Được biết đến nhiều nhất như một trong những nhà thơ lớn viết bằng tiếng Đức trong khoảng chuyển giao giữa thế kỉ 19 và thế kỉ 20, tuy vậy bên cạnh sự nghiệp thơ ca đồ sộ, Rainer Maria Rilke cũng có tác phẩm văn xuôi được đánh giá cao.
Và đó là Malte Laurids Brigge. Cuốn sách khó bề phân định về thể loại này được cấu trúc như cuốn nhật kí của chàng Malte - hậu duệ cuối cùng của một gia tộc Đan Mạch lưu lạc đến Pháp. Theo đó trong những tháng ngày quá đỗi khắc nghiệt, không thấy hi vọng ở phía tương lai, anh đã “ngược dòng” về lại những ngày xưa yêu dấu, từ đó khám phá câu chuyện của một gia đình. Không có chủ đề mang tính xuyên suốt, thời lượng của các chương nhỏ cũng rất linh hoạt, qua đó ta thấy những dòng suy tư vô cùng sâu sắc về nhiều chủ đề: quá khứ, lịch sử, tình yêu, cái chết cũng như căn tính và sự khủng hoảng.

Không chỉ thơ ca, Rilke cũng có tác phẩm văn xuôi được đánh giá cao.
Hiện tại phai tàn
Về mặt căn tính, ngay từ đầu sách, Malte khẳng định một sự lạc lối qua việc phân định bản thân giờ đã thay đổi: “Tôi đang học nhìn. Tại sao, tôi chẳng biết, nhưng mọi thứ đi sâu vào tôi hơn; và các ấn tượng cũng không còn ở mức nơi trước đây chúng từng dừng lại. Có một vùng ở bên trong mà tôi đã không hề biết. Giờ thì tất tật đi vào đó. Tôi không biết chuyện gì xảy ra ở đó… Tôi quyết định không viết thư nữa. Sao lại phải thông báo cho ai đó là tôi đang thay đổi? Nếu tôi thay đổi, tôi chẳng còn là người tôi từng là, và nếu tôi trở thành ai đó khác, hiển nhiên tôi chẳng còn bạn hay người quen nữa. Và đâu có thể viết thư cho người lạ, cho những người chẳng biết tôi”. Phản ứng nói trên dường như đến từ quá khứ tươi đẹp giờ đã không còn, trong khi Paris mà ông lưu lạc lại khá hỗn tạp, cộng với tình thế gần như cô độc, từ đó hình thành cảm giác lạc lối, gần như mục ruỗng.
Ta thấy điều này trong những mô tả về “kinh đô ánh sáng”, khi nhân vật chính như một “flâneur” bắt đầu nhận ra mình đang trải qua “hội chứng Paris” về những tưởng tượng khác xa thực tế. Với nhân vật này, Paris là một phông nền có phần ồn ào cũng như hổ lốn, nơi những tàn dư lên men, từ đó phảng phất thứ mùi tử khí. Và cũng không phải không có lí do khi nhân vật này được Rilke liên tục gắn liền với các “thiết chế cuối đời”: từ những bệnh viện, dưỡng đường… cho đến những cơn sốt cao đưa chính Malta vào sự hoài niệm hay những ảo ảnh mang tính siêu hình. Hiện trạng nói trên được miêu tả vô cùng đặc sắc dưới nhãn quan của một nhà thơ, để qua đó cho thấy tài năng đặc biệt của Rilke, người tìm thấy cái đẹp trong cả những gì xuống cấp và tồi tàn nhất.
Như thể ông viết về một nơi ở đã bị san phẳng qua các mùi hương: “Tất tật treo lơ lửng ở đó, những bữa ăn trưa, những thứ bệnh tật và hơi thở trút ra, khói thuốc lá nhiều năm trời, mồ hôi nách làm áo trĩu nặng, mùi khê tẻ ngắt của những cái miệng và mùi hôi dính nhớp của mồ hôi chân. Lơ lửng ở đó mùi hăng nồng nước tiểu và mùi bồ hóng cháy khét, mùi khoai tây xám xịt bốc hơi và mùi thối dính nhớp, đặc quánh của mỡ lợn để lâu. Mùi ngòn ngọt còn vương lại của những đứa trẻ sơ sinh cũng ở đó, và mùi sợ sệt của những đứa trẻ khiếp hãi việc phải đến trường, và sự ngột ngạt trong giường ngủ những cậu bé tuổi dậy thì. Và còn vô vàn thứ khác trộn thêm vào đó, bốc lên từ bên dưới, tận dưới vực sâu con hẻm, cùng những làn hơi, và thấm xuống từ trên cao, cùng nước mưa, vốn chẳng hề sạch trong các thành phố. Và vẫn còn nhiều thứ khác nữa được thổi đến bởi những làn gió nhẹ hều, đã thuần hóa và tẻ ngắt, lúc nào cũng luẩn quẩn trong cùng phố. Và ngoài ra vẫn còn rất nhiều thứ khác chẳng rõ nguồn gốc.”
Tình cảnh nói trên khiến ông trăn trở về những ngày cũ, và cũng từ đây, ông đưa ta vào những ngày tuyệt đẹp giờ đã không còn. Ta thấy điều đó qua những nguyên mẫu được ông góp nhặt, nơi các thiên tài cũng vì “cách li” với sự ố tạp mà luôn trong vắt. Đó là một Beethoven với “thính giác bị thần thánh phong kín, để chẳng có âm thanh nào khác ở đó, ngoài âm thanh của riêng ông; để ông không lạc lối bởi những hỗn độn và phù du các tiếng ồn”. Ngoài ra cũng là Ibsen – người từ chối nhìn ra cửa sổ để chỉ thấy những “sự thù địch đầy xảo quyệt” có thể “tán nhỏ” bản thân ra thành từng mảnh… Càng về sau sách, bằng những mẫu nhỏ lịch sử được tập hợp lại, Rilke cũng dẫn ta đến câu chuyện của những nhà vua, nữ tu… đầy ắp đức hạnh trong những trang sử, qua đó cho thấy phẩm chất của ngày xa xưa, khẳng định tình yêu với những khía cạnh là cao thượng nhất những đã từng tồn tại.
Tìm lại bản thể
Hướng về quá khứ, gia tộc Brigge cũng nằm trong dòng chảy này. Hành trình tìm lại cái đẹp giữa điều ố tạp đã được Rilke mang đến qua cuộc dịch chuyển về các dinh thự đằng nội, đằng ngoại của chính Malte. Tại đây vẻ đẹp vẫn còn, thế nhưng kết thúc luôn là cái chết, cho thấy một chút suy ngẫm mang tính hiện sinh. Đó là người chú có máu phiêu lưu, đi khắp thế giới và không ngừng lại. Đó là người ông qua đời trong tiếng thét gào ở dinh thự cũ, là người bà khắc nghiệt, trách móc con gái qua đời trước bản thân mình. Hấp dẫn hơn cả còn là bóng ma màu trắng thường trực xuất hiện trong phòng ăn mang hơi hướng Gothic, đến từ cánh cửa khóa kín muôn niên… Không quá khó thấy dù là những cá thể khác nhau, nhưng có điểm chung là cuộc đời họ rồi sẽ dừng lại. Qua đó cái kết và sự suy vong tràn khắp trang văn, mang đến cảm giác tuyệt vọng cho tiểu thuyết này.

Tác phẩm là cuộc giải phẫu tinh vi những bản thể con người trức tàn dư quá khứ.
Trở về quá khứ với cái đẹp ấy, theo nghĩa nào đó, cũng chính là cách mà người thi sĩ mang tên Malte tìm lại bản sắc. Cũng như những nhà văn Áo – Hung khác như Joseph Roth, Robert Musil, Marai Sandor… cố gắng níu giữ những gì đã mất, ở đây Rilke cũng tìm lại mình của những ngày cũ. Mở rộng hơn nữa nhánh “gia phả” ấy, phân tâm kiểu Freud (và sau là Jung) cũng có thể thấy trong những trang văn đi tìm chính mình: giữa sự gắn kết giữa mẹ và con trai, giữa bản thể nam cùng bản thể nữ hay sự xuất hiện của những “thế lực mang tính tâm linh”… Với riêng maman, Malte có lúc chia sẻ với bà những gì đẹp nhất: “Đó là mẹ, ánh sáng bao trùm những gì thân quen này, những gì hiện hữu chẳng có ý đồ che giấu, tốt lành, giản dị, không mơ hồ… Có sức mạnh nào sánh được với sức mạnh của mẹ trong số các chúa tể thế gian chăng?”
Trong khi đó, hai bản thể cạnh tranh cũng có thể thấy trong chi tiết Malte đóng giả để làm con gái Sophie mà maman mình từng mơ ước có. Cùng nhau, cả hai khám phá vẻ đẹp của cuộn đăng ten đầy ắp nữ tính, nơi những người phụ nữ làm ra chúng được tin là đẹp như “những sinh vật nhỏ tí ti không ngừng se sợi đăng ten và được đền đáp công lao bằng cách được bỏ mặc cho yên bình” nhưng buồn bã là tất cả bọn họ đã lên Thiên đàng như người mẹ nói, bởi lẽ cái đẹp không thể tồn tại trong chính chặng cuối đang điêu tàn dần. Điều này sau đó cũng có thể thấy ở nhân vật Abelone bí ẩn mà anh say mê, một người vừa thuộc gia tộc nhưng cũng đồng thời nằm bên ngoài nó: “Nhân tiện Abelone có một điểm tốt: cô hát. Nghĩa là, có những lúc cô hát. Có một âm nhạc mạnh mẽ, không hề nhầm lẫn bên trong cô. Nếu quả thật thiên thần là nam giới, có thể nói rằng có chút gì đó nam tính trong giọng hát của cô: một nam tính rạng rỡ, thiêng liêng.”
Những bản thể song song này cũng được nhấn mạnh từ sớm qua hai hình tượng xuất hiện xuyên suốt: mặt nạ và những tấm gương. Với chính Malte, bên trong mỗi người là một cuộc đấu tranh giữa những cá tính muốn được biểu trưng, rằng: “Có rất nhiều người, nhưng còn có nhiều khuôn mặt hơn, vì người nào cũng có nhiều mặt. Có những người mang cùng một khuôn mặt suốt nhiều năm; đương nhiên nó sẽ có dấu hiệu cũ mòn, bẩn đi, nứt nẻ, giãn ra như đôi găng tay người ta mang trong chuyến đi xa… Những người khác lại thay đổi mặt mau chóng đến đáng lo ngại, hết cái này tới cái kia, và họ làm chúng tàn tạ hết”. Trong khi đó với tấm gương, khi nhớ về thời thơ ấu với cậu bé Erik yểu mệnh ở dinh thự cũ, ta cũng nhận thấy một điều tương tự với các hình ảnh phản chiếu bất toàn, không là toàn thể nên không tuân theo chân lí logic: “Hoặc là cậu ở trong đó," cậu ta tuyên bố, lối nghiêm nghị cố ra vẻ thông thái, "và không ở đây; hoặc là cậu ở đây, và không thể ở trong đó”.
Bởi chính điều này, Malte Laurids Brigge có thể nói là cuộc “du ngoạn” về quá khứ hoàng kim, nhưng cũng đồng thời là những mổ xẻ mang tính phân tâm, là một yêu cầu gần như cấp thiết của một cá thể rơi vào khủng hoảng, giữa cuộc chạm va giữa cái đương có và điều đã mất, giữa cái cũ tươi đẹp và cái mới mục ruỗng… Qua đó Rilke đã cho thấy tài năng đặc biệt không chỉ trong các miêu tả đậm tính thơ ca, mà còn là những thử nghiệm giữa hai bờ hư – thực, kết hợp hư cấu và phi hư cấu trong những nguyên mẫu lấy từ nghệ thuật cùng với sử sách.
MINH TUẤN