. TRƯƠNG NGỌC HÙNG
Ngay chân một điểm cao, xưa kia là nơi tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch, đã có rất nhiều người lính trẻ mãi mãi nằm lại hóa thân vào đất đai, cây cỏ. Qua thời bao cấp khốn khó ít năm, các cựu binh hò nhau chạy ngược chạy xuôi dựng trên đó một đài hương, rồi như sợ linh hồn anh em quạnh quẽ, tủi thân, nên phân công người quanh năm trông coi hương khói…

Minh họa: Đỗ Dũng
Đài hương lúc đầu chỉ có các cựu binh, dần dần khách du lịch cũng lui tới. Một quán nước được dựng lên, chiếc bạt căng vát dưới bóng cây. Quán chỉ có một chiếc bàn ghép bằng những cây vầu. Trên bàn đặt một lọ to chứa độc một loại kẹo dồi chó. Một cối thuốc trăm điếu cuốn thủ công, sợi vàng óng, loại thuốc lá trồng rất nhiều ở Lạng Sơn. Cùng la liệt những chiếc bát sắt tráng men sứt mẻ, cóc cáy chứa thứ nước vàng vàng đặc sánh, cảm tưởng như con ruồi hay con muỗi vô tình sa xuống cũng không thể nào rút cánh lên được. Hương tỏa ra từ thứ nước đó lạ lắm, ngầy ngậy, ngòn ngọt, bảng lảng, mùi của mồ hôi nhiều ngày không tắm, của nước hoa tiểu thư, của ham muốn đàn bà, của bùn non, thuốc súng. Rất đông người chen chúc để uống thức nước đó; một số đến sớm ngồi trên tấm bạt dứa cũ kĩ, rách lỗ chỗ; còn hầu hết đến sau đánh phệt xuống đất chẳng thắc mắc, đòi hỏi gì. Kiểu ngồi, cách nói, trang phục ở đây phải nói rằng rất chi là lính. Nghĩa là không cần hỏi, không cần nói cũng thừa biết đây là lính, lính chiến hẳn hoi, toát ra từ tự thân, không thể nào khác được. Và khi nhìn vào sâu thẳm mắt họ vẫn toát ra sức nóng hầm hập, khét lèn lẹt của khói súng, đạn bom, của gian nan, khổ sở, đau đớn, và cả của khát khao tuổi trẻ nữa. Dù rằng cái thời ấy đã xa lắm rồi, và rằng trong nhóm người đó dễ nhận ra vài đại gia, tỉ phú xuất hiện trên truyền hình như cơm bữa.
Trên chiếc ghế duy nhất, chủ quán - người phụ nữ chỉ còn có một chân loay hoay phục vụ. Xung quanh là tiếng ồn ào chẳng mấy khi dứt của các cựu binh thăm lại chiến trường.
“Cũng là chè, nhưng ngồi ở đây, uống ở đây hương vị khác hẳn, chúng mày có thấy như thế không?”
“Chả thế. Tao ở tít tận cùng đất nước rồi, mà ít nhất một năm đôi lần phải ra đây bằng được để thì thầm với những thằng đã chết, để uống thứ chè đặc sánh, nồng mùi lính này”.
“Hơn thế. Chè này, giống hệt loại thằng Thịnh con hái, sao, vò trên chốt...”
Tất cả cùng lặng đi. Hơi thở ép căng lồng ngực rồi bỗng bật ra như hòn đá rơi xuống dòng suối giữa rừng: “Khổ thế. Mãi không sao, đúng lúc được lệnh rút thì bị...”
Chẳng ai bảo ai, nhóm cựu binh cùng ngẩng đầu nhìn xa xa về phía đỉnh núi đất, mờ trong sương...
“Các anh ạ. Mình sắp xuôi rồi không biết có còn trở lại. Em đi hái mẻ cuối. Hôm qua pháo lại bắn. Cái giống chè này lạ lắm, càng ám khói đạn pháo càng đượm càng thơm. Hái sáng, hái chiều đều cho hương vị khác nhau. Chè phải sao bằng củi núi đá. Chảo phải là loại xoong của lính. Nước phải lấy từ sương đêm hứng từ vách đá, có váng đen của thuốc pháo vị càng đậm càng ngon. Uống cũng phải bằng bát sắt tráng men, sứt sẹo càng tốt. Nước rót ra sánh như cao, nhấp vào lưỡi như cứng ra, cổ họng như se lại, dạ dày như ngừng co bóp. Làm một ngụm quên luôn mấy ngày không có nước...”
Những ngày xa xưa ấy…
Cánh chè trắng mốc cong như mỏ quạ.
Đặc sản của lính chốt Vỵ Xuyên.
*
* *
Một tiểu đội, chỉ còn năm người chốt cheo leo trên mỏm núi Đầu Ngựa. Lúc này, đang là giai đoạn cuối của cuộc chiến, binh lính hai bên đều oãi ra chờ đợi…
Túm tụm trong căn hầm bằng đá xếp lên những thanh bê tông đúc sẵn, khum khum như bộ xương của khủng long thời tiền sử, tiểu đội trưởng hỏi mấy anh em sau khi nhấp ngụm nước chè chắt ra từ chiếc ăng gô.
“Nếu được về việc đầu tiên chúng mày sẽ làm gì?”
“Đóng cửa ba ngày liền với vợ”.
“Sẽ cưới vợ ngay lập tức”.
Sẽ... và sẽ... Những dự định chẳng xa vời, cao sang.
“Em sẽ vào một trường nào đó”. Thịnh con rụt rè.
“Hôm nay chỉ nói về đàn bà. Hiểu chưa?”
“Em sợ lắm”.
“Sợ. Làm sao phải sợ. Ai ăn thịt mày?”
Thịnh co rúm người lại rồi bắt đầu kể chuyện hồi ở nhà, năm nó mười tuổi. Lúc đó, gần nhà có một cô gái xinh lắm. Nó không biết tả thế nào cho cụ tỉ chi tiết, chỉ biết là rất xinh nên có nhiều anh thập thò ngấp ngó. Đến một đêm kia, đang say giấc, nó bị dựng dậy bởi tiếng nổ như sét đánh cùng tiếng hô oai vệ không kém: “Nằm im. Dân quân đây”. Nó vọt sang đã thấy vòng trong vòng ngoài toàn người là người, như già trẻ lớn bé cả làng đều tập trung ở đây cả. Bên trong cái vòng ấy cô gái và chàng trai trần truồng bị trói áp lưng vào nhau. Cô gái khổ sở cố thu mình, co đầu gối lên che ngực. Trăng rọi qua lỗ thủng bằng chiếc rá trên mái nhà, dưới đất lả tả vụn ngói. Gã Tréc-no-mo huơ huơ khẩu súng dường như vẫn còn bốc khói. Phải giải thích thêm về cái tên của gã: dân làng gọi thế vì gã lúc nào cũng kè kè khẩu súng, mà nòng súng vượt quá đầu, báng súng kéo lê trên đất, trông không khác quỷ lùn Tréc-no-mo trong phim thần thoại của Liên Xô.
“Về ngay”. Mẹ một tay túm cổ áo nó, tay kia lôi bố xềnh xệch cùng về. “Hay ho lắm đấy mà xem. Trông đấy mà làm gương. Nhục”. “Sao thế hả mẹ?” Nó hỏi ngơ ngẩn. “Sao nữa. Hủ hóa. Dính với đàn bà chả có gì tốt đẹp cả. Mày nhớ chưa?” Bố nghe mẹ dạy nó, cười cười chẳng nói gì. Thật lòng, nó chả hiểu hủ hóa là gì, mang máng hình như liên quan đến đàn ông đàn bà cởi truồng. Từ đấy, nó tránh đi gần, đứng gần, ngồi gần đàn bà con gái.
Chưa hết, nó còn kể thêm cho các anh nghe nó chỉ ước một lần được xuống thị xã, xuống phố ăn phở. Đó là món ăn nó biết qua bài học vỡ lòng: “phố, phở, phố có nhà to”. Bởi làng nó ở tận cuối huyện, mùa nước lụt nổi lên như một hòn đảo, cách biệt với tất cả thế giới. Muốn lên thị trấn phải đi đò, rồi cuốc bộ hết chẵn một ngày. Cả làng chỉ mình gã Tréc-no-mo có xe đạp. Chiếc xe được gã dành riêng một chiếc chõng tre. Gã tuyên bố với cả làng rằng: “Trên đời này mọi cái đều có thể cho mượn, kể cả vợ, trừ xe đạp”. Và quả như vậy, vợ con, gã đấm bùm bụp, đập phành phạch nhưng xe đạp thì không. Chiếc phất trần lông gà lướt qua mọi chỗ, rồi dắt màn cẩn thận. Chiếc màn nhuộm nâu tuy vá nhiều chỗ nhưng đủ kín để “muỗi không đốt được xe của tao”. Thành thử, suốt bao nhiêu năm, nó không dám bén mảng nghĩ đến việc được ngồi trên chiếc xe đạp để lên thị trấn.
Cả đám nghe xong cười khùng khục nghiêng ngả. Đợi cơn cười qua đi tiều đội trưởng ngửa chiếc mũ cối rúm ró, sứt sẹo để vào đấy những đồng tiền nhàu nhĩ.
“Khổ thân cái thằng mày. Cái thời nam nữ thụ thụ bất thân qua đi từ lâu lắm rồi. Cả cái kiểu rình bắt, đạp cửa nhà người ta xông vào cũng đã thành dĩ vãng. Chúng mày, đứa nào có bao nhiêu bỏ cả ra đây”.
Những đồng tiền cứ thế rơi vào lòng mũ chẳng tính toán.
“Cũng kha khá. Cho mày đi tranh thủ xuống thị xã ăn phở đấy”.
Bao năm ước mơ, giờ được ra thị xã, còn ước mơ nào hơn thế. Nên khi mặt trời vừa nhu nhú, nó vội vàng tụt dốc. Cố thu mình lách qua các vật che khuất, che đỡ dù biết đã lâu rồi chưa có cuộc đụng độ nào. Cứ tự dặn mình cẩn thận vẫn hơn. Đến nơi, thị xã vùng biên thời chiến chỉ còn rơi lại vài ba dãy phố nhỏ buồn u uất. Lúc này, mây đùn từng đống từ sau quả núi. Trời sầm sập tối lúc nào chẳng hay. Ngồi trên chiếc ghế bê tông cụt một chân bên bờ sông Lô, nó nhìn dòng nước lững lờ, mờ mờ như khói chui qua mái bếp. Ánh đèn vàng quạch lúc tắt lúc sáng như ma trơi. Bỗng có giọng đàn bà chua chua, cùng khuôn mặt không dễ đoán tuổi vang lên bên cạnh.
“Anh... À... cậu. Định ở đây cho muỗi nó khiêng, cho gió nó đớp à? Đi không? Mà thôi, tướp thế kia làm chó gì có tiền”.
Nó nhích người tránh hơi ấm phả ra từ hơi thở người đàn bà dí sát sau gáy. Bước chân xa dần, kèm theo tiếng nước bọt chít ra từ kẽ răng: “Sĩ điều, báu lắm đấy”. Mụ nói gì nhỉ? “Không có tiền?” Bất giác nó thò tay vào túi quần. Số tiền tiểu đội trưởng và anh em đưa vẫn còn nguyên. Cái gì tướp nhỉ? Qua nhiều trận đánh, nằm chốt nhiều ngày nhưng thân thể nó chưa hề hấn gì. Còn nguyên mà. Đưa mắt, xoa tay khắp lượt, đầy đủ, chả thiếu gì. “Chịu chả thể nào hiểu nổi”. Nó thở hắt ra, tiếp tục chìm vào kí ức quê nhà để tránh sự xa lạ, lạc lõng của cảnh vật xung quanh mang lại…

Minh họa: Đỗ Dũng
Vườn chè xanh mướt mát một vùng. Hương thơm bay lên từ khắp các mái nhà, mái bếp. Thịnh vẫn nhớ lời bố dạy, bí truyền là ở lúc sao chè, thêm chút lửa là cháy, bớt chút là non. Và những cái đạp chân gấp gáp, phải thật nhanh khi chè đang còn nóng, sớm quá thì không chịu được, muộn hơn, búp vẫn bám lá bồm. Chân ai cũng dính nhựa lem luốc. Bí quyết này chỉ truyền cho con trai, dâu rể xin miễn. Chè được gói trong các gói giấy đủ các loại, đủ màu sắc. Những con mắt lấm lét, thậm thụt của con buôn luôn luôn nhòm ngó. Nổi tiếng cả vùng, cơm ăn áo mặc cũng từ những cân chè được những người miền xuôi lên cất. Tuy vậy, dù thế nào cũng không thoát khỏi cái đói, cái nghèo đeo đẳng. Kèm đó là rét, tê tái, như trong câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế/ Gió qua rừng đèo Khế gió sang”. Gió thông thốc quanh năm, nhiệt độ khi nào cũng thấp hơn xung quanh vài độ...
Và lúc này đây, gió vượt qua đỉnh Mỏ Neo, tạt xuống dòng Lô đẩy hơi lạnh quất vào người nó vun vút. Cố thu mình trên chiếc ghế đá lúc này không khác một tảng băng, nó bắt đầu run, hàm răng va nhau lập cập, làn da nổi từng đám như rắc tấm.
“Này. Muốn chết thì thiếu gì cách. Có cái chết sung sướng nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Đi. Tôi chỉ cho”.
Nó lơ mơ tựa vào bờ vai, nhúc nhắc bước, sực lên mùi đàn bà rất lạ. Bếp lửa nhà ai rực thế? Mùi gì như mùi sắn nướng vừa chín tới. Bàn tay ai mềm thế? Tiếng ai đó lao xao? Cố cưỡng lại sức nặng tựa ngàn cân của bờ mi, nó giật mình bởi vòng tay và thân hình người phụ nữ đang thả những hơi thở nhẹ nhàng, bình yên…
Đêm qua, như mộng du, nó dặt dẹo tựa vào thân hình người đàn bà. Có gì đấy bỏng giãy, ngọt, mềm ấm, sực nức mùi thảo quả, mùi bò hầm, mùi hành tỏi phi cháy, trôi tuột qua cuống họng, đọng lại mãi trong não bộ một món ăn nó chưa bao giờ nếm thử. “Quán phở này ngon nhất vùng”. Một giọng nói thoảng qua, mơ hồ. Phở? Đôi chén rượu nặng thốc vào cổ họng nóng sực lên tận óc. Thì ra là thế. Bài học đầu tiên gieo vào đầu nó ước mơ về thành phố. Lại đi. Con đường lổn nhổn đá, khúc khuỷu, lên lên xuống xuống ngoằn nghèo. Từng tảng ghét rơi ra, lả tả...
“Dậy làm gì sớm thế?”
Người đàn bà ngồi ở góc giường hỏi.
“Đây là đâu? Quần áo đâu cả rồi?”
“Quần áo hả? Kinh khủng. Chắc vài tháng rồi chưa tắm giặt? Cậu uống có chén rượu mà say như chết, vần thế nào cũng thẳng đuỗn ra. Người ngợm thì hôi như cú. Tôi phải cởi quần áo cậu mang ra sông giặt đấy. Treo ngoài sân kia kìa, không mất đâu”.
Nghe người đàn bà chê hôi, nó ngẩn ra, đúng thật, tính từ lúc thay phiên, lên chốt, cả tiểu đội chưa một lần tắm giặt. Không có nước ư? Một phần thôi, cái chính là kiêng cữ rất vớ vẩn. Kiêng cắt tóc, móng tay, móng chân. Kiêng tắm giặt. Kiêng chào hỏi, kiêng bắt tay, kiêng cơm khê, cơm sống, kiêng cả gọi tên nhau...
Chạy ra ngoài lấy quần áo vẫn còn ẩm mặc vào người. Xong nó đi ngó nghiêng quanh nhà cho đỡ ngại, đồng thời để tránh ánh mắt người đàn bà cứ dán lấy chẳng buông. Lúc lâu, mới hỏi vọng vào:
“Chị… không đi làm à?”
“Có chứ, nhưng phải đến tối. Giữa thanh thiên bạch nhật thế này có thằng nào dám. Làm gì hả? Ngu ngơ thế?”
“Thôi, chị làm gì kệ chị. Giờ em lên chốt đây. Không đi nhanh khéo tối chẳng tới Đầu Ngựa”.
“Trên chốt? Đầu Ngựa? Cậu vừa nói gì nhỉ? Cậu là lính à? Cứ tưởng là lái trâu hay thổ phỉ cơ. Mà chỗ đấy gần nhà tôi đấy. Đạn pháo đã đẩy cả xóm tứ tán, mỗi người mỗi ngả. Một thân một mình tôi chả biết đi đâu bèn bám trụ ở đây. Căn nhà vô chủ, có lẽ họ đã bỏ đi từ ngày đầu cuộc chiến. Không nghề ngỗng đành chấp nhận đắp đổi qua ngày. Nhưng thị xã vùng biên trong thời chiến cũng chẳng sẵn việc, nhiều khi nhịn đói, nằm queo...”
“Thế… à… quanh thị xã nhiều đồi chè chẳng ai hái. Của đống tiền cả đấy. Cần gì phải đi đâu xa. Em vừa đảo vào bếp thấy chảo sao chè chủ nhà vẫn còn để lại, mình mượn dùng tạm”.
Thế là Thịnh chẳng về chốt ngay trong ngày như đã định. Nó quyết định dạy chị hái hái, sao sao, vò vò rồi mang thử chè ra các hàng ở chợ trung tâm bán. Ngay hôm đầu tiên, lái buôn đã tự tìm đến.
Tuy ở bên chị yên bình nhưng nó vẫn không nguôi nhớ đến anh em trên chốt. Đến ngày thứ tư xuống thị xã nó quyết định trở về. Không thể ở mãi đây được, dù tiền vẫn còn trong túi kia, và nó đã ăn đến bữa phở thứ năm. Mà phở ăn xong lại thấy lưng lửng, chẳng ra đói, chẳng ra no, nó vẫn thèm cơm độn bo bo ăn với thứ mắm tôm đóng trong bao cói mặn chát. Mỗi lần mở ra hương bay ngào ngạt tràn phè vách núi.
“Đến lúc em phải về chốt rồi. Chị cố giữ lấy nghề chè, không giàu nhưng sống được”.
“Thịnh đừng quên hết chiến tranh tìm tôi…, xóm Trại người Dao nhìn lên đỉnh Đầu Ngựa. Nơi có những cây chè cổ chắc Thịnh biết rồi...”
Chị nói, giọng run run. Mắt rưng rưng...
*
* *
Chênh chao như trên con thuyền nhỏ nhoi giữa phong ba bão tố. Chị làm gì cũng hỏng, hai mẻ chè cháy đen bám vào thành chảo trông như phế thải giữa đường quê. Mấy người lặn lội từ xuôi lên cất hàng phát ngán vì những câu trả lời không ăn nhập của chị. Họ nói với nhau không khéo chị bị ma làm. Mà có thể đúng lắm chứ, con ma từ trong tâm trí đang quấy nhiễu chị. Đi đâu cũng vội vội vàng vàng sợ cậu ấy về.
“Kia rồi, cậu đang ngồi hơ tay trên bếp lửa”.
Bước chân chị tập tễnh, ngã nhào tóe máu.
Rồi sững người. Không có gì hết cả. Người chị nhão ra, như từ trên lưng trời rơi phịch xuống mặt đất. Nỗi cô đơn ùa đến. Chị ngồi bất động nhìn lửa, nhìn bóng mình trên vách. Chị nói chuyện với mình mà như nói chuyện với cậu nhỏ líu lo mới gặp gỡ kia. Chỉ qua có đôi ngày mà cậu đã mở ra trong tâm trí chị một vùng đất chè xa tít dưới xuôi kia. Dù vậy, cậu vẫn ước đánh được đôi ba cây chè cổ thụ trên này về trồng lẫn trong các đồi chè. Để lúc nào nhớ tháng ngày trên chốt lại hái xuống xao…
Chị ngồi lâu lắm, cho đến khi cơn mưa rừng bất ngờ ập đến. Gió vít cây rít lên từng chặp. Nước mưa theo gió tạt ngang vào nhà. Chị bừng tỉnh, vội vàng trùm áo mưa ôm vào lòng chiếc gối, chị không thể ngủ nếu thiếu mùi tỏa ra từ chiếc gối cậu ấy từng gối đầu.
“Không khéo mình lẩn thẩn rồi?”
Từ hôm cậu đi chị cũng thôi không làm cái nghề ngày ngủ đêm thức nữa. Mà lạ lùng sao sống với cậu mấy ngày chị chẳng lúc nào nghĩ đến nhục dục. Cậu khác tất cả những người đàn ông từng đến với chị trước đây, tiền trao cháo múc. Cậu đối với chị là người thân. Cũng chính cậu là sợi dây kéo phần lương thiện sâu thẳm trong chị khỏi vũng lầy chiến tranh. Chị có yêu cậu không? Chắc có. Thế còn cậu, cậu có yêu chị không? Nhiều lần chị hỏi mà rồi chẳng biết câu trả lời thế nào. Chỉ ước một lần gặp lại…
Và lúc này đây, dù mưa đã tạnh từ lâu, chị vẫn ngồi bó gối nhìn về con đường dài tít tắp bị chặn bởi ngọn núi căng ngang. Cảm thấy lạnh lẽo khó tả dù đống lửa giữa nhà vẫn rừng rực cháy.
“Uỳnh…”
Chị giật thót, hoảng hốt bởi một tiếng nổ mồ côi, vu vơ. Lạ thế, gần chục năm nay ở vùng này còn lạ gì tiếng nổ toang toác, đùng đục hay rền rĩ như ngô rang nữa...
*
* *
Một chiều cuối năm.
Thị xã như sôi lên bởi những đoàn quân từ Đồng Văn trở ra, từ Quản Bạ đi về. Trời như ấm lên dù gió vẫn thổi hun hút băng qua các triền núi, quật xuống rẻo đất bám theo dòng Lô. Dù sông mùa cạn buồn ai oán, lơ thơ vài con thuyền nhỏ nát trôi dọc như tiếng thở dài. Từ trong nhà đang ngồi sao chè, chị bỗng nghe loáng thoáng tiếng hét.
“Hết chiến tranh rồi!”
Chị ào ra, hòa vào dòng người, cảm giác châng lâng không thật.
“Phải về thôi. Phải về…”
Dọn dẹp căn nhà gọn ghẽ, để lại mảnh giấy cảm ơn chủ nhà.
Chị buộc túm túi quần áo lên vai, cuốc bộ hơn hai chục cây số trở về. Chị là người đầu tiên về xóm Trại. Rồi tiếp những ngày sau mọi người lục đục kéo về, làm sống dậy các căn nhà hoang tàn bao năm.
Vùng đất xưa kia đặc một màu áo lính giờ bỗng quang lâng. Những địa danh nghe sởn da gà như: Ngã ba Tử Thần, Suối Máu, Lò Vôi Thế Kỉ... đang dần mờ theo thời gian. Chiến tranh chỉ còn hiện diện bởi những bảng chữ nguệch ngoạc cắm khắp nơi: “Có mìn. Nguy hiểm. Cấm vào”, kèm theo đấy là hình vẽ đầu lâu xương chéo. Biển báo không phải trò đùa, bởi lẽ thỉnh thoảng lại vang lên tiếng “ho” chết chóc, theo đó là xác một vật nuôi hoặc thú hoang không may vướng phải.
Lực lượng công binh có hạn chưa thể cùng một lúc rải ra khắp chỗ nên tạm thời khu vực xóm Trại của chị vẫn đợi, chưa được rà phá. Chủ tịch xã vốn là bộ đội công binh phục viên. Giờ thấy đất đai bỏ hoang, ngày ngày người trong xóm hết ra lại vào, mắt vằn đỏ vì rượu nhìn nhau, không chịu được, anh bèn mang về một chiếc máy dò mìn cũ, thành lập đội rà phá bom mìn. Chị tham gia, bởi nôn nóng có đường lên đồi chè xanh rì một góc rừng.
Ở đây, chiếc máy mang tính tâm lí là chính, lúc nó rít lên như xe công nông lên dốc nhưng rốt cuộc chẳng có gì. Khi nó im như thóc thì ngay dưới đó là quả mìn. Vì thế làm thủ công vẫn là chủ yếu. Đoàn người dàn hàng ngang, dùng que sắt xâm từng xăng ti mét, cắm chiếc cờ đuôi nheo đánh dấu rồi tỉ mỉ gẩy từng mẩu đất, nhẹ nhàng nhấc quả mìn đã được vô hiệu đưa về nơi hủy nổ. Hàng tháng trời liên tục, khoảng an toàn ngày một rộng ra, bước chân của người dân tự tin lên rất nhiều.
Không có gì để nói nếu chị không “dính” vào ngày cuối cùng. Một trái, có lẽ là K58 phát nổ. Xã đề nghị lên trên xin chế độ cho chị nhưng nhận về câu trả lời: “Không nằm trong mục nào của nghị định”.
Chủ tịch xã quyết định trích lương mình, cùng bà con quyên góp thêm, với lời hứa: “Xã sẽ chi trả chế độ như thương binh cùng loại. Chị giờ là thương binh của xã”. Cái danh hiệu đó thành biệt danh. Chị không buồn cũng không vui, ngày ngày chống nạng lên đồi hái những búp dưới thấp mang về sao, ướp; còn búp trên cao chị nhờ đám trẻ con ngày nghỉ học hái giúp. Không vò bằng chân được, chị dùng tay, tuy chậm hơn nhưng cũng đủ để đảm bảo cuộc sống bình bình.
Khi cây hương và sau này là đài tưởng niệm hoàn thành, chị dựng lên chiếc quán dã chiến, với niềm mong mỏi cháy bỏng: “Nhất định có người biết về cậu ấy”.
*
* *
Chị gần như chồm lên quên bẵng mình chỉ còn có một chân.
“Các anh vừa nói đến cậu Thịnh quê Thái Nguyên, có cái bớt nhỏ bên gò má phải?”
“Đúng rồi. Sao chị biết cậu ta? Tôi là Tiểu đội trưởng của cậu ấy”.
“Giờ cậu ấy ở đâu? Hình như các anh nói cậu ấy bị? Bị cái gì?”
“Cậu ấy bị pháo...”
Cánh tham mưu con thì thào: “Lãnh đạo gặp nhau rồi. Sắp kết thúc. Nay mai là xuôi…” Thịnh bảo: “Em chả muốn về. Em ở lại đây thôi”. “Chúng mày, thằng Thịnh lạ lắm. Từ qua đến nay toàn nói gở, nhìn vào mắt nó sờ sợ như mắt người âm. Không được cho nó ra ngoài”. Tiểu đội trưởng dặn anh em. Đúng lúc ấy chuông điện thoại reo, tiếng trung đội trưởng rành rọt: “Bên kia thay quân, chú ý quan sát”. Thường là thế, cứ mỗi lúc thay quân chúng đều thị uy bằng một cuộc đột kích hoặc chí ít cũng vài ba quả pháo. “Thịnh. Bảo ở trong hầm ra đây làm gì?” Tiểu đội trưởng gắt. “Vị trí của em ở đây mà”, giọng nói rất mảnh. Một tiếng ục rất nhỏ, tiếng của quả cối 60, tiếng nổ cuối cùng của cuộc chiến tranh biên giới. Thịnh không kịp về trạm phẫu tiền phương…
“Cậu ấy giờ nằm đâu?”
“Có lẽ đã được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ quốc gia”.
*
* *
Từ ấy, cứ vào mùng một, hôm rằm hàng tháng, có người đàn bà khua đôi nạng gỗ lọc cọc, tay bó hương ngún đỏ đi cắm lần lượt các ngôi mộ trong nghĩa trang liệt sĩ. Xong đâu đấy, chị ngồi rất lâu bên ngôi mộ người liệt sĩ quê Thái Nguyên, tên Đỗ Viết Thịnh…
T.N.H