Thứ Hai, 10/08/2026 00:15

Học lịch sử bằng những lá thư của tình mẫu tử

Đằng sau hình ảnh của một người lãnh đạo kiên trung, một người nữ biệt động hoạt động giữa Sài Gòn rình rập hiểm nguy, là một trái tim người mẹ miền Nam ngập tràn tình yêu thương,... (TRẦN NGỌC ANH)

Sau cuộc chiến, người ta thường nhắc đến những câu chuyện về những chiến công hiển hách, những trận đánh rung chuyển đất trời, hay những bản anh hùng ca về sự hi sinh oanh liệt. Nhưng cũng có những câu chuyện riêng, những mảnh đời thầm lặng được viết bằng nước mắt và nỗi lòng của những người mẹ người chị, người vợ, người con trong thời chiến.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đang lưu giữ nhiều mảnh kí ức thiêng liêng ấy. Mỗi hiện vật là một câu chuyện riêng. Đó là những kỉ vật reo ca chiến thắng, hay những kỉ vật lặng lẽ khắc ghi những mốc son chói lọi của dân tộc. Những lá thư tay ngả màu sờn cũ của nữ anh hùng Lê Thị Riêng gửi hai con trai Minh Chánh và Chí Công lại như một lời thì thầm kể một câu chuyện rất khác, về tình mẫu tử thiêng liêng, một di sản tinh thần vô giá giữa dòng chảy lịch sử.

Hai bức thư của Anh hùng Lê Thị Riêng

Đằng sau hình ảnh của một người lãnh đạo kiên trung, một người nữ biệt động hoạt động giữa Sài Gòn rình rập hiểm nguy, là một trái tim người mẹ miền Nam ngập tràn tình yêu thương, cùng nỗi nhớ con thắt ruột gan và một khát vọng đoàn tụ cháy bỏng. Không phải khẩu súng, không phải tấm bản đồ tác chiến hay những kỉ vật gắn với một chiến công hiển hách, chỉ là những trang giấy đã úa màu theo năm tháng, trên đó còn lưu giữ nét chữ mộc mạc và tình cảm thương yêu của một người mẹ. Những dòng thư ấy được viết cách đây hơn sáu mươi năm, nhưng đến hôm nay vẫn còn chạm đến trái tim của mỗi người.

Trong lá thư thứ nhất, Anh hùng Lê Thị Riêng dù thể kiên cường trước bom đạn kẻ thù nhưng đằng sau là trái tim của người mẹ yêu thương con tha thiết, “Mẹ cưng con lắm”, “Mẹ nhớ thương hai con lắm”, “Con gặp mẹ trong phim, con còn nhớ mẹ không? Mẹ thì nhớ hai con rất kỹ, nhớ cả bàn chân, bàn tay, cả nốt ruồi to trên ống chân của Chánh và cụt thịt ở lỗ tai công nữa”. Người mẹ dù xa con đã lâu nhưng không thể quên được từng dấu vết nhỏ nhất trên cơ thể con như bàn tay, bàn chân, cục thịt, nốt ruồi... Và mừng vui khôn xiết khi nghe tin con học giỏi, biết viết chữ, ngoan ngoãn. Giống như bao bà mẹ khác, người mẹ anh hùng cũng chắt chiu từng cây viết, gửi từng manh áo, dặn dò hai anh em phải biết thương yêu, nhường nhịn và bao bọc lẫn nhau. Nỗi nhớ thương ấy da diết, đau đớn nhưng cũng là nguồn sống duy nhất nuôi dưỡng hi vọng qua từng ngày chiến tranh gian khổ.

Lá thư thứ hai lại khắc họa nỗi nhớ thương con của người mẹ qua những mong ước vô cùng giản dị. Người mẹ mong ngày nước nhà thống nhất thật sớm để được đón hai con về sống trong vòng tay ấm áp: “Mẹ đem con về Nam, cho con ăn dừa tươi, xoài, măng cút (măng cụt), thơm, khóm, chuối và nhiều loại trái cây khác...” Người mẹ nén nỗi đau chia cắt để chiến đấu, lấy chính hương vị ngọt ngào của quê hương làm lời hẹn ước cho ngày chiến thắng. Đoạn thư khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào trước sự đối lập giữa thực tại chiến tranh thiếu thốn, hiểm nguy và một tương lai yên bình tràn ngập hoa trái mà mẹ đang vun đắp cho con.

Ngày cầm bút viết những dòng thư ấy, Anh hùng Lê Thị Riêng không hề biết rằng mình sẽ không còn cơ hội gặp lại các con. Lá thư ấy không được viết như một lời từ biệt nhưng lại là lá thư cuối cùng gửi cho con. Những lời nhắn: “Mẹ nhớ thương con vô hạn...”, “Mẹ hôn hai con thật nhiều...” không chỉ là tình cảm riêng của một người mẹ dành cho các con mà còn là kí ức về biết bao gia đình Việt Nam đã chấp nhận những cuộc chia li để đất nước có được độc lập, thống nhất.

Những lá thư đã vượt ra khỏi phạm vi của một kỉ vật gia đình để trở thành một phần kí ức chung của dân tộc, là di sản tinh thần vô giá, vẻ đẹp thiêng liêng của tình mẫu tử, biểu tượng sức mạnh diệu kì nâng bước những người con đi qua bão táp chiến tranh. Nhắc nhớ người xem rằng phía sau mỗi chiến công luôn có những người mẹ, người vợ, người con lặng lẽ hi sinh hạnh phúc riêng vì độc lập của Tổ quốc. Chính những điều bình dị ấy đã góp phần làm nên sức mạnh phi thường của dân tộc trong những năm tháng kháng chiến trường kì đầy thử thách, gian nguy, biết bao hy sinh nhưng cũng đầy tráng ca, hào hùng.

Với thế hệ hôm nay, những hiện vật chiến tranh, trải qua biết bao năm tháng không chỉ là minh chứng lịch sử, mà còn là một trang sử hào hùng được viết nên bởi những con người bình dị, lặng lẽ cống hiến, hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Chính những giá trị đó sẽ góp phần ngọn lửa bền bỉ, tiếp tục truyền cảm hứng, lòng tự hào và tình yêu quê hương đất nước cho mỗi người.

TRẦN NGỌC ANH