Thứ Bảy, 07/11/2026 07:14

Hoa dẻ

Một cảm giác bồi hồi khó tả. Gần ba mươi năm rồi. Tôi đã bước vào tuổi tri thiên mệnh. Thầy Quỳnh đã là một ông già. Còn Huyền, em giờ ra sao nơi xứ người. Gần ba mươi năm tôi vẫn chưa nguôi nhớ về em…(Truyện ngắn của PHAN XUÂN LUẬT)

.PHAN XUÂN LUẬT
 

Chỉ còn cách nhà tôi chừng hơn chục cây số thì cái xe giở chứng, kêu khùng khục. Cậu lái xe bảo: “Thôi, xuống nghỉ một lát để em xử trí”. Cả đoàn công tác xuống xe, tấp vào quán nước ven đường. Trời hiu hiu, uống bát chè xanh, nhâm nhi mấy củ lạc luộc, mệt nhọc như tan biến. Mấy chị xuýt xoa khen đậu phộng ngon quá! Bà chủ quán có việc đi đâu đó, ông chồng độ gần bảy mươi, gầy gò, kính cận dày cộp ra thay vợ bán hàng từ tốn:

“Chắc các anh chị trong Nam ra không biết. Đặc sản nổi tiếng của quê tôi đấy.”

Thầy Quỳnh, đích thị là thầy Quỳnh. Nãy giờ tôi đã ngờ ngợ, giờ thêm cái giọng khê khê này nữa thì đúng là thầy Quỳnh rồi.

Nghe tôi gọi tên, chủ quán giật mình:

“Chú là… Em là Lân phải không?”

“Dạ, em là Lân. Lân em thầy Chân đây thầy!”

Thầy Quỳnh lập cập đứng dậy, cầm lấy tay tôi:

“Gần 30 năm rồi. Thầy vẫn hỏi thăm em. Em khác xưa nhiều quá, béo trắng ra, chả bù cái hồi… Mà nghe nói em làm báo trong Nam phải không?”

“Dạ, sau cái lần ấy, em chẳng thiết gì bám trụ Hà Nội hay về quê nữa mà vào Nam xin việc. Còn Huyền…”

“Thầy cũng đang định nói với em về Huyền. Nó giờ ở Đức. Hồi ấy sang Đức học được vài năm thì bức tường Beclin sụp đổ, nó ở lại, lấy chồng và định cư luôn bên ấy. Thỉnh thoảng về nước, nó vẫn hỏi thăm em.”

Một cảm giác bồi hồi khó tả. Gần ba mươi năm rồi. Tôi đã bước vào tuổi tri thiên mệnh. Thầy Quỳnh đã là một ông già. Còn Huyền, em giờ ra sao nơi xứ người. Gần ba mươi năm tôi vẫn chưa nguôi nhớ về em…

*

*           *

Năm đó, tốt nghiệp đại học, gõ cửa khắp các cơ quan ở Hà Nội, kể cả nơi ông chú họ làm viện trưởng, tôi chỉ nhận được cái lắc đầu. Về quê, cũng chẳng hơn gì. Anh cả tôi, dạy văn ở một trường phổ thông cấp ba miền núi bảo tôi lên với anh chị một thời gian cho khuây khỏa.

Tôi đạp xe ròng rã gần ngày mới tới nơi. Đó là một ngôi trường mái tranh vách đất bên một con dốc, lọt thỏm giữa bốn bề là núi. Chiều nắng quái, đứng ở đỉnh dốc, thấy thấp thoáng những nhà sàn cùng điệp trùng núi, lòng hoang hoải.

Thấy tôi vậy, thầy Quỳnh động viên: “Gian nan là nợ anh hùng, buồn làm chi em!”. Bởi đến chưa một tuần, tôi đã quen hầu hết thầy cô trong trường. Đó là những năm đói, đói xanh da, đói vàng mắt. Anh chị thứ ở dưới xuôi một bữa đi dạy, một bữa làm hàng xáo, nuôi lợn và xin làm thêm ruộng khoán. Còn anh chị cả trên này, không biết làm gì, chỉ khai hoang được ít đất trồng sắn. Đương trai, đói, nên lúc nào tôi cũng thấy thèm ăn. Có bữa anh chị đi dạy, gần trưa, đói cồn cào, ra vườn nhổ đại củ sắn vào nướng, bị say, sùi bọt mép, may có chị Đóa, y tá của trường, cạo mùn thớt nhét vào họng, nôn ra hết mới thoát chết.

Khu tập thể của trường gồm ba dãy nhà đất ôm lấy một cái sân um tùm cỏ. Chiều chiều, các cô nấu nướng, cho con ăn, các thầy đi xách nước, chốc chốc lại nói vọng sang phòng nhau, toàn chuyện chậm lương, chậm gạo, độn khoai, độn mì…

Phòng thầy Quỳnh bên trái phòng anh tôi. Thầy là con một ông lang nổi tiếng. Vợ con thầy ở dưới xuôi, thầy lên trên này dạy học đã gần chục năm, đem theo em gái là Huyền lên học. Bên phải phòng anh tôi là phòng thầy Tam dạy Sinh, nghe nói là em họ của chủ tịch huyện. Thầy cao lớn, tướng lực điền, nói to, ham rượu, ít chú tâm việc dạy, chỉ mê làm rẫy, vì thế nhà thầy có vẻ sung túc hơn mọi nhà khác. Vợ thầy Tam, cô Tương, giáo viên dạy Địa, đứng chưa đến vai chồng nhưng tiếng còn to hơn cả chồng. Anh hùng với ai chứ về nhà, thầy Tam sợ vợ một phép, chính vì vậy tôi chỉ toàn nghe cô Tương nói. Đói nhưng sẵn chè xanh, hôm nay nhà thầy này, mai nhà thầy nọ, tối nào các thầy cũng tụ tập uống nước chè xanh, chuyện trò rôm rả. Cũng nhờ vậy mà tôi biết khối chuyện. Như chuyện thầy Tam, sáng lên lớp, lẹt xẹt đôi dép đứt quai, dạy vài chục phút học sinh đã ngáp ngắn, ngáp dài rủ thầy đi uống rượu. Thầy hay uống rượu với học trò. Có lần, thầy trò say, bá vai bá cổ, hát loạn xạ. Chuyện đến tai cô Tương, cô chạy ra quán, nắm thắt lưng thầy kéo về mà vẫn không dừng hát.

Khác với thầy Tam, thầy Quỳnh dạy giỏi, hiền lành, ít nói, học sinh rất quý. Gần như toàn bộ lương, thầy gửi về xuôi cho vợ con, hai anh em ăn một suất gạo của thầy, cộng thêm đám rẫy sắn gần trường. Thỉnh thoảng qua bức vách, tôi lại được nghe những đoạn đối thoại kiểu như:

“Em ăn phần cơm đi cho có sức mà học. Sắp thi tốt nghiệp đấy.”

“Em no rồi mà. Hồi chiều, sang khu nội trú, ăn sắn chấm muối ớt, đến giờ còn no.”

“Sáng nay anh ra nông trường bộ, cô nhân viên cửa hàng là học sinh cũ nể thầy bán cho cái áo, anh cho em. Con gái lớn rồi!”

“Anh gửi về cho chị. Áo em còn lành mà.”

Huyền rất xinh. Em mười bảy tuổi, dáng nhỏ nhắn, da trắng hồng, khuôn mặt bầu bầu, tóc dày thả kín lưng. Huyền học giỏi Văn, là học trò cưng của anh tôi. Nghe anh tôi giới thiệu, tôi là dân Tổng hợp Văn, Huyền phục lắm. Phòng liền kề, tôi rảnh rỗi, ở nhà cả ngày mỗi việc đọc sách, Huyền một buổi đến lớp, một buổi học ở nhà nên chẳng mấy chốc đã quen nhau. Em hỏi tôi đủ chuyện, nhiều nhất là chuyện sinh viên, chuyện các giáo sư nổi tiếng mà tôi đã được học, chuyện các nhà văn, nhà thơ… Đôi mắt em đen láy, mở to háo hức làm tôi càng được thể, chuyện cứ tuôn ra như suối. Tôi còn về quê chở một chồng tài liệu luyện thi đại học lên cho Huyền, em mừng lắm. Ngày nào cũng có chuyện để nói. Rồi mỗi ngày không gặp Huyền là tôi thấy nhớ. Thầy Quỳnh thấy tôi thân mật với Huyền, không nói gì, chỉ vỗ vai tôi cười cười. Gần trường có rất nhiều dẻ. Tháng năm dẻ ra hoa. Hoa dẻ mọc thành chùm, thơm kín đáo, khi còn xanh lẫn với lá, phải tinh mắt mới phát hiện được. Huyền thích cài tóc bằng hoa dẻ. Những cánh hoa dẻ ủ chín trên mái tóc, vàng ruộm, thơm dìu dịu, xốn xang lan sang cả phòng tôi. Tôi làm một bài thơ về hoa dẻ, đọc cho Huyền chép, nói thác là của một nhà thơ mà tôi chợt nhớ tên. Huyền thích bài thơ lắm.

Trường miền núi, nhiều học sinh ở xa làm lán ngay trong khuôn viên trường để ở lại học. Dạo này bên mâm cơm thầy Quỳnh thường xuyên có thêm một học sinh. Anh tôi bảo đó là thằng Hưng, học sinh lớp thầy Quỳnh chủ nhiệm, học Toán rất giỏi. Hưng định bỏ học vì nhà xa, quá nghèo, không có gạo ăn. Thầy Quỳnh bảo nó lên ăn cơm với thầy, nhất định không được bỏ học.

Minh hoạ: Ngô Xuân Khôi

Và cũng lạ, dạo ấy trường bỗng rộ lên phong trào làm thơ. Xuất phát từ việc anh tôi và thầy Luân, giáo viên dạy Lý, nhân ngày 20 tháng 11 có thơ đăng trên tạp chí văn nghệ của tỉnh. Như một sự kích hoạt, cả thầy Yên, thầy Đáo, thầy Phương, thầy Đông, đến chị Đóa cũng làm thơ. Hội chè xanh biến thành hội thơ. Tích cực nhất là thầy Tam, ngày nào cũng sản xuất thơ, lúc nào cũng âm ỉ, ngâm nga đến cô Tương cũng phải bực mình: “Ông no thơ rồi, uống nước chè xanh mà làm thơ, tui không nấu cơm cho ông nữa đâu!”. Thầy Tam cười hì hì, nịnh thối vợ một bài thơ lục bát, làm cô Tương sướng rung rinh mất mấy ngày. Lần khác, làm được bài thơ vịnh cảnh ăn sắn thiu bị đau bụng, thầy Tam khoe với cả hội. Thơ con cóc, ai cũng thấy là dở nhưng chẳng có ý kiến gì, riêng thầy Quỳnh, lâu nay chưa hề làm thơ, bỗng dưng độp hai câu khiến ai cũng phì cười: Anh Tam quê ở Yên Sơn/ Dạo này anh ị thối hơn mọi lần. Thầy Tam tím mặt.

Quả thực, từ lâu thầy Tam đã không ưa thầy Quỳnh, chỉ vì thầy Quỳnh đôi lần góp ý tác phong sư phạm của thầy, nay càng mâu thuẫn tợn. Cho đến khi xảy ra việc thầy Tam đòi đuổi học Ất thì giọt nước tràn li. Chuyện là thế này. Ất là học sinh lớp thầy Tam chủ nhiệm, học giỏi nhưng cá tính, mấy lần dám nói ngược ý kiến thầy. Thầy đã muốn trị nó từ lâu. Bữa đó có tiết kiểm tra môn Sinh, Ích cháu thầy Tam ngồi bên cạnh Ất không học bài, năn nỉ Ất cho chép. Ất không cho, Ích chửi Ất là đồ con hoang, tức mình, Ất giáng một bạt tai. Thầy Tam nổi xung đuổi Ất ra khỏi lớp. Chuyện chưa dừng lại ở đó, thầy Tam còn đề nghị nhà trường đuổi học Ất vì là thành phần bất trị, không thể dạy dỗ. Sẵn bực mình, thầy làm luôn bài thơ, nguyên văn như sau: Kính mời em Ất đi ra/ Vì em làm bận lòng ta đã nhiều/ Nhịn em, ta đã nhiễu điều/ Nhưng mà em cứ chẳng chiều lòng ta/ Kính mời em Ất đi ra. Nổi hứng, sáng hôm sau, giờ học Đạo đức, thầy ra đề bài cho cho cả lớp bình bài thơ. Thôi thì đủ kiểu bình loạn, có đứa còn viết: “Có thầy giáo nào kính mời học sinh không? Chỉ có thầy Tam - thầy giáo chủ nhiệm lớp ta. Giận trò mà còn kính mời học trò, thầy ta thật là vĩ đại!”. Bài thơ và tiết học bình thơ của thầy nhanh chóng lan truyền khắp trường. Thầy Quỳnh đưa chuyện này ra hội đồng giáo dục của trường và bảo việc thầy Tam đòi đuổi học Ất là thù vặt. Cuối cùng, Ất không bị đuổi học, thầy Tam tuyên bố không đội trời chung với thầy Quỳnh.


*

*           *

Cũng mùa hè năm ấy, khắp quê tôi, đâu đâu cũng râm ran chuyện đá đỏ. Thỉnh thoảng có chiếc 67, Simson rồ máy chạy vào trường, nhả khói mù mịt, các thầy bảo nhau: “Đá đỏ đấy!”. Người người rủ nhau đi đào đá đỏ. Làng tôi cũng có hơn chục người. Còn ở huyện miền núi này, đã có mấy cơ quan tổ chức làm kế hoạch ba bằng cách đi đào đá đỏ. Không biết có ăn thua gì không, nhưng trở về từ bãi đá đỏ, ai cũng úp úp, mở mở, thi thoảng lại rộ lên tràng pháo, tiệc tùng mừng trúng đá đỏ. Một lần, trong hội chè xanh, thầy Tam mặt đỏ tưng bừng, bảo: “Tui vừa đi ăn mừng phòng nông nghiệp trúng đá đỏ. Nghe nói bằng ngón tay cái, bán được mấy trăm triệu. Ai cũng giàu to. Phải đi đào đá đỏ thôi, không cứ thế này thì chết đói!”. Thầy Lượng, hiệu trưởng, từ lâu đã mê cái vụ đá đỏ, được lời, quyết luôn: “Mình cũng đã tính mấy tháng nay rồi. Nhân hè, ta làm luôn đi. Thầy Tam có sức khỏe, làm tổ trưởng. Cô Tương làm cấp dưỡng. Nhà trường ứng trước cho một tạ gạo và ngô. Đầu tuần sau, chọn ngày tốt, lên đường”.

Hội chè xanh, hội thơ nhanh chóng trở thành hội đá đỏ. Tối nào cũng râm ran chuyện đá đỏ. Tôi bàn với anh tôi cho tôi tham gia đội khai thác đá đỏ thay anh. Thầy Tam phán: “Thanh niên trẻ khỏe, duyệt!”. Tối trước hôm đội hành quân đi Châu Bình đào đá đỏ, Huyền gặp tôi: “Anh Quỳnh ốm yếu, từ nhỏ đến giờ chẳng quen lao động chân tay. Giữa chốn rừng thiêng nước độc, em lo lắm. Có gì anh giúp anh Quỳnh với nhé!”. Ấn vào tay tôi hộp dầu cù là và lọ muối vừng, em vội quay về phòng, mắt hoe đỏ. Hương dẻ dìu dịu tỏa từ mái tóc dài óng mượt khiến tôi cứ bâng khuâng.

Đội đá đỏ của trường hơn chục người, gồm một số thầy cô trong trường, tôi và hai thằng cháu thầy Tam. Phờ phạc đạp xe ngược gió Lào hơn nửa ngày, chúng tôi mới đến nơi được mệnh danh là miền viễn Tây Hoa Kì. Cả một vùng đồi núi bị cắt ngang, xẻ dọc, chi chít những hầm hố, quang cảnh như vừa qua một trận B52 rải thảm. Thi thoảng một cái cáng phủ kín mít đi qua, lạnh tanh không một tiếng người. Rải rác những nấm mồ và rất nhiều nơi chân nhang cắm chi chít. Đêm về, những ngọn đèn dầu trong các lán trại khi tỏ khi mờ, nhìn xa như những ánh lân tinh ma quái. Nỉ non ngày đêm là bài xẩm đá đỏ: “Châu Bình, đó là nơi mỏ đá hồng, dân tìm đến để đào, rồi thành bao oan hồn...”. Thầy Quỳnh e ngại: “Không biết có cơm cháo gì không hay là lại mang xác về!”. Thầy Tam nạt: “Thầy không được bàn lùi. Ra quân là phải thắng. Chưa đá đỏ là chưa về!”.

Không dám men chân vào đồi Tỷ, đồi Triệu, đồi Hoa Cỏ May - những nơi các băng đảng khét tiếng trấn giữ - chúng tôi làm lán bên cạnh một con suối nhỏ. Một tuần ròng rã đào rộp da, chẳng thấy đá đỏ đâu. Đến một hôm, thầy Đáo với thầy Phương từ dưới suối vội vã đi lên, thì thầm vào tai thầy Tam. Thầy Tam há miệng, rơi cả xà beng. Mãi sau, định thần, thầy hí hửng nói thầm với cô Tương. Rồi cô Tương thì thầm với thầy Luân, thầy Luân thì thầm vào tai thầy Đông... Tôi là người được thông tin cuối cùng. Trúng to rồi. Chúng tôi giàu to rồi. Trúng cả một viên đá đỏ bằng hạt nhót. Không được lộ. Ai cũng rộn ràng trong bụng nhưng cố làm vẻ thản nhiên. Lộ ra, băng Sơn cụt, Tường lợn, Phương tay trái mà biết, có khi không chỉ bị cướp mà còn hết đường về quê mẹ!

Theo kế hoạch đã bàn từ trước, thầy Quỳnh vốn tính cẩn thận có nhiệm vụ cất giữ viên đá đỏ. Đợi đến nửa đêm, khi các lán xung quanh đã ngủ say, chúng tôi hồi hộp vây quanh thầy Quỳnh xem đá. Thầy run run mở bọc. Mọi con mắt lom lom dán vào tay thầy. Chợt thầy “á” lên một tiếng, mặt tái mét. Sao lại thế này? Trước mắt mọi người, viên đá màu đỏ đã trở thành viên cuội trắng bợt. Thầy Tam run run, gầm lên: “Đá đỏ đâu, thầy Quỳnh?”. Cô Tương phụ theo: “Đâu rồi thầy Quỳnh? Hay thầy nuốt vào bụng rồi?”. Tôi chẳng biết chuyện gì đã xảy ra, chỉ thấy thầy Quỳnh lắp bắp: “Tui không biết, không biết. Từ chiều đến giờ, nó nằm nguyên đó, nguyên đó, tui có mở ra đâu!”. Một mất mười ngờ, mỗi người một ý kiến. Thầy Luân dạy Lý bảo: “Hay không phải là đá đỏ mà là đá thường màu đỏ, là đá non như dân đá đỏ vẫn gọi. Đá này thiếu gì, mới đào lên thì đỏ, nhưng gặp ánh sáng thì đổi màu dần”. Thầy Tam gạt phắt: “Thường là thế nào, non là thế nào! Chỉ đá đỏ, bồ câu hẳn hoi mới đẹp đến thế. Tui nói đích danh, chỉ có thầy Quỳnh tham giấu đi thôi. Thầy Quỳnh, thầy khai thật đi!”. Thầy Quỳnh dựa lưng vào vách lán, rủ như tàu chuối héo. Cuộc họp khẩn được tổ chức. Thầy Luân dạy Lý vẫn cho là đá thường, có mấy thầy đồng tình, tôi cũng vậy, nhưng vừa lên tiếng ủng hộ thì thầy Tam đã lừ mắt. Lấy tư cách tổ trưởng, thầy Tam kết luận: Là đá đỏ thứ thiệt, không có chuyện viên đá đổi màu, chỉ có thầy Quỳnh tham lam, muốn cướp công sức anh em, đã giấu đi. Rồi thầy gằn giọng: “Tui gia hạn cho thầy, đến trưa mai, không khai là tui có biện pháp mạnh”. Không khí nặng nề, u ám. Cả ngày hôm sau, không ai nói với ai câu nào. Tôi vẫn tin chắc một trăm phần trăm là không thể có chuyện thầy Quỳnh giấu viên đá. Nhưng nói làm sao đây? Nhìn thầy nằm rủ trong góc lán, thật tội. Nếu Huyền biết cơ sự này...

Đến trưa hôm sau, thầy Tam lại gằn giọng:

“Thầy Quỳnh nghĩ kĩ chưa, giấu ở đâu?”

“Tui nói rồi, tui không giấu.”

“Thầy cứ ngoan cố. Tui đã có cách.”

Thầy Luân, thầy Đáo, thầy Phương… đều phản đối. Thầy Tam nạt lớn:

“Tui nói với các thầy, ai can thiệp vô, người đó là đồng phạm.”

Vừa nói, thầy Tam vừa cùng hai thằng cháu tướng tá cũng hộ pháp như thầy, đè thầy Quỳnh ra, trói nghiến lại. Thầy Quỳnh nước mắt ròng ròng, cố giãy giụa nhưng không thể nào chống cự được.

Trời mùa hè nóng hầm hập. Thầy Quỳnh bị trói, dựa lưng vào cột, đầu nghẹo một bên, môi khô rộp. Tôi nhìn, xót xa nhưng không biết làm thế nào.

Chiều đó, thầy Quỳnh bị bỏ đói. Thầy thều thào kêu khát. Tôi định đưa cho thầy ca nước, thầy Tam lừ mắt: “Chú muốn bị trói chung với thầy Quỳnh hay sao?”. Tôi cầm bát cơm đưa lên, không nuốt được. Vừa tức thầy Tam ác, vừa thương thầy Quỳnh, vừa thấy có lỗi với Huyền. Em đã tin cậy vào tôi, vậy mà ...

Đêm đó, tôi trằn trọc không tài nào ngủ được. Trăng miền núi thật sáng. Ánh trăng rọi vào lán trống huơ, người nằm ngang dọc, lấm chấm khuôn mặt thầy Quỳnh sạm đen vì đói và khát. Thầy rên khe khẽ. Trước cửa lán, thầy Tam và hai thằng cháu đã ngáy pho pho từ hồi nào. Chợt hiện lên gương mặt Huyền. Gương mặt đẫm nước mắt. Nhỡ thầy có mệnh hệ gì… Huyền ơi, thầy Quỳnh ơi, không thể thế này…

Tôi quyết định ngồi dậy, hoàn toàn không sợ gì nữa. Tôi rót đầy ca nước đưa vào miệng thầy rồi lần cởi từng nút dây trói. Vừa cởi, vừa ngó chừng. Thật may, cả thầy Tam, hai thằng cháu hộ pháp, cô Tương và mọi người vẫn ngủ say như chết. Tôi nói thầm vào tai thầy Quỳnh: “Thầy ra khỏi lán, em đèo thầy về ngay đêm nay”.

Tối đó, tôi đạp xe một mạch đèo thầy Quỳnh trở lại trường. Cả trường xôn xao về chuyện thầy bị trói. Huyền khóc tức tưởi. Tôi lau nước mắt cho em, bảo em đừng khóc mà lòng dạ ngổn ngang. Huyền gục đầu vào vai tôi, rung rung, ấm ức. Tôi nói ngay ngày mai tôi phải về. Huyền hỏi tôi có trở lại nữa không? Tôi im lặng. Em lại khóc.

Hè năm ấy, nhân một người anh trai khác là bộ đội lái xe ghé thăm nhà, tôi theo xe anh vào Nam. Cũng năm đó, Thầy Quỳnh xin chuyển công tác về xuôi. Con đông, vợ làm ruộng, nhiều năm sau nhà thầy vẫn nghèo. Huyền thi đại học điểm cao, được đi học nước ngoài. Một năm sau, anh chị tôi cũng xin chuyển công tác về quê. Phong trào đào đá đỏ cũng lắng dần. Người ta bảo nhau rằng, đào được viên đá giống như đá đỏ thì rất nhiều, nhưng đào được viên đá là ruby thì rất hiếm.

Thầy Lượng, hiệu trưởng biết chuyện, cho gọi thầy Tam lên đề nghị rút kinh nghiệm, đến tận phòng thầy Quỳnh thăm hỏi, mong thầy bỏ qua vì đây chỉ là chuyện hiểu lầm. Chuyện đào đá đỏ và việc thầy Tam trói thầy Quỳnh dần đi vào quên lãng.


*

*           *

Ngồi chơi quên buổi, tôi nhắc lại chuyện Ất ngày xưa. Thầy Quỳnh hồ hởi kể, hết phổ thông cấp ba, Ất xung phong đi bộ đội, chiến đấu bên chiến trường K, dũng cảm lắm, lập nhiều chiến công, được nhiều giấy khen. Ra quân, làm đủ nghề. Không ít lần trắng tay, nhưng với bản lĩnh người lính, bây giờ Ất đã là một doanh nhân thành đạt, tích cực làm công tác từ thiện, giúp đỡ gia đình đồng đội và bạn học cùng lớp gặp khó khăn. Tết năm nào, dù bận đến mấy, nó cũng về thăm thầy.

“Còn Hưng, cái thằng vẫn thường ăn cơm ở nhà thầy? Và cả thầy Tam nữa, em nghe nói…”

Thầy Quỳnh nhìn xa xăm, lát sau mới chậm rãi nói:

“Cái gì tốt đẹp thì giữ lại, còn không thì quên nó đi, em à.”

Thầy Quỳnh không kể, nhưng tôi biết được từ anh tôi, rằng Hưng năm đó cũng đậu đại học. Ra trường, nó về công tác trên tỉnh, thành đạt rất nhanh rồi được luân chuyển về huyện tôi làm trưởng một ngành. Nghe tin, anh tôi rủ thầy Quỳnh đạp xe đến thăm, nhân viên của nó bảo: “Sếp đang bận tiếp khách trên tỉnh, hẹn các thầy dịp khác”. Gần hai năm công tác ở huyện, không một lần Hưng đến thăm thầy cũ. Sau này Hưng trở lại tỉnh, làm quan to lắm, nhưng không năm nào họp lớp mà nó đến dự.

Còn thầy Tam, sau lần đi đào đá đỏ, bỗng nhiên mắc chứng hoảng loạn, nói năng lảm nhảm rồi về hưu non. Hễ bực mình chuyện gì lại nhằm vào vợ mà thượng cẳng chân, hạ cẳng tay. Cô Tương không chịu được, bỏ vào Nam ở với con. Mấy năm trước, chân thầy bỗng nhiên sưng lên rồi lở loét, bốc mùi hôi thối, chỉ ngồi một chỗ, chạy đủ thầy vẫn không khỏi. Nghe tin, thầy Quỳnh nhờ đứa học trò cũ gửi lên cho mấy thang thuốc gia truyền, chỉ bôi mấy tuần là hết. Thầy Tam khỏi bệnh, mừng lắm, hỏi ai cho thuốc để tạ ơn, thầy Quỳnh dặn học trò không được nói tên, chỉ nói là của một người quen cũ…

Cuối buổi, thầy Quỳnh vào nhà trong, lấy ra cuốn sổ tay và bảo:

“Trước khi đi du học, Huyền có gửi lại thầy cuốn sổ này, bảo khi nào gặp thì đưa cho em.”

Tôi lật từng trang sổ. Mỗi trang ướp một bông hoa dẻ. Những bông dẻ ủ chín trên tóc, theo thời gian đã ngả màu. Cuốn sổ ghi lại những bài thơ nổi tiếng trên thế giới mà tôi đã đọc cho Huyền chép cùng bài thơ hoa dẻ. Có điều, dưới bài thơ, không phải là tác giả tôi mượn mà là tên tôi. Thì ra, em đã biết tác giả bài thơ là tôi. Tôi hít thật sâu mùi hoa dẻ.

“Huyền ơi, tôi ước một lần trong đời được gặp lại em…”.

P.X.L