng lặng ôm cầm/ kí ức thảo thơm kí ức nhọn kim lưới rùng bể tận. Tôi sống trong nỗi đau, trong sợ hãi, đối diện với nỗi đau như nó là một phần không thể tách khỏi thể xác và tinh thần, bao trùm lên cuộc sống vốn không hề dễ dàng. thanh không (2023) ra đời 12 năm sau Mây trắng. Tôi xem đó như một bài thơ dài, khóc cho người đi khuất, và khóc cho thân phận nhà thơ của mình: lời nối lời máu cháy/ trên da thịt bầm đau vực đáy/ ngôn từ đốt nỗi mây mây/ từng lời thiêu/ chữ rụi/ trùng hoang/ tiễn người san mộng/ chốc tàn. thanh không kết thúc bằng: một bài thơ tang trắng/ khóc bài thơ tro hồng...
Sau cơn khóc dài, khóc lặng, lòng ta trong hơn và mặn hơn. Có một lần nào đấy, anh Phục từng nói với tôi, về một ngọn lửa gọi tên là “lửa tam muội”. Một năm sau ngày anh đi, tôi viết: có hay không lửa tam muội lửa tam muội/ tôi kiếm tìm và tôi bối rối/ những đóa phù dung thảng thốt đổi màu/ nào thoát được kiếp mình ngắn ngủi (viết cho người ở phía bóng tối). Ai đó nghĩ rằng thở là hoạt động tự nhiên thuộc về bản năng sống, không sai, nhưng tập thở để tìm lại nội lực đang dần mất đi “trên da thịt đã từ lâu ướp lạnh” (lạnh), lại là một cuộc luyện tâm đầy thử thách. Tôi đã kiên nhẫn thở như từng kiên tâm “viết, là để tự thắp lửa cho riêng mình”. Những bài thơ được viết từ trải nghiệm Thở, tôi còn đang cất giữ, nhưng bóng dáng của những ngày tháng nhẫn lặng tìm lại nhịp thở ấm áp, khơi lên thứ “lửa tam muội” thẳm sâu trong cõi hỗn mang của nội lực, đã thấp thoáng trong thanh không và sau đó là trên con đường tóc.
Nỗi đau - “trên con đường tóc”, và hoa - trên con đường chữ
Có lẽ, cả bốn tập thơ của tôi đều được viết trong ý nguyện: chữ là máu cháy lên/ đốt trang đời vô nghĩa, nhưng với thanh không và trên con đường tóc, ý nguyện ấy trở nên tường minh hơn trong hành trình tự sưởi ấm mình bằng ngọn lửa tam muội, để nỗi đau buồn dần được thoát kiếp.
Hơn 20 năm một cuộc viết trong đời, chưa bao giờ ngừng lặng những câu hỏi xoay quanh chữ, tôi nhận ra, mình đã sống với thi ca trong một cuộc trốn chạy bất thành. Từ Bay lặng im đến trên con đường tóc, giữa tôi và chữ, là một cuộc thử thách trong giằng co, cật vấn, xa cách, buông quên, đủ hết, nhưng cuối cùng, có lẽ, vẫn nguyên vẹn một hành trình thực hiện những “cam kết định mệnh”.
Từ một “con sẻ nâu không biết hót” (bay lặng im), hoang mang cật vấn “chữ chữ chữ âm u” (mây trắng), đến con chữ biết hát/ trên đóa hoa thời gian (thanh không) và “buồn lộng lẫy nở đêm” (trên con đường tóc), là hành trình trả giá cho ước mơ thi sĩ, bằng tất cả những được - mất của một đời người. “Trên nỗi trầm uất hóa vào ta thành bệnh” (thuốc độc), chính là trạng thái thường trực trong không gian sáng tác của tôi. “Nỗi mây giông chữ nghĩa” trong tôi được sinh ra chính từ sự “mài mòn nội tâm để viết”. Bởi vậy, sống và viết, với tôi, để trước hết, giải tỏa trạng thái tâm lí bất an, tìm cách gỡ bỏ những đám rối cảm xúc luôn đè nặng và trói buộc tâm can mình: tôi hóa câm/ để chi tiêu tâm hồn mình/ cho những bài thơ vết dấu mùa thu cũ (câm).
Nếu bài thơ trên con đường tóc (viết năm 2018) tựa một sự xác quyết âm thầm cho hành động dấn thân: “người đàn bà đi trong đêm tối đen bằng tóc”, thì nỗi đau tỏa hương trên cành gai (2019) lại nguyện thành cho những nỗi đau lặng lẽ nở hoa: người ta xé/ em thành lụa/ đậu trên những cành gai bày chông giăng đầm gọi đông// người ta kiếm sắc/ em là lụa/ muốn ghé đầu cành để nở một cánh sen. Song tôi đã mất nhiều năm, để chờ đợi giây phút được lắng nghe “tiếng tách cánh của một con bướm xanh vừa nở” (giấu). Công cuộc đi tìm lời giải về chính mình, cũng khó khăn như đi tìm “lửa tam muội”, thứ lửa của tâm nhiệt sinh ra từ định lực khi ta quán chiếu thật sâu vào tâm thể. Nhưng một khi tìm thấy, thì thứ lửa nhuần ấm ấy sẽ giúp ta lành thương để nội lực trở nên mạnh mẽ và những khuất lấp của đời sống nội tâm trong ta dần dà được soi sáng.
Người sáng tác như một con ong mải miết bay, mỗi ngày lại mong tìm thấy một vườn hoa mới. Nếu không có ai đó nhắc hỏi, có lẽ tôi cũng không ngưng cánh, ngược “trên con đường tóc” trở về “bay lặng im”, để thấy mình đã bơ vơ, tan rã và trắng tay như thế nào cho những day trở về phẩm giá người, phẩm giá của tình yêu, về ý nghĩa sự tồn tại của kiếp người…
Tình yêu vốn mang sẵn trong nó những vết thương, càng ủ kín càng dễ mưng tấy, càng sở hữu càng dễ rơi vào đau khổ. Khi dấn thân “trên con đường tóc”, tôi đã cố gắng dâng hiến bằng hết tình yêu, lòng khao khát và những nỗ lực tột cùng, để có thể nung chảy tất cả những nỗi đau trong tim mình thành ngọn lửa. Một ngọn lửa tự cháy lên, tự sưởi ấm, tự soi rọi, và đôi khi, có khả năng thiêu đốt tất cả những buồn đau tù đọng, để từ trong bóng tối, trong “nỗi mây giông chữ nghĩa”, “đã vò ta tàn tận”, có nỗi buồn lặng lẽ nở hoa… .
T.T