. CHU HOÀNG SINH
Qua cầu Bến Mộng
Tôi vẫn tự giễu mình là gã nhặt chữ vụng về. Cái bằng cử nhân chính trị theo tôi như một món nợ khó dứt. Người ta hay nói học chính trị thì khô như ngói, chán như cơm nguội. Tôi cũng từng cười theo. Nhưng ngẫm kĩ, chính từ cái phần tưởng như khô ấy, tôi lại nghe rõ nhất máu mình chảy, thứ từng rần rật trong những mùa hè xanh thời sinh viên, khi chỉ nghe hai chữ “lên đường” là trong ngực đã nóng ran.
Rồi tôi nhập ngũ vào Tiểu đoàn 21, Bộ Tham mưu Quân đoàn 3 (hiện là Quân đoàn 34). Sau ba tháng tân binh, mồ hôi, bụi đất và kỉ luật dần gò một thằng sinh viên còn nhiều bốc đồng thành người lính biết đứng thẳng, biết làm việc đến nơi đến chốn. Và vừa kịp quen tiếng kẻng, mùi chăn màn doanh trại, quen cái vị nhạt của những bữa cơm ăn vội; khi vừa dứt buổi tuyên thệ của những cậu lính đeo hàm binh nhì, đơn vị đã phát lệnh hành quân làm dân vận.
Điểm đến là Ia Broăi. Hồi đó, chỉ cần nhắc cái tên ấy ở đơn vị là mấy anh đi trước đã nheo mắt cười: “Qua Bến Mộng là biết”. Quả thật, cái nhịp cầu ấy như một cái ngưỡng. Bên này Ayun Pa còn quen thuộc một chút. Qua khỏi cầu Bến Mộng, vượt sông Ba, đi sâu về phía buôn Broăi, gió bắt đầu khác, đất bắt đầu khác, cái nắng cũng khác. Nó không chỉ từ trên trời rót xuống, nó còn hắt lên từ mặt đất cát pha một màu lơ lớ, từ mái tôn nóng ran, từ những triền cỏ khô đứng im trong gió.

Thanh (trái) và Hùng (phải) bên các thiếu nhi tại địa phương năm 2016
Tối trước ngày đi, doanh trại im lìm. Chỉ tiếng quạt trần quay cộc cạch, tiếng dép ai kéo nhẹ trên nền, tiếng đám dế gọi nhau ngoài vọng gác. Chuẩn bị tới giờ ngủ nghỉ, tôi lúi húi xếp đồ bên chiếc ba lô con cóc, mở ra rồi buộc vào mấy lượt như thể chỉ cần sơ ý một chút là sáng mai sẽ quên mất thứ gì rất quan trọng.
Anh Tuệ, Tiểu đội trưởng, đi ngang qua, tựa cửa nhìn rồi cười khùng khục:
“Chú mày lo cái gì mà lục cục vậy? Hồi sinh viên đi tình nguyện chắc còn hăng hơn bây giờ chứ?”
Tôi gãi đầu:
“Báo cáo anh, hồi đó khác”.
Anh ném cho tôi mấy phong lương khô, giọng tỉnh queo:
“Ừ, khác. Hồi đó đói còn được than. Giờ làm dân vận, không sợ việc, chỉ sợ đang làm mà bụng nó réo. Cầm lấy”.
Bằng mấy phong lương khô dúi vội, bằng một câu nghe cộc mà ấm, cứ thế khiến tôi an tâm đánh một giấc ngon lành.
Sáng hôm sau, tiếng kẻng vừa xé qua màn sương, cả đơn vị chăn đã vuông, ba lô sẵn sàng lên vai. Chiếc xe Hải Âu 24 cũ vàng kệch, máy nổ như người hen lâu năm, vừa leo dốc vừa gầm gừ. Anh em ngồi san sát, ba lô kẹp giữa hai đầu gối, cuốc xẻng lạch cạch mỗi lần xóc.
Qua ô cửa kính bụi mờ, những góc xa Gia Lai khác biệt hiện lên trước mặt. Không còn những gốc cà phê, cao su mà thay vào đó là những vạt mía hun hút, những cánh đồng phơi nắng, những khoảng mặt hồ chói đến nhức mắt. Xe bò xuống phía Bến Mộng. Từ trên nhìn xuống, sông Ba lặng mà rộng, như giữ trong lòng cả cái nắng khô khốc của vùng này. Qua cầu, đường vào Ia Broăi, xe đi qua cuốn bụi dựng thành một màn trắng mỏng, nhìn người ngồi bên cạnh đường chỉ còn thấy nửa khuôn mặt. Qua Bến Mộng, tôi hiểu, đây là một vùng đất không chỉ có gió rát, mà là nơi người ta phải sống và lớn lên trong chính cái rát ấy.
Ia Broăi đón chúng tôi bằng cái nắng hanh và một thứ gió thổi gắt từ đồng mía vào, khô, rát, quất ngang mặt như quệt bằng lá lúa già. Trung tâm xã nằm ở một khoảng ngã ba không xa buôn Broăi, quanh đó là trụ sở xã, trạm y tế, vài gốc cây lớn đứng lì trong gió nóng. Nhìn xa hơn là vùng ruộng đồng ven sông, thứ đất được phù sa bồi mà vẫn giữ nguyên cái sự cằn cỗi, cứng cỏi của đất.
Chúng tôi đóng quân nhờ ở khu dân quân tự vệ, trải tăng, xếp đồ, nhận việc rồi vào guồng gần như ngay lập tức. Mới hơn chín giờ mà nắng đã hắt từ mái tôn xuống. Tiếng dao phát bổ vào bụi rậm nghe phập phập. Tiếng cuốc nện xuống đất nghe chát và đanh. Cả đoàn chia ra chỗ thì nạo vét mương, bộ phận gom rác, phát cỏ quanh khu dân cư.
Gần trưa, nước trong bi đông của tôi cũng như vừa phơi trên mái tôn. Tôi ngửa cổ uống một hơi, thấy nước ngai ngái mà vẫn quý như nuốt được chút bóng râm. Gió từ cánh đồng mía thổi vào không làm dịu người, chỉ hong mồ hôi thành muối trên mép. Có lúc tôi dựng cán cuốc xuống bờ đất, vừa chạm tay lại đã thấy nóng ran.
Có bà cụ bưng ra ấm nhôm xỉn quai, mấy cái ca men sứt miệng, đặt xuống vệ cỏ rồi bảo:
“Nắng như thế này, người quen còn ngại đi. Mấy chú làm riết từ sáng, dân nhìn mà thương”.
Đến chiều hôm đầu tiên, đồng chí Dũng, Chính trị viên phó Tiểu đoàn, giao cho tổ ba người gồm tôi, Thanh và Hùng một nhiệm vụ nghe qua tưởng nhẹ mà về sau thành ra nhớ cả đời:
“Ba cậu mai mở điểm cắt tóc miễn phí cho bà con”.
Thanh sáng mắt lên như bắt được vàng, nó vốn có tiếng cây kéo vàng ở đơn vị. Còn tôi chỉ thấy sau gáy gai gai.
Đêm đó, nằm trên tấm tăng trải dưới mái hiên ủy ban, nghe gió khô quệt qua tán cây, tôi cứ nghĩ mãi về cái salon dã chiến ngày mai. Trăng sáng vằng vặc, trong tiếng dế rả rích và mùi đất khô, tim tôi cứ thế cùng nỗi lo đi vào giấc đêm.
Một kỉ niệm khắc dấu
Sáng hôm sau, điểm cắt tóc miễn phí dựng lên dưới tán dù bạc màu. Tấm băng rôn đỏ phần phật trước gió, dưới đấy là chiếc ghế nhựa kê giữa sân. Một cái gương cũ dựng tạm vào thân cây. Kéo, tông-đơ, bình xịt nước, khăn choàng bày ra ngăn nắp. Nhìn cũng oai đấy. Chỉ có điều khách thì vắng hoe.
Chúng tôi ngồi đợi, mắt dán ra con đường đất trước mặt. Nắng bò chậm từ gốc cây ra giữa sân. Bụi cát lâu lâu bị gió quẩn thổi tung thành dải mỏng. Thanh gõ kéo lách cách lên thành ghế:
“Mở tiệm từ sáng mà như chờ người yêu đi chợ”.
Hùng cười:
Chờ đi. Dân mình còn nghe ngóng xem tay nghề mấy ông lính tới đâu.”
Mãi gần giữa buổi, khi nắng đã đứng chặn trên đầu, một cô gái trẻ dắt theo cậu em trai nhỏ bước vào. Cô gầy, nước da sẫm nắng, tóc buộc gọn sau gáy, đôi dép nhựa mòn vẹt ở gót. Cậu bé đi cạnh tóc phủ gần kín tai, mắt nhìn chúng tôi vừa tò mò vừa cảnh giác.
Cô gái cất tiếng trước:
“Mấy chú... cắt tóc giúp em trai em với”.
Thanh nhanh như điện:
“Gọi bằng anh thôi cho nó trẻ. Vào đây, chú em”.
Cậu bé nhìn chị nó. Chị gật đầu, nó mới chịu ngồi. Tôi quàng khăn. Thanh bật tông-đơ. Cái tông-đơ vừa áp vào đầu, thằng bé đã rụt cổ. Thanh giữ nhẹ vai nó:
“Ngồi yên, một chút là đẹp trai hơn anh bộ đội”.
Cô chị đứng sát bên, bàn tay bấu vào mép ghế nhựa. Tôi đang cúi kéo lại tấm khăn choàng thì nghe rẹt; một tiếng rất ngắn. Đủ làm cả ba chúng tôi khựng lại. Thằng nhỏ há miệng một nhịp rồi mới òa khóc. Máu bật ra đỏ lòm giữa mớ tóc ướt.
Cô chị lao tới, hất tay Thanh ra:
“Trời ơi, mấy anh làm cái gì vậy?”
Chỉ một câu thôi mà khoảng sân chật hẳn lại. Cậu bé ôm đầu khóc rú. Cái kiểu luống cuống rất lính trẻ bày ra: người tìm khăn, người đứng chết trân, người lẩm bẩm chửi mình trong họng.
May mà tôi có thói quen nhét mấy miếng băng cá nhân trong túi áo. Đi hành quân tôi hay lo linh tinh, hôm ấy cái tính ấy cứu cho cả bọn một phen. Tôi chạy tới, cúi xuống thật thấp, gạt phần tóc dính máu, lau nhẹ. Cậu bé run bần bật.
Tôi vừa dán băng vừa nói:
“Không sâu đâu. Ráng chút. Nam nhi mà, tí máu ăn thua gì”.
Nói vậy thôi chứ tay tôi cũng run. Cô chị đứng sát bên, mắt đỏ hoe. Tôi ngước lên, bắt gặp đúng ánh nhìn ấy. Không hẳn là trách móc. Trong đó còn có cả nỗi bất lực của một người chị nghèo vốn phải gánh nhiều thứ hơn tuổi mình.
Thanh lí nhí:
“Anh xin lỗi... anh sơ ý quá”.
Cô gái cắn môi:
“Tóc bết máu hết rồi. Thằng nhỏ nó sợ đau lắm”.
Tôi chìa tay:
“Để tôi làm nốt”.
Không hiểu sao lúc ấy tôi lại đủ bình tĩnh. Có thể vì khi chuyện đã xảy ra, ai đó phải đứng ra gỡ. Tôi cầm kéo, xịt nước, tỉ mẩn cắt lại phần tóc dang dở. Không dám múa may gì nữa, chỉ cắt chắc tay, chậm, vừa làm vừa nói chuyện để nó quên đau.
“Em tên gì?”
“Nhị”.
“Học lớp mấy rồi?”
“Em lớp bốn”.
“Sao để tóc dài thế này?”
Cậu bé chưa kịp trả lời thì cô chị nói thay, giọng chùng xuống:
“Ba em trước làm nghề cắt tóc. Sau ế quá phải lên thành phố làm thuê. Nó quen ba cắt cho rồi, nên cứ đòi chờ ba về mới chịu cắt”.
Tay tôi dừng lại một nhịp. Hóa ra mái tóc dài lòa xòa của thằng bé không phải chuyện nhõng nhẽo. Nó là một sự chờ đợi. Cái nghèo ở vùng này không chỉ nằm ở mái tôn nóng ran hay đôi dép mòn gót, nó còn len vào tận mối tình cảm bình thường nhất khi so với kiếm miếng ăn. Trên vai người lính như tôi không chỉ phải quen với nắng gió thao trường, mà phải quen với cả những cái rát của đời sống dân mình.
Tôi hỏi:
“Còn em gái tên gì?”
“Em tên Thu ạ!”
“Nhà em ở gần đây không?”
“Dạ, trong kia. Qua rẫy mía một đoạn. Nhà em ba anh em, một rẫy mía nhỏ, mùa được mùa mất”.
Tôi cắt xong, phủi tóc vụn trên cổ cậu bé. Vết thương đã cầm máu. Nhị thôi khóc, chỉ còn thút thít. Tôi nhìn hai chị em, vừa áy náy vừa thương, còn thằng Hùng đã mạnh miệng làm liều:
“Chuyện này lỗi bọn anh. Nếu xin phép được, anh xin chỉ huy xuống giúp nhà em một buổi công. Em cho anh xin số với địa chỉ, lỡ cần còn hỏi thăm thằng nhỏ”.
Thu ngập ngừng rồi cũng đọc số. Tôi chép vào trang cuối cuốn sổ tay đã lấm bụi. Góc giấy quăn lại vì mồ hôi, mấy con số lem bụi. Tôi lấy ngón tay vuốt thẳng mà không hiểu sao thấy lòng mình rối hơn lúc đứng giữa nắng.
Cắt tóc xong, nhìn miếng băng trắng trên đầu Nhị, tôi cứ thấy lòng cộm lên. Căn chòi của hai chị em chỉ cách đó chừng trăm mét, nép ở góc ruộng mía. Tôi nói đưa hai chị em về luôn, tiện tay vợt giúp mấy cây mía đem vào chòi, cũng coi như làm ngay một việc gì đó cho đỡ ngượng sau chuyện vừa rồi. Hùng đi cùng tôi. Nhị đi trước, cái đầu mới cắt gọn cứ thỉnh thoảng lại đưa tay sờ lên chỗ dán băng. Thu lặng lẽ đi bên cạnh. Tới mép ruộng, tôi với Hùng vừa bẻ được mấy cây mía thì gió từ phía sông Ba bỗng nổi lên quất bụi. Chúng tôi chưa kịp bước tới chòi thì nghe một tiếng “phành” khô gắt. Một tấm tôn trên mái bật hẳn lên, chao nghiêng rồi dập xuống liên hồi. Thu khựng lại, mặt tái đi, chỉ kịp gọi nhỏ: “Chòi mình...” Tôi quăng mấy cây mía xuống bờ đất, cùng Hùng chạy thẳng về phía ấy.
Gió giật từng cơn, tấm tôn rung lên ken két, chỉ sơ sẩy là quật ngã người như chơi. Tôi quát lên: “Vào nhà tìm người trước!” Hùng và tôi lao vào không thấy ai bèn kéo mấy bao lúa với cái chạn gỗ nép sâu vào trong, rồi dùng sào tre ghìm mép tôn xuống từ dưới đất, luồn dây thép chằng tạm vào cột hiên. Gió quật rát mặt, bụi đỏ táp vào mắt cay xè. Mỗi lần tấm tôn bị nhấc bật lên, cả mấy anh em lại dồn sức ghì xuống, nghe rõ cả tiếng kim loại rít ken két trên đòn tay. Chỉ đến khi cơn gió giật thưa dần, gió lắng xuống một nhịp, Thanh mới cố định được tấm tôn. Bà chủ nhà đứng ôm đứa nhỏ ở cửa, vừa vỗ thằng cu con rồi nói rất nhỏ: “Có bộ đội tới, mẹ con tôi đỡ run hơn.” Lúc ấy tôi hiểu, có những nơi người lính không cần làm điều lớn, chỉ cần có mặt, cũng đã là chỗ dựa.
Từ hôm ấy, tôi như kẻ bị một sợi chỉ mảnh buộc vào lòng. Ban ngày vẫn cuốc xẻng, phát quang, dọn dẹp. Có hôm đi gần phía cánh đồng buôn Broăi, nhìn về bãi bồi ven sông Ba, nghe bà con nhắc chuyện nước lên, chuyện lũ về, chuyện đất ven sông từng ăn sâu vào các buôn làng. Vùng này mùa nắng rát như bị nung, mùa mưa lại không yên với nước dữ. Chính cái khắc nghiệt ấy làm cho một bát nước lá, một mái nhà đỡ xiêu, một đoạn đường sạch cỏ cũng thành việc đáng kể…
Chuỗi hạt và món nợ để quên
Thoắt cái đã đến ngày cuối ở Ia Broăi . Đơn vị tổ chức đêm giao lưu chia tay với bà con. Bếp lửa nhóm lên giữa sân, khói mỏng quẩn vào tán cây. Tiếng cồng chiêng vang vọng, trầm và dội. Tôi từng nghe cồng chiêng nhiều lần, nhưng chưa khi nào thấy tiếng ấy gần tim mình như đêm đó. Nó là hồn của vùng đất này, là cái trầm mặc của người dân nơi đây, cái rát bỏng của gió khô, cái nhẫn nại của người sống dựa vào mưa nắng mà bước tiếp.
Thu ngồi ở phía đối diện, hơi khuất sau một tốp người. Quần jean, áo sơ mi sáng màu, mái tóc buộc thấp. Giản dị vậy thôi mà dưới ánh lửa bập bùng, gương mặt ấy hiện lên rõ đến lạ. Tôi lách qua đám đông, tìm đến ngồi cạnh em. Không gần đến mức chạm tay, nhưng đủ để ngửi thấy mùi nhè nhẹ từ tóc em. Mùi hương trong trẻo lách giữa khói bếp và mùi đất của một đêm đông người.
Chúng tôi ngồi một lúc không nói gì. Có những khoảnh khắc, im lặng lại thành ra đầy nhất.
Thu cất tiếng trước:
“Năm nay em thi vào Đại học Tây Nguyên đó anh”.
“Ngành Y? Vẫn không đổi à?”
“Dạ!”
Tôi nói thật chậm:
“Cứ thi đi. Thi được hay không chưa biết. Nhưng không thi thì chắc chắn không có gì thay đổi”.
Thu mân mê vạt áo một lúc, rồi rút từ túi áo ra một vật nhỏ, đặt vào tay tôi. Một chuỗi hạt gỗ nâu sẫm, mát lạnh.
“Em xin ở chùa. Tặng anh. Cầu bình an”.
Tôi nắm chuỗi hạt trong tay, bỗng thấy cổ họng nghèn nghẹn. Một món quà nhỏ thôi, nhưng với người lính trẻ ở cuối một chuyến dân vận, nó như giữ lại cả cái đêm có lửa, có chiêng, có mùi bồ kết và một lời hẹn mỏng như khói.
Thu nói tiếp:
“Nếu đậu, tháng tám em sang Buôn Ma Thuột nhập học. Biết đâu... lại gặp.”
Tôi không dám hứa gì lớn. Chỉ đáp:
“Ừ. Biết đâu”.
Nhưng trong lòng, ngay khoảnh khắc ấy, cái “biết đâu” đã thành một lời hẹn.
Xe rời Ia Broăi vào sáng sớm hôm sau. Qua cửa xe, tôi ngoái lại. Chỉ thấy những thân cây đứng trầm mặc, cái sân ủy ban còn lốm đốm dấu chân hôm trước, vài bóng người đứng xa xa. Tôi không biết Thu có ra tiễn không. Chỉ biết từ lúc xe lăn bánh, trong lòng có một khoảng gì đó bị bỏ lại.
Rồi thời gian xô người ta đi như nước cuốn trôi lá khô. Tôi cuốn vào công việc, những chuyến đi, những ngã rẽ tưởng rất quan trọng của tuổi trẻ. Cái điện thoại cục gạch mất từ lúc nào không nhớ. Cuốn sổ tay ghi số của Thu cũng thất lạc qua những lần dọn dẹp, chuyển chỗ, đổi việc. Lời hẹn Buôn Ma Thuột vì thế treo mãi trong trí nhớ, không thành, cũng không hẳn là mất.
Chỉ còn chuỗi hạt. Tôi vẫn giữ nó. Hạt gỗ đã lên nước bóng theo năm tháng. Mỗi lần chạm vào, tôi lại nhớ cái lạnh nhỏ và mịn của buổi tối năm ấy khi Thu dúi vào tay tôi. Nhớ bếp lửa, tiếng chiêng, ánh mắt em dưới ngọn lửa lúc nói về ngành Y như nói về một con đường xa nhưng nhất định phải đi.
Nhưng nghĩ kĩ, đó là cảm giác lần đầu tiên tôi hiểu rằng khoác quân phục đi về phía dân không còn là chuyện đi để thấy mình sống đẹp. Mà là đi để học cách sống tử tế hơn, chắc hơn, ít hứa hơn, nhưng nếu đã hứa thì day dứt rất lâu.
Ngày còn là sinh viên, tôi từng nghĩ tình nguyện là một phần đẹp của tuổi trẻ. Đến khi là lính, tôi mới hiểu: có những chuyến đi làm người ta lớn lên không phải vì đi xa, mà vì nhìn thấy nỗi nhọc nhằn của người khác gần đến mức không thể vô can nữa.
Đến giờ tôi vẫn không biết Thu có đỗ đại học hay không. Có trở thành bác sĩ như em từng ước hay không. Nhị chắc giờ đã lớn, có lẽ không còn nhớ chuyện một đám lính trẻ mở salon cắt tóc rồi làm mình chảy máu đầu nữa. Nhưng tôi thì nhớ. Nhớ như nhớ một món nợ dù nhỏ cũng không trả xong.
Có những kỉ niệm không nằm yên trong quá khứ. Chúng âm ỉ như than dưới tro, chỉ cần một cơn gió nhẹ là đỏ lại. Với tôi, Ia Broăi là một nơi như thế. Một miền gió rát, bụi bặm, Bến Mộng và sông Ba và một lời hẹn mỏng. Một miền đất giữ lại của tôi không chỉ mồ hôi của tuổi lính, mà còn giữ lại cả phần non trẻ, chân thật và vụng dại nhất của đời mình.
Và nếu có ngày quay lại, tôi sẽ không đi để tìm một người. Tôi đi để tìm lại phần mình từng sống thật nhất, phần của một người lính hiểu rằng, có những chuyến đi không chỉ để nhớ, mà để biết mình phải sống có trách nhiệm hơn với những nơi đã đi qua…
C.H.S