Thế là, từ 5 năm nay Nhà số Bốn đã có mấy nhà văn về miền mây trắng, bắt đầu từ Nguyễn Quốc Trung (sinh năm 1956) đến Ngô Vĩnh Bình (sinh năm 1953) rồi Khuất Quang Thuỵ (1950) và nay là Nguyễn Đức Mậu.

Biết sinh - tử là chuyện bình thường của một đời người mà không khỏi nao lòng, tiếc thương khi có những đồng đội, đồng nghiệp ra đi. Nhất là với những ai đã từng sống và làm việc trong Nhà số Bốn. Đấy là cách gọi của rất nhiều bạn viết, bạn đọc về toà soạn tạp chí Văn nghệ Quân đội ở 4, Lý Nam Đế Hà Nội. Vâng, Phố Nhà binh, Hà Nội nghìn năm văn hiến có một nơi như thế. Khi về Nhà số 4, tôi đã nghe ai đó nói rằng, nữ sĩ Xuân Quỳnh xinh đẹp tài hoa đã gọi đây là “Trụ sở thứ hai” của Hội Nhà văn Việt Nam. Không ai cãi lại điều đó cả, vì Văn nghệ Quân đội vốn là nơi quy tụ nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng - những nhà văn chiến sĩ như cách chúng ta thường gọi - trong đó có Nguyễn Đức Mậu. Cách đây hai hôm, tôi có điện thoại cho anh Nguyễn Đức Mậu, nghe giọng nhà thơ trong máy còn vang và khoẻ tôi mừng thầm. Anh bảo, Mậu còn đang đi chơi với bạn bè, Quý nhớ giữ gìn sức khoẻ nhé. Thế mà, trưa nay, nhà thơ Phó tổng biên tập Đoàn Văn Mật đã nghẹn ngào báo tin cho tôi: “Anh ơi, chú Mậu đã mất rồi!” Tôi sững sờ, trời ơi, sao bất ngờ vậy! Thế là, từ 5 năm nay Nhà số Bốn đã có mấy nhà văn về miền mây trắng, bắt đầu từ Nguyễn Quốc Trung (sinh năm 1956) đến Ngô Vĩnh Bình (sinh năm 1953) rồi Khuất Quang Thuỵ (1950) và nay là Nguyễn Đức Mậu. Tạp chí Văn nghệ Quân đội thêm những khoảng trống. Buồn. Thương. Nói sao hết!

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Anh Nguyễn Đức Mậu sinh năm 1948, tuổi Mậu Tý. Người ta bảo rằng, những người tuổi Thân như tôi (sinh năm 1956) sẽ rất hợp với những ai tuổi Tý. Tôi không rành về chuyện xung - hợp liên quan đến tuổi tác nhưng ngẫm lại thì thấy khá đúng với trường hợp tôi với anh Nguyễn Đức Mậu. Cho đến bây giờ nhìn lại những gì tôi đã có với nhà thơ tài hoa Nguyễn Đức Mậu trong mối quan hệ tình cảm và công việc không có gì phải ân hận. Kể từ mùa xuân năm 1997, tôi từ Binh đoàn Trường Sơn bước vào Nhà số Bốn, trở thành biên tập viên thơ rồi đến khi được anh Nguyễn Đức Mậu bàn giao Trưởng ban Thơ (anh chuyển qua Ban Sáng tác), sau đó anh nghỉ hưu thì tình cảm chúng tôi vẫn vẹn nguyên như hồi nào. Nguyễn Đức Mậu luôn luôn và mãi mãi là người Anh, người Thầy gần gũi, đáng kính của tôi. Anh yêu mến tôi, chỉ bảo dìu dắt tôi trong công việc biên tập. Tôi làm sao quên được lời anh căn dặn: “Em à, nếu ai đó có ghét mình, thậm chí mắng mỏ mình nhưng thơ họ hay thì vẫn phải in cho họ. Thơ hay của cộng tác viên sẽ làm sang cho tạp chí đó”.
Trong thâm tâm của mình, tôi luôn trân trọng anh, một nhà thơ đã viết hàng nghìn câu thơ trận mạc. Có thể nói rằng, với nhà thơ Nguyễn Đức Mậu niềm đam mê lớn nhất của cuộc đời là thi ca. Kể từ bài thơ đầu tiên in trên báo Quân khu Ba vào năm 1964 khi anh mới 16 tuổi với cái tít đầy thách thức Đế quốc Mỹ hãy coi chừng cho đến nay Nguyễn Đức Mậu đã có một gia tài thơ ca to lớn cùng những giải thưởng văn học tầm cỡ. Anh đã được giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1972 - 1973; 3 lần được trao giải thưởng Bộ Quốc phòng vào các năm 1989, 1994, 2004; 3 lần được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993, 1999; giải thưởng Asean năm 2001 và giải thưởng Nhà nước năm 2002.
Đi qua cuộc chiến tranh chống Mĩ và là người lính của sư đoàn chủ lực 312, nhà thơ mang áo trận Nguyễn Đức Mậu đã có mặt ở những cánh rừng Lào hay có mặt ở vùng đất khét lẹt mùi đạn bom của Quảng Trị. Hành quân. Đi chiến dịch. Khoét đất đào hầm. Cơm nắm lương khô. Lăn lốc tơi bời bom đạn như những người lính trận khác. Sự khốc liệt của chiến tranh không làm lụi tắt nổi hồn thơ chiến sĩ của anh. Với sự hoà nhập tự nguyện và rất đỗi trong sáng đã cộng hưởng vào niềm đam mê thi ca và tài năng của tác giả tạo nên thành công mang tên Nguyễn Đức Mậu. Trong hàng nghìn câu thơ trận mạc của anh có những câu thơ, bài thơ, trường ca còn trụ vững với thời gian bởi sự bi tráng của cảnh huống, bởi sự lựa chọn kĩ càng của chi tiết, vừa anh hùng, vừa lãng mạn, vừa thực vừa ảo, vừa mộc mạc vừa lấp lánh mà tất cả những cái đó được thể hiện trên nền cảm xúc rất mạnh mẽ và chân thật của người cầm bút. Đó là thơ, cũng là cuộc sống, là cái chung nhưng cũng là cái riêng. Giai điệu tâm hồn của nhà thơ cũng là giai điệu tâm hồn của một công dân - chiến sĩ.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu và nhà thơ Nguyễn Hữu Quý, tác giả bài viết cùng tham gia Hội thảo văn học nghệ thuật chủ đề LLVT và Chiến tranh cách mạng, tháng 4 năm 2025 tại Hà Nội. Ảnh: FBNV
Tất nhiên rồi, cả tôi và rất nhiều người đọc sẽ không quên bài thơ Nấm mộ và cây trầm của Nguyễn Đức Mậu. Không thể nói khác được, đây là một bài thơ cảm động viết về sự hi sinh của người lính chiến trường. Nhân vật Hùng trong bài thơ là đồng đội cũng là bạn thân thiết của anh quê ở Phú Thọ. Bài thơ có cái tứ rất lạ: một cây trầm vừa bị bom cháy trở thành cây nhang cắm trước nấm mộ người liệt sĩ. Thơm rất xa theo gió thoảng hương trầm/ Cây trầm đẹp như cuộc đời chiến sĩ/ Sống tươi tốt bao niềm tin bình dị/ Thân hi sinh thơm đất, thơm trời. Có lẽ, sự hi sinh của người lính đã trở thành sự ám ảnh thiêng liêng đối với Nguyễn Đức Mậu và đó cũng là chất liệu làm nên nhiều bài thơ, câu thơ đầy xúc động của anh. Trong bài thơ Gửi Sư đoàn cũ anh đã viết: Nếu tất cả trở về đông đủ/ Sư đoàn tôi sẽ thành mấy sư đoàn/ Câu thơ ấy năm chiến tranh tôi viết/ Trước những hàng bia mộ dọc thời gian…Tôi tin bạn đọc sẽ còn nhắc tới nhiều tác phẩm viết về chiến tranh và người lính của Nguyễn Đức Mậu. Cứ nghĩ rằng, hình như cuộc chiến ấy vẫn chưa hề chấm dứt trong những người lính cầm bút như anh. Anh viết không chỉ vì kí ức chiến tranh đầy ám ảnh mà còn vì khát vọng hoà bình tha thiết của dân tộc mình. Những vần thơ viết về chiến tranh cũng là những khúc ngân của khát vọng bình yên và hạnh phúc. Còn điều này nữa, đó chính là sự nhắc nhở, là tri ân với những người đã ngã xuống vì Tổ quốc của chúng ta. Khi sống giữa Thủ đô, anh vẫn đầy thao thức và xao xác: Tôi cùng bè bạn về xuôi/ Còn nghìn bia mộ nối lời rừng xanh/ Nắm xương người lính vô danh/ Vùi trong đất đã hoá thành cỏ cây…
Dù anh đi vào cõi vĩnh hằng rất mau lẹ nhẹ nhàng, một cách thoát cõi không muốn làm khổ ai, làm phiền ai nhưng tôi vẫn muốn níu nhà thơ viết hàng ngàn câu thơ trận mạc lại để nói rằng: Nguyễn Đức Mậu xứng đáng, rất xứng đáng để mọi người yêu thương. Gia đình, người thân. Bạn viết, bạn đọc. Bởi, ngoài những câu thơ ám ảnh, anh sống rất giản dị, ấm áp và hồn hậu. Đấy là một người chu đáo, tử tế. Ở miền Trung xa xôi, tôi vẫn hình dung ra anh, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đang chậm rãi đi qua Nhà số Bốn, nơi có hai cây đại ở cổng như là nhân chứng cho những buồn vui của những thế hệ nhà văn chiến sĩ ở nơi này. Cái dáng đi hơi lao về trước và cái đầu hơi cúi xuống tôi làm sao quên được. Cả giọng đọc thơ chầm chậm nhỏ nhẹ của anh nữa, tôi vẫn lưu lại trong kí ức mình: Có giai điệu và vượt qua giai điệu/ Thơ ngũ ngôn vượt xa dòng ngũ ngôn/ Thơ lục bát vượt xa dòng lục bát/ Thơ tự do gập ghềnh xoáy thác/ Sau giai điệu câu thơ là giai điệu tâm hồn và đây nữa: Khi mọi buồn vui trong lòng vơi cạn/ Khi con tằm thiếu lá dâu xanh/ Tôi lo sợ những hạt xoàn giả tạo/ Những câu thơ tự trang điểm cho mình…
Nhà số Bốn. Những khoảng trống là có thật. Nhưng những vầng sáng cũng là có thật. Vẫn đủ cho những yêu thương quây quần và những ghi nhớ trong và ngoài trang sách, con chữ tụ hợp. Sông và suối đều là những dòng chảy tạo nên rung ngân trìu mến cho cuộc đời này. Bây giờ, mỗi khi về Hà Nội, nơi tôi từng gắn bó 25 năm sẽ không còn được gặp gỡ, bắt tay, chuyện trò với các anh nữa. Ngô Vĩnh Bình. Khuất Quang Thuỵ. Nguyễn Đức Mậu. Cả Nguyễn Quốc Trung ở tận Sài Gòn thi thoảng lại bay ra Thủ đô nữa. Nhưng tôi tin các thế hệ cầm bút ở Văn nghệ Quân đội vẫn chọn Nhà số Bốn để trao gửi những tâm tình về Tổ quốc và Nhân dân, về thế sự nổi chìm, trong đục. Nói như thế là tôi vẫn được gặp gỡ các anh chị, những người đã khuất vắng bởi giá trị của các nhà văn chiến sĩ không dễ gì bị lãng quên hay đánh mất. Những trang sách họ để lại vẫn còn đây. Có phải thế không nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, người Anh, người Thầy thân yêu của tôi…
Cam Lộ, Quảng Trị chiều 8/4/2026
Nhà thơ NGUYỄN HỮU QUÝ