. THANH TUÂN
Thằng Dỗi lên cầu thang. Bước chân lịch bịch chưa qua khỏi cửa, cái miệng đã bô bô kêu già không bán quách cái nhà sàn ni đi. Già cả mắt mũi tèm nhem mà leo cầu thang lên xuống ngày mấy bận, té có ngày. Cái nhà sàn ni mà bán có khi làm được hai cái nhà thấp như nhà hắn.
Ông già De đang ngồi bên bếp lửa phía góc, nghe tiếng, không nhìn ra ông cũng biết ai. Định hỏi hắn đi đâu thì thằng Dỗi đã tuồng một hơi. Nói con qua xin già từ mai cho con đi băng qua rừng ma, lên rẫy sâm chứ lâu ni phải đi vòng lên đầu thác, rồi leo dốc ngược xuống xa quá. Chưa đi làm mà cái chân thì mỏi, cái bụng thì kêu rồi.

Minh họa: Lê Trí Dũng
Đang cầm khúc củi chụm thêm vào bếp, già De điếng người. Thằng trời đánh. Mấy lời bất kính như rứa mà cũng nói ra được, không sợ giàng quở, không sợ giàng phạt cho. Già De định phang luôn khúc củi vào hắn, nhưng hắn đã sà nhanh lại chỗ bếp, cười hềnh hệch.
- Răng già, cho con đi đường tắt qua rừng ma nghe già?
Già làng thở ra một hơi, nghiêng người dựa lưng vào tấm ván tường nhà, chân duỗi thẳng ra bên bếp. Ông đưa cặp mắt sâu hoắm nhìn. Hắn đang vơ cây đũa bếp khều mấy cục than đỏ sang một bên và gạt tro lấp than lại. Thằng con trai của đứa bạn hồi nối khố, có đâu ngày càng đổ đốn ăn nói bỗ bã thế này.
Ông nhớ lại những ngày cùng cha hắn đi chặt cây về làm cái nhà sàn ni. Cây lim to trên đỉnh núi Ngọc K’Linh. Hai người phải đi sáng sớm tới xế ròng, băng qua mấy dốc, mấy hố sâu, lựa cả trăm mới được cây lim đủ già, đủ ưng cái bụng ni rồi cúng xin giàng, xin thần núi, làm ma cho cây con gà trống to. Chặt bằng rìu mất bảy ngày mới hạ được. Rồi đùm cơm đùm sắn hai người lại cưa, ì ạch cả tháng trời mới xong. Ngày chuyển gỗ về, nhờ cả chục đàn ông trong nóc giúp. Đóng đinh đỉa vào đầu cây, cột dây tời mà lôi qua núi, qua xăng đá, bè theo thác nước mới đưa được gỗ về nhà.
Có ai như cha hắn, cây rừng mà tiếc tới cả cái cành. Cây đã hạ phải vác về cho kì hết. Tấm ván bìa về dựng làm phên tường, mấy cành thẳng làm đòn tay đặng lợp mái rạ ngoài chồ để lúa trên rẫy. Cha hắn nói cây đã chặt là cành lá đã chết, bỏ lại hư mục tiếc lắm, dùng được thì đem dùng, khỏi phải chặt thêm cây khác. Cây rừng rồi cũng hết, nước dưới con suối còn có khi cạn nữa là. Vả lại, mỗi lần chặt cây là mỗi lần cúng giàng, trình ma, dễ dầu gì tự do chặt.
Không phải già De cổ hủ, không muốn sống trong nhà xây, nền xi măng, tường vôi, nhưng người mình luôn sống trên cao, quen rồi. Hơn nữa, cái nhà ni ông nhìn đâu cũng thấy kí ức.
Ngọn lửa bập bùng soi gian nhà sàn cũ kĩ. Trên tường sọ nai còn nguyên chà chơm chĩa. Đó là con nai đực to ông bắn được trên thác năm tầng. Cho tới bây giờ chưa ai bắn được con nào to hơn nó. Bộ chà đẹp quá nên ông để lại, phơi khô và đóng lên tường như ghi nhớ chiến công.
Cái đầu trâu với cặp sừng dài nghênh ngang phía cuối nhà. Đó là đầu của con trâu đực phát trong lễ ăn trâu đầu tiên sau ngày đất nước giải phóng... Bữa đó dân làng dựng cây nêu giữa sân nhà rông. Ban ngày ăn nhậu trong nhà, tối đến đốt đống lửa to, nhảy múa, hát hò. Đàn bà mặc phớt loong dài kín tận mắt cá chân. Đàn ông cởi trần quấn khố, ôm chiêng, thanh la đánh âm âm, huyền hoặc suốt cả tuần, mừng đất nước không còn chiến tranh, mừng nóc không còn cảnh bom rơi đạn nổ để phải bồng bế, dắt díu nhau đi trú.
Ông nhoài người lôi ché rượu cần chỗ góc nhà lại.
- Uống đi. Mày phải uống rượu ni, phải uống giữa nhà sàn ni, uống như ri mới hiểu được cái bụng dạ của người mình.
Ông đẩy sang thằng thanh niên và nói như ra lệnh. Thằng Dỗi châm cần, hút rượu sàn sạt và nuốt ực. Ông lại với lên phía giàn bếp, gỡ xuống con sóc khô, ném qua nó. Mùi sóc khô nướng trên than hồng thơm dậy cả nhà.
- Chén muối ràng rây để trên kệ. Lấy mà chấm.
Thằng thanh niên ngoan ngoãn làm theo. Nó vừa nhai thịt sóc chóp chép, vừa hút rượu cần rồn rột. Ông đưa điếu thuốc quấn bằng lá thuốc rẫy treo giàn bếp khói ám vào thâm xỉn lên miệng hít một hơi dài. Khói nhễu nhờ nhợ, khét lẹt.
Nóc Xo Ro có gần trăm hộ dân đủ tộc người, Xơ Đăng, Cor, Ca Dong sinh sống. Những ngôi nhà làm trên sườn đồi của núi Nhúc, ngó ra trước mặt là đỉnh Ngọc K’Linh sừng sững. Lưng chừng ngọn Ngọc K’Linh là rừng ma, nơi chôn cất người chết của nóc qua bao đời. Từ xóm nhà bên này băng qua suối là lên rừng ma. Cái rừng ma đâu giống chỗ sân làng mà ưng đi qua đi lại, đi lên đi xuống, đi ngả nào cũng được. Đó là chỗ linh nhất cái nóc Xo Ro này.
Đỉnh Ngọc K’Linh là núi thiêng của không riêng nóc Xo Ro mà còn nhiều nóc làng khác quanh núi. Nóc ông Bằng, nóc ông Voi, nóc Nhỏ Thỏm… những nóc thôn đồng bào Cor, Ca Dong, Xơ Đăng, Gié Triêng… Họ bám quanh Ngọc K’Linh như lũ con bám quanh chân cha mẹ… Ngọc K’Linh hiền queo, hiền như nước suối đầu nguồn, cứ âm thầm, nhẫn nại nuôi bầy con qua bao đời. Có củi hiến củi, có sợi mây hiến sợi mây, tới mùa ươi bay, mùa lá dong, mùa dâu đất… đàn con quanh chân núi đều bủa lên núi mà săn bắn, hái lượm. Cuộc sống cứ êm đềm như những đêm trăng.
Ông già De nhớ lại những năm bảy mươi, khi chiến tranh ác liệt, Xo Ro trở thành căn cứ cách mạng. Một lần, bộ đội đang ở nóc thì lão Dúi đã dẫn lính càn lên. May mà De cùng lũ bạn đang chăn bò ngoài đầu dốc thấy được. Tình thế nguy cấp, không còn con đường nào khác để trốn, già làng Đăm dẫn bội đội băng lên phía rừng ma. Lão Dúi dẫn lính Mĩ đuổi theo. Súng bắn nổ rung cả Xo Ro. Con nít khóc thét, đàn bà bồng con ngồi thu lu trong góc nhà. Trâu bò chạy tán loạn. Chó sủa rân trời.
Già Đăm dẫn bộ đội nấp sau cái chang rễ to của cây chò ngay cổng rừng. Lão Dúi và tụi lính Mĩ băng qua suối bắn lên, không trúng phát nào. Bọn chúng không dám xông lên vì rừng rậm rạp. Hơn nữa, lão Dúi vẫn sợ lời nguyền, hễ không được phép già làng mà tự ý lên rừng ma thể nào về cũng bị giàng quở, ma bắt, nặng thì chết hộc máu, nhẹ thì khùng điên. Thế là tụi chúng hậm hực rút quân. Lần đó già làng bảo rừng ma là nơi bao đời dân và các già làng đều nằm lại. Già làng luôn bảo vệ nóc nên chỉ bắt ai xấu bụng, độc ác, hại dân nóc mình còn bộ đội giúp nước giúp dân nên rừng ma bảo vệ cho được bình an.

Minh họa: Lê Trí Dũng
Mấy lần lão Dúi dẫn bọn lính Mĩ lên đánh Xo Ro nhưng không thành, dân Xo Ro đã đề phòng nên ngày nào cũng cử người ra ngoài đầu con dốc đèo Gỗ, trèo lên cây sung to mà canh. Tụi lính lọt tọt lên phía cuối đèo là trên nóc được báo ngay. Biết không đánh được bằng lính bộ, bọn Mĩ cho máy bay thả bom. Bom dội ầm oang xuống nóc. Già làng Đăm lại dẫn dân làng chạy qua rừng ma trú ẩn. Mấy cây chò to nằm chênh vênh trên con dốc, những cái chang rễ như tấm phên lớn che chở người dân. Đàn bà, đàn ông, con nít, bộ đội, đều ngồi thụp xuống, núp vào gốc chò, gốc lim. Bom nổ, mảnh bay rào rào, nhiều mảnh găm cả vào thân, vào chang rễ, lạo xạo, lựt phựt.
Thôi bom, mọi người mới trồi ra, thấy nhiều mảnh bom găm vào thân cây còn nóng hổi. Về nóc thì thấy nhà cửa cháy hơn nửa. Sân nhà rông bị dội bom thành hố sâu đến mấy mét. Bộ đội và dân làng chặt cây, chặt lá mây, lá cọ lợp lại nhà, lấp hố bom, lại trồng sắn trên rẫy, lại chuyển súng đạn về tập kết.
Hồi đó cực khổ nhưng mà ưng cái bụng. Bọn xấu mấy lần theo lão Dúi lên, dụ dỗ đàn bà, con nít bỏ thuốc độc cho bộ đội ăn. Làm răng dân làng mình ghét bỏ bộ đội Cụ Hồ được. Dân làng mình không bán nước. Dân làng mình không xấu cái bụng như lão. Đàn bà con nít cười. Nghe rồi đem mấy lời độc địa đó đổ ra suối.
Thằng Dỗi ngồi im nghe ông già De kể. Đôi mắt người già làng nhìn thôi miên vào đống lửa. Điếu thuốc lá trên môi cháy còn chút tàn chảy xệ xuống bên mép. Ông già vẫn lập bập thuốc, rì rầm. Đó là chuyện già làng Đăm bị bắn. Chính già làng Đăm đã đỡ đạn cho cha Dỗi. Lần đó lão Dúi, cái lão già ranh mãnh như con sói ấy, biết được có người canh gác nên đã âm thầm dẫn lính theo đường tắt lên nóc. Khi cha Dỗi phát hiện cũng là lúc bọn địch lên sát đầu nóc. Cha Dỗi vừa chạy về vừa hét la.
Bộ đội bên trong nhà nghe tiếng tuồng vội sang rừng ma. Bọn lính Mĩ nổ súng bắn theo.
Cha Dỗi bị đạn vào chân ngã quỵ xuống. Già Đăm đã cố lôi cha Dỗi băng qua suối, vừa nhét ông vào chang rễ của cây chò chỗ cổng rừng thì già cũng bị một phát đạn ngã ập đè lên. Lão Dúi hăng máu thấy thế liền lao qua. Chưa bước chân được vào cổng rừng lão đã bị một mũi tên cắm phập vào ngực, té ngửa xuống ngay cạnh cái trụ cổng của rừng ma, hộc máu ra đỏ lòm. Bộ đội nổ súng bắn trả. Bọn Mĩ nã đạn loạn xà ngầu lên phía rừng. Chúng thấy lão Dúi trúng tên ngã xuống nên không dám xông lên, vừa bắn vừa lui, rồi chạy thục mạng xuống dốc đèo. Lão Dúi chết ngay cổng rừng ma. Già Đăm quyết không cho con người có bụng dạ ác độc xấu xa đó bước vào khu rừng thiêng của nóc, giàng đã giúp già bắn phát nỏ có tẩm độc vào kẻ thù của dân. Và già cũng ngã xuống, ngay bên cạnh cha Dỗi.
Đám ma già Đăm là đám ma lớn. Cái chiêng núm trong nhà rông được đem xuống đánh lên ba hồi. Rồi chiêng bằng và thanh la lần lượt đánh theo. Người ta quàn xác vị già làng bằng vỏ cây, đem chôn cạnh cây chò to nhất giữa rừng. Người ta quây đá xung quanh mả thành một vòng tròn. Che lên trên mả cái chồ nhỏ lợp bằng lá mây. Bên mả để nào nồi đồng, chén dĩa, đũa muỗng, quần áo, cái gùi đan bằng dây mây mà già thường dùng, có cả rìu, rựa… Đó là của mà nhà và dân nóc chia cho già. Mả già vì thế trở thành mả có nhiều của nhất trong rừng.
Thằng Dỗi ngồi rít thêm một hơi rượu cần nữa. Mắt hắn nhìn đăm đăm vào ánh lửa. Một già, một trẻ bên bếp đỏ trong nhà sàn. Già De kể, những ngày cha Dỗi còn sống, già De với ông cùng đánh giặc, cùng vào rừng chặt cây lim, cây chò làm nhà, cùng săn con hươu, con nai. Họ đi đâu cũng có nhau như dây leo với cây rừng. Lời già De đều đều, thủ thỉ, nhả ra khắp gian nhà, giắt lên từng tấm ván tường, lên cái chà nai, cái sừng trâu treo trên đó, lên từng buộc lạt trên mái lá cọ.
Với Dỗi, tất cả như xa lạ. Lên lớp sáu, Dỗi được xuống phố học, theo diện nội trú dành cho con thương binh. Cả cái nóc này xét được mỗi mình Dỗi. Những ngày đầu học nội trú, Dỗi thông minh, chăm ngoan, học giỏi. Nhưng rồi lên bấp ba, Dỗi bắt đầu nhác học, lông nhông ăn chơi bè bạn. Tóc cũng vàng hoe, nhưng không là mái tóc vàng vì nắng gió như dân nóc mình mà vàng vì thuốc nhuộm. Làn da đen thêm nhiều vết xăm chằng chịt. Gần hết cấp ba, Dỗi bỏ học đi lang thang. Cha biết được kêu về. Về đôi bữa cái chân không quen lội suối leo rừng, cái thân không quen dang nắng, tay không quen rựa rìu nên Dỗi lại lén cha ra phố.
Đã đời phố, của nả nhà chẳng còn đủ để Dỗi ăn chơi, Dỗi lần mò trở về nóc. Đôi lần dẫn mấy người lạ ra vào, xầm xì bàn tán, rồi Dỗi bán đứt luôn cái nhà sàn. Cha Dỗi ốm nằm bại xụi. Mẹ níu áo kéo, Dỗi phải ở lại nhà. Rồi Dỗi kêu xe cam nhông chở gạch vào làm cái nhà xây, bảo là đem “văn minh” cho nóc. Nhà xây xong, cha Dỗi cũng lăn ra chết. Mẹ cũng đổ bệnh, nằm một chỗ.
Không đi được ra phố, Dỗi lại dẫn theo bọn người ngoài kia vào nóc, vào sâu trong núi, chạy những chiếc xe Min-khơ cao xộng, đem máy cưa vào gầm rú và lôi ra những thân chò, thân lim, sến... Dân trong nóc không ai ưng cái bụng, nhiều lần lên tiếng, nhưng Dỗi lại dẫn bọn người bặm trợn đến nhà hăm dọa, đòi đánh. Thương mồ ma cha Dỗi, thương mẹ Dỗi, mọi người đành thôi chuyện.
Rồi cây lớn rừng già chẳng còn, bọn chúng lần mò phát hiện ra trên đỉnh Ngọc K’Linh có chứa “vàng xanh”. Đó là những củ sâm quý. Thế là chúng thuê người bủa vào rừng. Giăng dây, rào nẻo, xí đất rừng làm đất riêng. Chúng căng lều căng bạt ở trong núi ăn dầm ở dề, cắm chông độc để giữ, ngày cào bới lùng sục tìm sâm, tối đến mang súng đi săn qua cái xăng đá, thác nước. Con cua đá còn sót lại cũng không dám đi kiếm mồi. Con sóc có chuyền cành cũng lấm lét không dám làm động lá. Sáng ra, Ngọc K’Linh không còn tiếng gà rừng để đánh thức dân nóc. Những đêm trăng, nóc không còn nghe con cú muỗi kêu từng tiếng thanh bâng như tiếng suối. Và chẳng còn tiếng con mang tao tác báo hiệu trời sắp chuyển mưa để dân làng biết mà lo, mà ngừa. Cây lớn chẳng còn. Thú rừng mất biệt. Dân nóc cũng chẳng được tự do đi lại trên rừng. Dần dà dân Xo Ro muốn lên núi thì phải trở thành người làm thuê, làm mướn cho chúng.
Ông già De rụng vào đêm nỗi lòng mình như con suối cuối mùa vắt kiệt nước cho đám ruộng xanh tốt. Người già làng ấy quắt queo bên bếp lửa như que củi khô quắp. Que củi âm ỉ cháy, muốn thổi bùng lên ngọn lửa. Chỉ có cánh rừng ma mới níu người ở lại. Phải quyết ở lại giữ lấy cánh rừng ma. Cánh rừng đó mất đi thì nóc này không còn gì nữa. Đó là hồn vía của nóc, của làng. Nhà sàn ni rồi năm chục năm sau cũng hư. Người làng ni rồi năm chục năm sau họ sẽ quên nếu không ai nhắc, ai kể. Chỉ còn cách giữ cái rừng ma.
- Ơ thằng con trai Xo Ro, mày phải biết rừng ma là nơi linh thiêng, nơi giàng ở, cũng là nơi giữ ma. Mày không sợ ma bắt thì mày cũng sợ giàng quở. Đi qua đó còn chi là rừng ma. Ôi! Rừng ma mà mất thì dân nóc có còn là dân nóc?
Rừng ma kể chuyện dân làng đánh giặc giữ nóc. Rừng ma dạy cho dân biết nhớ ơn người đi trước lập làng, lập tục. Rừng ma chỉ cho người sống phải biết ơn, biết ơn núi rừng, biết ơn người đã giúp mình. Những cái mả nào được nhiều của tức là người nằm đó được dân nóc yêu thương, quý mến. Hằng năm, đến ngày bỏ mả, cả làng được lên rừng ma một lần, để dọn mả, để thăm người thân. Họ đặt lại cái vòng đá xung quanh mả. Họ dọn mấy cây dại lấn vào. Họ ngồi kể với người nằm đó biết bao nhiêu chuyện xảy ra trong một năm. Họ tạ ơn. Họ cầu xin.
Bây giờ mà Dỗi và tụi kia băng ngang qua cánh rừng ma thì liệu những đồ bạc, đồ đồng trên mả của mấy già làng tránh được cái lòng tham của tụi hắn? Tụi hắn mà băng chân qua rừng ma được thì mai mốt lại băng xe lên được. Cái chốn yên nghỉ của dân nóc bao đời như thế có được yên ổn? Rồi cây chò, cây lim… Không. Tuyệt đối không được phá cái tục của nóc. Đâu cũng được nhưng rừng ma thì chớ có động vào.
- Máu trong người mày chảy là máu chi? Cha mày vì đâu mà chân đi cà thọt? Mày chưa thấy giàng bắt lão Dúi hộc máu chỗ cổng rừng ma hay chi mà còn đòi dẫn cái bọn xấu bụng kia đi qua đó?
Cành củi khô Dỗi bỏ thêm vào bếp đã bén lửa. Không biết phải lời già De hay men rượu cần mà Dỗi trở nên im lặng, trầm mặc. Đêm huyền linh, ngọn lửa góc nhà sàn bập bùng soi tỏ mặt người. Lửa cháy trong mắt già De. Lửa chảy vào lòng người thanh niên ăn nói bỗ bã hồi đầu đêm. Lửa làm cháy đi cả cái ý nghĩ muốn phá đường băng ngang rừng ma để lên đỉnh núi. Mắt Dỗi rưng rưng. Dỗi nhớ những ngày bé xíu được cha dẫn theo lên núi lấy măng, lấy rau. Cha chỉ Dỗi đâu là lá rau ranh ăn được, đâu là lá cây bứa chua loét, lá dây gắm đắng ngắt. Cha chỉ Dỗi biết phân biệt đâu là hang con dúi, hang con chuột. Cái gùi trên lưng cha có mớ củi, mớ măng rau nặng trịt vai còn Dỗi được tung tăng vừa đi vừa ăn trái bứa rừng, trái dâu đất chua ngọt. Mới đó mà ngày ấy đã xa lắc. Rồi Dỗi lại nhớ tới ngày cha mất, đôi mắt ông trũng sâu, đục ngầu, buồn thẳm như thác rừng cô độc. Trước khi chết ông chỉ nhắc là nhớ đưa ông chôn trong rừng ma, chỗ gốc chò, cạnh mả già Đăm để ông được nghỉ ngơi yên tĩnh bên người già làng quý kính.
Ngoài phía nhà rông, đêm sâu thẳm, có con gió đi lạc miết vào đêm, vào mái cọ hù hù. Lần này già De là người khơi bếp lửa. Ông gợt bớt tro qua một bên và chụm vào khúc củi lớn, dường như ông muốn lửa được đượm hơn. Lửa bén củi nổ lép bép. Ngọn lửa mang theo tàn tro sau mỗi tiếng nổ bay rực lên như pháo hoa, long lanh trong mắt Dỗi. Giữa lung linh ngọn lửa, Dỗi thấy hiện lên sừng sững hai cây chò, đó là hai cây chò trước cổng rừng. Hai cây chò canh cho những giấc ngủ yên bình muôn thuở. Trên thân cây, chang rễ lớn vẫn còn những vết thương lõm lồi chằng chịt. Dỗi lại thấy cha mình, ông đứng đó cười, đưa tay vẫy như tạm biệt, nụ cười cha thiệt hiền, hiền như mảnh trăng khuyết treo trên đỉnh Ngọc K’Linh vào những đêm nhung mịn…
Già De ngửa lưng dựa vào vách nhà, chân lại duỗi ra bên bếp lửa. Lần này già De nhìn vào mắt thằng thanh niên. Hắn vẫn ngồi đó, mắt soi vào lửa, đôi mắt với hàng mi cong vút long lanh, rưng rưng. Trên môi người già làng khô quắp ấy nở nhẹ một nụ cười chan chứa.
Con gà rừng trên Ngọc K’Linh cất tiếng gáy, những đàn bà siêng năng đã dậy lục đục. Tiếng chẻ củi lốc cốc trong nhập nhoạng sương núi lạnh căm căm. Tiếng gà quác, heo éc dậy lên. Rồi khói bếp từ những ngôi nhà sàn phả ra, bện vào sương núi êm êm. Ánh lửa lập lòe xua dần cái lạnh. Trên lưng chừng đỉnh Ngọc K’Linh, khói đá đã cuộn lên thành từng dải trắng bưng, trắng như hoa dẻ mùa xuân. Khói đá vây vòng quanh chỉ chừa chóp núi ngất cao. Mặt trời len qua khe núi đổ nắng xuống làng, mọi người trong làng tủa ra khỏi nhà, ai cũng cái gùi trên lưng, có rựa, có đùm cơm, khoai, bắp luộc, bí đỏ luộc gói trong lá chuối, lá dong… Người lên rẫy, người vào rừng, người ra suối... Con nít đứa nào cũng tóc xoăn tít, hoe vàng, đi sau bầy bò, bầy trâu, cười nói rổn rảng. Người lớn cũng cười nói râm ran. Đi đâu cũng được nhưng tuyệt đối không được bén mảng qua đó, khu rừng ma trước làng, trên lưng chừng đỉnh Ngọc K’Linh.
T.T