. TRẦN THUỶ
Ba tôi sắp chết.
Vị bác sĩ ở bệnh viện thành phố Mainz thông báo với tôi bằng giọng buồn rầu. Tôi sững lại bần thần, nhìn vết sẹo lộ ra trên mỏm đầu còn vài cọng tóc lởm chởm của ba. Mỗi lần ba rướn người để thở, những vết thương trên người co rút, nhăn nhúm. Ba đưa tay vẫy tôi lại gần hơn. Trong đôi mắt mờ đục bỗng rạng lên chút ánh sáng. Tôi run rẩy nắm chặt bàn tay khô lạnh ấy, cúi xuống thấp hơn. Cố lắng nghe những lời ba thều thào trăng trối...
Tên tôi là Tonny.

Minh hoạ: Lê Anh Vân
Cái tên ba tự nghĩ. Ba đặt cho tôi tên ấy khi chúng tôi đến nước Đức, sau những ngày tưởng chừng đã bị chôn vùi dưới đáy đại dương sâu thẳm. Ông dặn, cái tên cũ không cần nữa, con phải quên nó đi. Mặt ông đanh lại như cố kìm nén nỗi giận dữ vẫn hừng hực chực bùng lên khiến đứa trẻ mới năm tuổi như tôi chỉ biết nín miệng.
Tuổi thơ của tôi trôi qua trong một căn phòng im lặng. Những bức tường dày khép kín, bộ bàn ghế sờn màu yên vị bên cạnh cửa sổ. Không họ hàng, người thân, không những cuộc thăm hỏi tụ tập dù chỉ là mối quan hệ xã giao. Những người Việt sống quanh vùng, dù chạm mặt ngoài đường, ba cũng lờ đi như không quen biết.
Ba tôi hiếm khi cười. Ông rất kiệm lời. Những câu nói của ba thường cụt lủn. Mỗi khi cất lời đều phải nghĩ rất lâu, đắn đo và cân nhắc. Ban đêm, tôi thường nghe ông trở mình khó ngủ vì những cơn đau. Có lúc ông rên hừ hừ, giọng nghẹn lại như đang cố gọi một cái tên nào đó. Có lúc ông hét to thất thanh. Tỉnh dậy hổn hển, mồ hôi vã ra đầm đìa, rồi ôm đầu quằn quại. Tôi sợ hãi nép vào góc giường, không dám hỏi vì nghĩ mình còn nhỏ, chẳng giúp được gì. Tôi chỉ biết răm rắp nghe lời ba, đến trường học và trở về căn phòng im lặng đó. Tôi thường ngồi võng mắt ra cửa sổ nhìn thời gian lướt trôi trên từng đám lá dẻ hoe vàng và đuổi theo bóng của ánh hoàng hôn đang thoai thoải rơi vào khoảng trời xa vắng. Tôi chờ ba về sau một ngày làm việc mệt mỏi, thấm lạnh từ căn phòng chứa đầy thịt và xúc xích. Hai ba con cắm cúi ăn như hai cái bóng dưới ánh đèn nhờ nhạt. Thức ăn ngày nào cũng vậy: Súp bắp cải, bánh mì với thịt nguội hoặc khoai tây nghiền... Những thứ mà bọn trẻ ở Đức vẫn ăn. Trong lúc nhai, tôi cố tình nhìn vào mắt ba, mong mỏi ông hỏi tôi một vài câu quan tâm như: Hôm nay con học ổn chứ, có khó không? Có đứa nào bắt nạt con không? Mà tuyệt nhiên ba không để ý. Ông lặng lẽ ăn cho xong rồi nhắc tôi dọn đồ đi rửa. Ông bật tivi, chỉ xem kênh Đức chứ không có kênh nào khác. Tôi đã nghĩ, nếu ba hỏi, tôi sẽ rơm rớm mà kể: Tôi không hề ổn!
Ở trường, tôi bị mấy đứa lớp trên gọi là “Ching chang chong”. Bọn chúng kéo mắt xếch ngược lên, lè lưỡi rồi cười rộ chế nhạo tôi khắp hành lang. Tôi đỏ mặt tía tai, cúi đầu bỏ chạy thật nhanh thoát khỏi chúng nó. Về nhà, tôi cố cong lưỡi phát âm từng từ tiếng Đức cho thật tốt. Chỉ mong đến lớp khi cô giáo gọi tên, tôi sẽ bật dậy trả lời thật nhanh. Như sợ nếu nói sai, tôi sẽ bị đẩy trở lại một nơi nào đó, có khi cả ba nữa - nơi mà ông chẳng muốn nhớ, cũng chẳng muốn trở về...
Tôi biết vì hồi mới sang, cô giáo bảo cả lớp vẽ lá cờ quê hương. Tôi cầm bút đắn đo rất lâu vì không biết phải vẽ thế nào. Cô giáo đưa cho tôi và một số bạn hình ảnh lá cờ quê hương mình. Tôi nhìn ngắm và nắn nót đưa cọ. Một mảng màu đỏ chói, ở giữa là ngôi sao vàng năm cánh nổi bật. Tôi mang bức vẽ về nhà ríu rít khoe ba. Cứ nghĩ ông sẽ vui lắm. Ba giật lấy, mặt tái đi. Ông lớn giọng bảo, giờ tôi là người Đức rồi, tôi chỉ có duy nhất một quê hương đó thôi. Ba ngồi sụp xuống ghế, hai tay ôm đầu. Còn tôi, miệng mếu xệu. Nước mắt chỉ muốn vỡ òa...
*
* *
Nhưng dù cố tình giấu giếm thế nào, tôi cũng không thể phủ nhận được thân phận, gốc gác của mình. Buổi sáng hôm ấy trong tiết học địa lí, cô giáo đứng trước tấm bản đồ thế giới treo trên bức tường đã ngả màu. Cô dùng thước gỗ chỉ đến từng vùng. Những mũi tên kéo dài từ châu Phi lên phía Bắc, tỏa sang các lục địa. Cô nói về những người da trắng, tóc vàng, sinh ra từ những vùng đất lạnh, nơi ánh sáng yếu ớt buộc cơ thể phải thích nghi thay đổi. Rồi cô chỉ xuống châu Phi, nơi có ánh mặt trời gay gắt in dấu lên làn da sẫm màu và mái tóc quăn đặc biệt. Cuối cùng, cô dừng thước ở phía Đông, nơi những con sông lớn uốn mình chảy qua đồng bằng phù sa. Cô nói về những cộng đồng người da vàng, tóc đen, lớn lên cùng gió mùa và lúa nước. Cả lớp im phăng phắc. Tôi ngồi yên, mắt dõi theo cánh tay cô đưa trên bản đồ.
Về nhà, tôi nhìn vào tấm gương sau cánh cửa. Sống mũi tôi hơi thấp. Da vàng. Mắt sẫm. Dù tôi cố gắng nghiêng mặt thế nào, chúng cũng chẳng thay đổi. Cả cái tên Tonny cũng không khiến làn da của tôi trắng lên được. Trong đầu tôi chỉ mơ hồ nhớ đến những mái nhà nâu thẫm, những cánh đồng mênh mông, những dòng sông có rặng dừa soi bóng, nơi mạ tôi đã nằm lại, và một phần kí ức của ba, dù bị chôn vùi đến đâu, vẫn âm ỉ nhói đau mỗi ngày.
*
* *
Năm đó, lớp tôi có một bạn người Việt mới chuyển đến. Tôi lân la làm quen. Rồi chúng tôi thân nhau rất nhanh, như giữa hai đứa có sẵn một sự đồng cảm vô hình. Nhưng mối thân thiết ấy luôn bị giám sát vì ánh mắt của ba, mỗi khi tôi nhắc đến bạn, lại phảng phất điều gì đó lạnh lẽo, dè chừng. Ở cạnh bạn, tôi thấy lòng dịu lại khi nghe bạn kể về gia đình, về những mối quan hệ ấm áp của cộng đồng người Việt nơi xứ người. Song song với cảm giác ấy là nỗi áy náy mơ hồ. Giống như tôi đang cố tình đi chệch khỏi vùng an toàn mà ba đã vạch sẵn.
Dịp Tết năm đó, tôi theo gia đình bạn đến một hội trường lớn ở ngoại ô. Ngay từ cửa vào tôi đã choáng ngợp. Sân khấu được trang hoàng rực rỡ, đèn màu giăng khắp nơi, nổi bật trên cao là dòng chữ “Happy New Year” rực sáng. Tiếng nhạc xuân vang lên rộn rã từ hai cái loa thùng. Những giai điệu mà tôi chỉ từng nghe trộm qua chiếc radio cũ của ba vào dịp cuối năm. Hội trường chật kín người. Toàn những gương mặt châu Á giống tôi, những giọng nói quen thuộc. Mọi người mặc quần áo đẹp, bắt tay nhau, cùng nâng li chúc mừng năm mới. Họ chúc nhau chân cứng đá mềm nơi xứ người, chúc con cái học hành giỏi giang, chúc cho quê hương ngày càng thịnh vượng. Tôi bị kéo theo vòng tay vừa đi vừa hát, cảm giác hội ngộ lan tỏa. Bàn tiệc được bày biện đẹp mắt. Tôi trầm trồ trước những món ăn đủ sắc màu. Một bác gái tiến tới mời tôi nếm thử miếng bánh chưng nhà bác tự làm. Nó xanh mướt, dẻo rền, hương vị rất lạ mà quen. Như hồi bé tôi đã từng thưởng thức. Giữa tiếng cười nói, tiếng nhạc xuân và thức ăn ngon. Tôi chợt nghĩ đến ba. Không biết, nếu có mặt ở đây ông sẽ thế nào?
Tôi đang cười thì thấy ba đứng ngay cửa. Ông không tỏ ra bực bội. Chỉ bước đến nắm tay tôi, kéo đi trước sự ngạc nhiên của gia đình bạn tôi và bao người khác. Trên đường về, tôi giật tay ra và hỏi ông dồn dập: Tại sao ba phải sống như vậy? Ba muốn chạy trốn điều gì, ba nói cho con biết đi?
Ba im lặng không trả lời. Đôi mắt ba nhìn ra xa như muốn né tránh. Ông đi chợ. Mua nếp. Mua đậu. Mua thịt. Về nhà, ông gói bánh tét, nấu nồi thịt kho trứng, nồi chè chuối thưng đặc sánh. Căn bếp nhỏ ngập tràn mùi thức ăn giống hệt trong hội trường. Ông dọn mâm cơm trước mặt tôi và bảo: Nếu con muốn ăn… ba sẽ nấu cho con. Nhưng đừng bao giờ nhắc đến nơi đó nữa.
Nói xong, mặt ông tái nhợt, hai thái dương giật giật. Tôi sợ những cơn đau lại làm ông choáng váng nên ngồi xuống, cắm cúi ăn. Nước mắt nhỏ vào bát lúc nào không biết. Sau lưng tôi, ba đứng quay mặt vào tường. Vai ông rung nhè nhẹ...

Minh hoạ: Lê Anh Vân
Lớn lên một chút, những gì tôi biết về ba là những mảnh kí ức không liền mạch. Ba kể cho tôi nghe sau những cơn ác mộng, những cơn đau giằng xé cả tinh thần và thể xác, tưởng chừng không bao giờ dứt của ba.
Quê ông là một ngôi làng nhỏ yên bình nằm ven sông Thạch Hãn. Bàn tay ông sinh ra vốn không phải để cầm súng. Bàn tay thư sinh ấy từng quen giở những trang sách, quen nắn nót từng con chữ cho đám học trò. Một buổi sáng, giấy gọi quân dịch gửi đến. Tiếng loa đầu làng oang oang đọc tên những người phải lên đường phục vụ cho chính phủ. Trong danh sách ấy, có tên ba. Khoác bộ quân phục rằn ri trên người, ba ngơ ngác không biết tại sao mình phải chiến đấu chống lại những người mình chẳng có thù hằn, sân hận gì. Ba tỏ thái độ thì bị đẩy đi xa hơn, qua hết trận càn này đến trận càn khác. Như người ta muốn ném ba vào lửa để tôi luyện cho ông một ý chí sắt đá. Năm sáu tám, ông lăn lộn cùng đồng đội trong những cánh rừng ven Củ Chi, Hóc Môn. Cây cối bị thiêu rụi, đất đai bị xới tung bởi bom pháo Tết Mậu Thân. Nhà cửa làng mạc cháy sém, dân chạy loạn tứ tung, tiếng la hét khóc lóc như ri. Những khuôn mặt hoảng hốt hiện lên rồi mất hút sau từng tiếng nổ. Có lần, ông chứng kiến ngay trước mắt, viên sĩ quan chỉ huy lạnh lùng thẳng tay bắn chết một người vừa chui ra khỏi hầm. Người đó không mang súng, mắt đờ đẫn chưa kịp hiểu điều gì. Tiếng đạn vô cảm vang lên khiến ba thấy ngực mình đau nhói. Đến lượt ông phải bắn. Trước mặt ông là những người lính chân lấm tay bùn đang tìm cách thoát thân. Có thể, họ vừa chiến đấu vừa nghĩ đến mẹ cha, đến vợ con, đến một căn nhà tốc mái chưa kịp dựng xong. Nhưng trong cuộc đối đầu này, viên chỉ huy luôn nghiêm sắc mặt với quân lệnh như búa bổ: Bắn!
Ngón tay ông siết cò, toàn cơ thể căng cứng, tim muốn vỡ khỏi lồng ngực. Những đêm sau đó, ông không sao ngủ được, mồ hôi túa ra lạnh toát. Đầu lặp đi lặp lại hình ảnh những ánh mắt thất thần nhìn ông trước khi gục ngã. Và cả những đôi mắt đồng đội của ông, nằm phơi xác trên trận địa mãi không thể nhắm được. Ông tìm cách bỏ trốn khỏi căn cứ, chỉ mong tránh cái chết vô nghĩa. Nhưng vừa vượt qua khúc sông đầy bùn lầy, rắn rết giữa đêm mưa nặng hạt. Ông đã bị bắt lại. Họ chuyển ông vào vùng lửa Trị - Thiên với lí do, cho về quê hương.
Trong một trận chiến ác liệt, đất trời rung chuyển dưới những loạt pháo dữ dội. Ba ôm súng bò sát bờ hào, hai tai ù đặc. Ông không thể phân biệt nổi đâu là bên này, đâu là bên kia. Chỉ thấy bóng người ngã nhào, người hét lên. Một tiếng nổ xé toạc không gian. Ba cảm thấy đầu mình như bị bổ đôi, máu trào ra nóng hổi, chảy xuống mặt, xuống cổ, vài mảnh đạn khác xuyên qua bụng. Ba nằm vắt mình trên miệng hào, mắt trừng trừng nhìn bầu trời như sắp sụp đổ. Trong khoảnh khắc đó, ba đã nghĩ: Vậy là xong!
Nhưng rất may, thần chết chưa kéo ông đi. Chiến tranh chỉ kịp nham nhở đóng dấu lên cơ thể ông bằng những vết sẹo lồi lõm. Ba trở về, mang theo một thân thể rách nát, một tâm hồn không còn lành lặn. Và trong sâu thẳm, kí ức của ông như vẫn kẹt lại đâu đó giữa những cánh rừng cháy khét năm nào. Nơi ông biết, điều khiến mình ám ảnh suốt đời, chính là khoảnh khắc buộc phải bóp cò vào những thân phận đang cố sống sót.
*
* *
Về làng, ông gặp mạ tôi, người con gái hiền lành có giọng hò ngọt lịm. Mặc cho ba luôn tỏ ra ngại ngần vì là người ở “phía bên kia”, thương tật đầy mình, mạ không hề chê ông. Bỏ qua những lời phản đối của gia đình, bà nguyện lòng theo ba và sinh cho ông một cậu con trai kháu khỉnh. Ba sung sướng, tưởng như chạm tay được vào hạnh phúc. Nhưng khi tôi mới tròn năm tháng tuổi, bom đạn tràn về làng. Trong lúc cả nhà cuống cuồng chuẩn bị di tản. Vừa bước qua cổng, mạ ngã quỵ xuống. Một mảnh đạn lạc găm thẳng vào ngực trái của bà. Máu xối xả không ngừng. Mạ chết trên tay ba, nhanh đến mức chẳng kịp thốt lên lời. Ba ôm chặt lấy mạ gào khóc như kẻ điên. Tiếng đạn pháo vẫn ầm ầm đuổi sau lưng. Ba nuốt nước mắt, nhìn đứa con thơ đang khản cổ trong chiếc giỏ mây. Quấn con bằng một tấm khăn trước ngực, tay kia cầm xẻng. Từng nhát, từng nhát, ông đào hố chôn mạ ngay dưới gốc mai sau vườn. Gốc mai mà ba kể rằng, đó là nhân chứng cho mối tình son sắt của hai người. Chôn vợ xong, ông ngồi lặng đi trong tiếng bom đạn vẫn gào rú xung quanh. Mắt bần thần xơ xác. Những cánh mai lả tả rụng rơi, phủ kín cả nấm mồ.
Từ ngày đó, trong ba chỉ còn nỗi căm hận chiến tranh, căm hận thứ đã khiến gia đình ông tan nát. Hòa bình đến ai ai cũng hân hoan vui mừng, riêng ông, sống khép mình trong im lặng.
Quá khứ vẫn vậy, như một vết chàm xanh đeo bám ông giữa chốn đông người, qua những ánh mắt dò xét, những khoảng cách vô hình, khiến ông trở thành kẻ lạc lõng ngay trên chính quê hương mình.
Cực chẳng đã, ông liều mình đánh cược với số phận, ôm tôi lên một chuyến tàu nhỏ lênh đênh vượt biển. Bỏ lại sau lưng tất cả để làm lại từ đầu.
*
* *
Nhưng dù có trốn chạy đến đâu, ba cũng chẳng thể thoát khỏi những ám ảnh. Nó không hiện rõ hình hài, mà trú ngụ trong những giấc mộng hãi hùng, trong nỗi đau luôn giày vò kiệt quệ cả tinh thần và thể xác của ông.
Nhiều đêm, ba vẫn nghe thấy một mệnh lệnh lạnh lùng, thúc ông phải đứng lên lao về phía trước. Nếu không, ông sẽ chết. Nửa đêm hôm ấy, cũng giống bao đêm chập chờn khó ngủ khác. Ba bật dậy trong bóng tối, hai tay quờ quạng, miệng hét to tuyệt vọng: Đừng bắn tôi!
Căn phòng chỉ còn một khối mờ ảo, vô hình. Có ai đó đang nhắm vào ông, ai đó đang bóp cò. Ba vùng lên bỏ chạy, ông lao đi trong cơn mộng du, xuyên qua cửa kính tầng hai như qua hàng rào kẽm gai, rơi xuống cùng tiếng vỡ choang, chát chúa. Tôi đang ngủ ở phòng bên mà giật mình tỉnh giấc. Xe cấp cứu rú còi inh ỏi. Người ta đưa ông vào bệnh viện Mainz. Nơi ông phải nằm liệt trên chiếc giường đặc biệt.
Lúc ấy, tôi vừa tròn 27 tuổi.
*
* *
Tôi thầm cảm ơn nước Đức đã cứu chữa giữ lại sự sống cho ba. Nhưng mỗi lần nhìn ba, nhìn vào khuôn mặt không còn nguyên vẹn và đôi mắt chất chứa đầy nỗi niềm, lòng tôi lại nhói lên. Chiến tranh. Giá như hòa bình có thể xóa đi tất cả, giá như những vết thương cũ chịu buông tha thì ba tôi đâu phải chịu khổ sở thế này.
Tôi lầm lũi ở bên ba, trong cảm giác cô đơn và trống trải không dứt. Dẫu vậy, cuộc sống vẫn buộc tôi phải tiếp tục. Một công việc để tồn tại, phấn đấu. Nghĩa vụ chăm sóc ba, lập gia đình, có vợ và những đứa con thơ. Quãng đường phía trước vẫn mở ra, dù quá khứ chưa bao giờ khép lại.
Ba nằm cố định trên chiếc giường tự điều khiển nâng lên hạ xuống. Thức ăn được truyền qua một ống dẫn thẳng vào dạ dày. Mùa xuân qua hay mùa hạ đến, ba chỉ cảm nhận được nhờ những tia nắng lấp lánh bên khung cửa sổ, hay màu của bầu trời lấp ló phía ngoài. Chiếc tivi treo ở góc phòng, lặp đi lặp lại vài kênh tiếng Đức làm bạn cùng ba. Sự sống mỗi ngày chỉ là quãng thời gian mòn mỏi trong vô vọng.
Thỉnh thoảng, tôi chở vợ con đến thăm ba. Hai đứa trẻ liến thoắng kể cho ông nghe chuyến đi về Italy thăm quê ngoại. Chúng kể nhiều lắm. Nào là nước biển xanh ngắt, những chiếc thuyền trắng phau san sát cập bờ. Dì Lucia rất quý chúng, thường đưa đi ăn kem tươi và pasta phủ đầy phô mai vàng ruộm. Mấy đứa con nhà dì cũng vậy, chẳng ngày nào bọn trẻ không cùng nhau nô đùa trên bãi biển. Nơi những con hải âu dạn dĩ sà xuống để cướp bánh mì.
Tôi không biết ba hiểu được bao nhiêu. Chỉ thấy khuôn mặt ông không còn nhăn nhó vì những vết đau sau lưng bắt đầu hoại tử. Khóe miệng ông khẽ cười, ngọng nghịu khen hai đứa. Bất giác, tôi thấy mừng vì các con có một nơi để khoe với ba, nhưng cũng chạnh lòng. “Quê hương” trong tôi còn đâu nữa, hay chỉ là những mảnh giấy bị xé toạc và những cơn mộng du đầy đau đớn của ba.
Tôi nhìn sang Lilia, vợ tôi. Cô ấy cúi xuống tháo đôi tất cũ dưới chân ba, thay bằng đôi tất mới. Lòng tôi dâng lên một niềm cảm kích. Suốt thời gian chung sống, cô ấy luôn cho tôi một chỗ dựa tinh thần ấm áp, vừa là người vợ, người bạn, vừa là người con dâu chu đáo, thảo hiền. Cô ấy chưa bao giờ giục tôi đưa mấy mẹ con về thăm quê, bởi cô hiểu: Những điều không nói ra, có lẽ cứ để yên như vậy.
*
* *
Một ngày đang giờ làm việc, tôi nhận được một cuộc điện thoại. Giọng một người đàn ông Việt có tuổi tự xưng là “chú Sáu”, bạn hồi thơ ấu và từng chiến đấu cùng ba. Rất nhanh, ông gọi đúng tên cúng cơm của tôi là “thằng Sứ”, gọi tên ba, tên ngôi làng ba từng sinh sống, và cả tên O Út, người em gái ruột còn lại duy nhất của ba. Tay tôi cầm điện thoại tưởng như rơi xuống. Những cái tên đã bị chôn vùi trong tiềm thức rất lâu, nay bất ngờ quay trở lại. Tôi vội vàng xin được gặp chú, vì biết chú sống ở Mĩ, chỉ ghé qua Đức du lịch ít ngày.
Chiều hôm đó, trong một quán cà phê nhỏ ven sông Rhein, tôi gặp chú Sáu.
Dòng nước lặng lờ trôi mang một vẻ yên bình. Trên mặt sông, vài con chim bói cá chao nghiêng rồi mất hút vào khoảng trời xám nhạt. Chú Sáu đến sớm hơn tôi. Chú ngồi quay lưng ra sông, dáng người cao gầy, mái tóc đã bạc gần hết. Chú nhìn tôi thật lâu, như để ráp nối khuôn mặt tôi với một khuôn mặt trong kí ức. Rồi chú cười, nụ cười hiền hậu: Con giống y chang ba con… nhất là ánh mắt.
Tôi mời chú li cà phê. Chú nhấp một ngụm nhỏ, gật gù nói cà phê Đức nhạt hơn cà phê ở nhà, nhưng uống riết chắc cũng quen. Chú kể, giọng chậm rãi.
Ngày xưa, chú với ba tôi cùng lớn lên trong một xóm nhỏ, ba hơn chú một tuổi. Hai đứa cùng tắm sông, cùng đi úp lươn, vớt tép ngoài mấy con rạch sau làng. Những trưa nắng chang chang, chú rủ ba trốn ngủ vác cần ra đồng, bị người lớn rượt về cho ăn roi vào mông. Lớn lên, ba đi học làm thầy giáo, còn chú làm thợ rèn. Chiến tranh tràn tới bất ngờ, cả làng hoảng loạn. Tụi chú bị bắt đi lính cùng đợt, ở chung một căn cứ.
Hồi đó có biết chi mô, người ta kêu đi thì đi cho xong nghĩa vụ rứa thôi.
Chú dừng lại, nhìn ra dòng Rhein. Bóng nước vẫn lặng lẽ trôi đều.
Trong một trận đánh lớn… ba con bị thương. Nặng lắm. Người ta đưa ảnh về làng. Còn chú… ở lại. Chiến tranh kéo chú đi hết chiến dịch này đến chiến dịch khác. Rồi hòa bình. Chú theo chuyến bay di tản sang Mĩ ngay ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, không kịp từ biệt gia đình.
Ánh mắt chú lặng đi, đượm buồn.
Chú cứ ngỡ ba con cũng sang đó. Mãi sau này về thăm nhà, qua O Út, chú mới biết ba con định cư ở Đức.
Tôi khẽ gật đầu: Dạ.
Mà sao hai ba con không về thăm quê hương, thăm gia đình? Giọng chú lộ vẻ ngạc nhiên. Tôi nhìn chú, chút bối rối hiện rõ trên gương mặt. Có lẽ, chú cũng đã biết phần nào. Tôi bồi hồi kể cho chú nghe về ba. Về những năm tháng ông sống khép kín, những định kiến ông mang theo. Về nỗi sợ hãi bị nhìn nhận, bị soi lại quá khứ. Chú Sáu nghe rất chăm chú. Khi tôi nói xong, chú khẽ thở dài. Tội cho ảnh thiệt… Răng ảnh lại nghĩ nặng nề, cực đoan rứa. Đất nước mình chừ khác rồi con à, làm chi còn bên ni bên tê nữa. Tụi chú về hoài đó thôi. Con cái chú mở công ty trong nước, đi đi về về bình thường. Có ai gây khó dễ chi mô.
Chú im lặng một lát rồi nói tiếp, giọng nhỏ lại: Sau chuyến đi này, vợ chồng chú tính về định cư luôn. Già rồi. Ở đâu cũng không bằng quê hương mình.
Gió dưới sông bỗng ào lên. Tôi thấy lòng nhẹ đi, như thể ai đó vừa tháo bớt một gánh nặng mà tôi đã mang cùng ba suốt bao năm trời. Tôi nhìn dòng Rhein đang xuôi chảy, nghĩ tới những con sông ở quê hương, nghĩ tới những phận người đã bị chiến tranh đẩy trôi mỗi người mỗi ngả.
*
* *
Hôm sau, tôi đưa chú Sáu vào thăm ba. Phòng bệnh vẫn yên lặng như mọi ngày, mùi thuốc sát trùng lẫn với thứ ánh sáng trắng nhợt hắt xuống từ trần nhà. Ba nằm đó, bất động trên chiếc giường quen thuộc. Đôi mắt dường như luôn nhìn vào một nơi rất xa. Chú Sáu đứng sững ngay ngưỡng cửa. Hai bàn tay chú khẽ run run. Chú hít một hơi thật sâu như kìm nén một điều gì đó đang dâng lên rất mạnh.
Tư… tao đây.
Giọng chú Sáu khàn đi. Ba tôi không quay đầu được. Độ này bệnh tình của ông tiến triển nặng, nhưng đôi mắt khẽ động đậy. Khi chú Sáu bước lại gần, cúi xuống ngang tầm, ba bỗng mở mắt to hơn. Đồng tử rung lên rồi dừng lại trên khuôn mặt chú. Một âm thanh ư ư bật ra. Chú Sáu nắm lấy bàn tay gầy guộc của ba.
Tao nè… Sáu Sậy đây nè. Cái thằng hồi nhỏ hay giành phần úp lươn với mày đó.
Chú cười, mà mắt đỏ hoe. Chú kể nhiều lắm. Chuyện về thăm làng cũ, mọi thứ đã đổi thay. Đường sá mở rộng, nhà cửa san sát. Cuộc sống bây giờ sầm uất và hiện đại hơn nhiều. Tôi thấy cánh tay ba giật giật. Ánh mắt ông không còn vô định nữa, mà bám chặt lấy chú Sáu. Có lúc, mí mắt rưng rưng.
Tư à… chiến tranh qua lâu rồi. Qua thiệt rồi. Đất nước mình giờ khác lắm. Người ta lo làm ăn, lo sống thôi. Chẳng ai hơi sức đâu mà nghĩ chuyện xưa cũ. Gia đình tao về hoài, vui lắm. Sắp tới, tao cũng về hẳn… Dù có chết... tao cũng muốn được chôn cất ở quê mình.
Chú Sáu nói chậm rãi, từng câu như sợ ba không nghe rõ. Trong đôi mắt mờ đục nặng trĩu của ba, có điều gì đó như đang tan chảy. Ba lập bập ngắc ngứ vài từ. Chú Sáu gật đầu, như thể chú hiểu hết. Thỉnh thoảng, chú lén lấy khăn tay lau khóe mắt. Tôi phải ra ngoài hành lang. Tôi sợ, nếu đứng lại lâu hơn, tôi cũng khóc theo chú.
*
* *
Ba tôi mất vào một ngày sương lạnh phủ kín đôi bờ sông Rhein. Một đám tang có lẽ cũng không thể bình lặng hơn, vì ngoài gia đình tôi và vài người bạn ra, ba chẳng còn ai thân thích. Lilia đứng lên thay tôi đọc điếu văn. Cô cố đọc thật chậm trang tiểu sử ngắn ngủi mà tôi có thể viết về ba, bằng giọng kính cẩn, thương xót. Khép lại một đời người, sống âm thầm và ra đi trong lặng lẽ. Tôi đứng im, trống rỗng. Nhìn làn khói hương đang nhè nhẹ tan dần.
Tôi mang tro cốt của ba theo chuyến bay sớm nhất về Việt Nam. Chiếc bình nhỏ được tôi ôm chặt vào lòng. Bên ngoài, những đụn mây trắng nối tiếp nhau vô tận. Tôi nhớ lời trăng trối trong từng hơi thở đứt đoạn của ba: Nếu ba chết… cho ba về với mạ... nha con!
Giờ đây, tôi đang đưa ba về. Về với những người thân ruột thịt, về với mạ, với quê hương, sau một đoạn đời tưởng như xa lắc. Ở sân bay, O Út đã đứng chờ. O già đi nhiều. Vừa nhìn thấy tôi rất giống như trong ảnh, O gọi to: Sứ ơi…
Chỉ một tiếng thôi mà tôi thấy người mình run lên. O ôm lấy tôi, xoa nhẹ lên lưng như để chắc chắn rằng. Đó là thằng cháu của O bằng xương bằng thịt. Rồi O quay sang ôm chặt bình tro cốt của ba, áp vào ngực, tiếng khóc bật ra nức nở: Anh Tư à… sao anh đi mãi chẳng về. Giờ anh trở về trong hình hài này sao? Anh Tư...
Tôi theo O lên xe. Quê hương chầm chậm trôi qua ngoài ô cửa. Những cánh đồng mênh mông, những bờ kênh uốn lượn, những hàng dừa xanh mát lần lượt hiện ra. Dòng Thạch Hãn biêng biếc phơi mình dưới bầu trời yên ả, như thể chiến tranh chỉ là một cơn ác mộng, đã đi qua từ lâu lắm rồi.
O Út đưa tôi ra sau vườn. Dưới gốc mai già, thân cây sần sùi, cành lá xòe rộng. Những chùm hoa vàng rỡ đung đưa trong nắng chiều. Mộ mạ tôi nằm đó, thanh thản và trang trọng. Tôi quỳ xuống, hai tay đặt bình tro cốt của ba lên mộ mạ, nước mắt thổn thức, thấm nhòe.
Mạ ơi… Ba về rồi... Con đưa ba về với mạ đây rồi!
Gió khẽ lay, những cánh hoa rơi lặng lẽ. Ba tôi nằm xuống ngủ yên bên cạnh mạ...
T.T