Xuân về trên chiến khu Đ

Chủ nhật - 14/02/2016 01:07
PHẠM VĂN ĐẢNG

logoChiến khu Đ như se lạnh trong ngày cuối năm chúng tôi đến thăm. Cánh rừng già nguyên sinh đang trút những chiếc lá cuối cùng để chuẩn bị cho một mùa xuân sắp đến. Giữa man mác tiếng kèn lá của đồng bào Chơ Ro, trên từng thân cây, thảm lá… như chập chờn những hình ảnh, âm thanh của ngày xưa. Đâu đó, bóng dáng Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh khai khẩn phương Nam... Đâu đó, Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ Trên lưng ngựa múa gươm và ca hát (…) đang ngân nga Ai về xứ Bắc ta đi với/ Thăm lại non sông giống Lạc Hồng/ Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long. Đâu đó, những bước chân lặng lẽ của đoàn quân oai hùng thời chống Pháp, chống Mĩ… Ngày ấy, Chiến khu Đ được coi như một biểu tượng tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh tinh thần của dân Việt, mà như nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn đã có lần khẳng định, nó “có vị trí tương tự như khu căn cứ Việt Bắc đối với Hà Nội và đồng bằng Bắc bộ trước đây trong kháng chiến chống Pháp.”

Tại sao lại gọi là khu Đ? Có nhiều người cho rằng chữ Đ ở đây mang ý nghĩa “đỏ”, hàm ý vùng Chiến khu Cách mạng kiên cường. Hoặc chữ Đ, viết tắt địa danh Đất Cuốc, nơi bộ đội Huỳnh Văn Nghệ khởi cứ đầu tiên, tập hợp lực lượng, hoặc là tên viết tắt Chiến khu Đồng Nai… Nhưng cũng có người giải thích, do Chiến khu Đ là vùng rừng hoang nước độc rất gian khổ, bệnh tật, nên nhiều người gọi đùa là “chiến khu đói”, “chiến khu đau”… Qua biết bao gian khổ, thăng trầm và dù với bất cứ cái tên nào, Chiến khu Đ vẫn là địa bàn đứng chân, xuất phát những trận tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng vào quân địch. Sự tồn tại và phát triển của lực lượng cách mạng từ Chiến khu Đ trở thành mối đe dọa với quân Pháp ở Nam Bộ, khiến chúng phải khiếp đảm thừa nhận: “Chiến khu Đ còn, Sài Gòn mất”.

Càng gần đến căn cứ Khu ủy và Trung ương Cục, dân cư càng thưa thớt. Con đường nhựa quanh co uốn lượn giữa bạt ngàn rừng nguyên sinh. “Đường xá bây giờ sướng rồi chứ không như hồi xưa, toàn ổ trâu ổ gà khấp khểnh. Mùa khô quá trời bụi, mùa mưa thì cứ gọi là trần ai khoai củ, bùn đất có khi văng lên tận cửa kính…”. Thiếu tá Nam của tỉnh đội Đồng Nai - một người đã từng lăn lộn nhiều năm ở địa bàn này chia sẻ. Anh bảo, trong rừng còn mấy chục loài chim, thú có tên trong sách đỏ. Ngày xưa, có đêm nằm võng ở đây, anh giật mình hoảng hốt khi thấy một đàn ba bốn con rắn tranh nhau ăn… tro bếp, may mà chưa gặp hổ. Rồi anh bảo, nếu muốn tìm hiểu rừng Chiến khu Đ và chuyện đánh hổ, đánh Mĩ, thì chỉ có già làng Năm Nổi ở ấp Lí Lịch, xã Phú Lí là rõ nhất.

Người “đả hổ” giữa rừng Chiến khu Đ
Già làng Năm Nổi tham gia du kích từ những ngày đầu chống Pháp. Đã từ lâu, già Năm Nổi (tiếng Chơ Ro gọi là già Tơ Tơ) đã trở thành một biểu tượng của tấm lòng người Chơ Ro suốt đời chung thủy với cách mạng, theo Cụ Hồ. Già ồ lên vui sướng rồi giang hai tay ôm lấy từng người một khi chúng tôi bước vào trong nhà sàn. “Bộ đội đến thăm ta à? Quý lắm à! Xuống đi, xuống dưới kia uống nước”. Thấy tôi thoáng chút ngạc nhiên, Nam giải thích, do nhiều năm hoạt động cách mạng ở Chiến khu Đ, già làng Tơ Tơ nói rất chuẩn tiếng Kinh, dù ông vẫn sử dụng tiếng Chơ Ro để giao tiếp với con cháu. Khuôn mặt phúc hậu, mái tóc bạc trắng như cước, chòm râu bồng bềnh hung hung trông già đẹp như một ông tiên giữa đại ngàn. Già vẫn giữ thói quen đi chân trần, chậm rãi bước về phía căn nhà dành riêng để tiếp khách. Già bảo Nhà nước xây cho căn nhà này, nhưng chỉ ngồi chơi với khách thôi. Già vẫn quen ngủ nhà sàn, sống ở nhà sàn. Tuy đã bước sang tuổi 87 nhưng mắt già vẫn còn sáng, tai vẫn tinh, duy chỉ đôi chân là không nhanh nhẹn được như xưa nữa. Già bảo vẫn nghe đài, để biết thông tin thời sự, vẫn kể chuyện đánh giặc cho lũ làng hiểu biết truyền thống quê hương. Dẫn chúng tôi vào căn phòng treo kín các loại giấy khen, bằng khen và hiện vật chiến tranh, già chỉ cho chúng tôi từng món: Đây là cái ná bắn tên thuốc độc. Hồi thằng Pháp bị mình bắn trúng vai, nó nhăn răng cười rút mũi tên ra, nhưng chỉ năm phút sau đã xỉu xuống để rồi không bao giờ dậy được nữa. Tên tẩm nhựa độc mà! Còn đây là các loại chông, bẫy đánh giặc khi xưa, già cùng với du kích Phú Lí phục bắt bò lạc. Bò lạc là những phi công địch nhảy dù bị lạc trong rừng, hoặc bị du kích bắn lủng dù rơi xuống đất. Già bảo, du kích Phú Lí không sợ máy bay, bom đạn của Mĩ đâu. Đã có trận du kích trèo lên ngọn cây dùng súng trường “Mát” bắn mấy cái máy bay Mĩ. Đạn va vào thân máy bay tóe lửa. Về chuyện đánh cọp, già lấy cho tôi xem chiếc xà gạc (công cụ như chiếc liềm nhưng lưỡi rất sắc, có cán nhỏ dài làm bằng thân tre rừng) và chiếc roi mây đuổi hổ rồi bảo: Bữa gặp con cọp biết không thể bỏ chạy, mình xáp lá cà, vì khi có khoảng cách, nó sẽ nhảy tới vồ và ăn thịt người rất dễ dàng. Lúc ấy, trong tình thế mặt đối mặt mình đánh lừa hướng quan sát của nó, rồi thừa lúc nó không chú ý, mình nhanh tay rút xà gạc ra thủ thế. Khi con cọp lấy đà nhảy lên, mình dang rộng tay kéo xà gạc, lia một nhát chí mạng vào yết hầu nó. Bất ngờ trúng đòn ngay chỗ hiểm, mãnh hổ rừng xanh ngã vật ra chết tại chỗ. Khi xong việc, mình quay lại đưa xác cọp về buôn làng. Thấy mình kéo hổ về làng, mọi người đổ xô ra xem và quá nể phục khi con hổ nặng cả trăm kí đã bị mình khuất phục. Tôi mân mê trên tay chiếc xà gạc và chiếc ná ngày xưa. Già Năm Nổi ân cần chỉ tôi từng cách lắp tên, kéo ná, động tác lia xà gạc. Già chẳng còn đủ sức để kéo được chiếc ná ấy nhưng câu chuyện về người anh hùng dân tộc Châu Ro thì cứ theo mãi chúng tôi trong suốt hành trình.

Niềm vui lính trẻ hôm nay
Trên đường trở ra ngã ba Bà Hào, chúng tôi gặp rất nhiều xe công vụ của Quân khu 7 đang hồi hả về Lí Lịch. Xa xa thấp thoáng từng nhóm dân quân đang vác củi lên sân bãi trung tâm. “Chúng em chuẩn bị cho đêm lửa trại đấy ạ!” - Một chiến sĩ nói. Ngay cổng ra vào là một loạt trang thiết bị sân khấu, âm thanh ánh sáng của Đoàn nghệ thuật Quân khu. Đám lính trẻ từ xe ca của một đơn vị nào đó ào xuống, xốc lại quai ba lô tiến về cổng chính. Bàn ghế đã được xếp ngay ngắn, thẳng hàng. Băng rôn khẩu hiệu đỏ chói bay phần phật dưới tán rừng. Từng nhóm thanh niên tình nguyện của Thành đoàn Biên Hòa, Huyện đoàn Vĩnh Cửu, Đoàn thanh niên công an tỉnh nối nhau tập hợp về Bà Hào chuẩn bị cho các tiết mục văn hóa văn nghệ buổi tối. Khu vực tượng đài trung tâm có mấy cậu lính trẻ ríu rít với các nữ sinh áo trắng. Trời đã về chiều. Ánh nắng cuối ngày làm đỏ ửng những khuôn mặt nam thanh nữ tú. Họ đang sắp xếp trang phục để chuẩn bị cho đêm giao lưu về nguồn. Trung úy Nguyễn Tiến Công - Trung đội trưởng của Lữ pháo 75 khoe với tôi: “Chúng em xuất phát từ giữa trưa, lính mới lần đầu dã ngoại nên khoái chí lắm, bọn em vừa đi vừa tập lại các tiết mục văn nghệ ngay trong xe anh ạ.”. Một cậu binh nhì lính pháo cất tiếng ngân nga: Em ơi đừng lấy pháo binh/ Đêm về nó bắn rung rinh cả giường… Tiếng cười rộ lên như pháo ran, bác thợ điện già đang hí hoáy ở ngọn cây quay xuống lắc đầu: Chịu các ông tướng, đúng là lính thời nào cũng thế! Có tiếng e hèm của một nàng sinh viên, rồi ba bốn giọng nữ cao đồng thanh: Suốt đời em chẳng yêu ai/ Yêu anh bộ đội có hai quả mìn… Chàng pháo binh nãy giờ đang cao hứng bỗng đỏ tía mặt, giả bộ ngó lơ, lủi mất. Các cô nàng môi thắm áo xanh được thể lấn tới: Bộ đội gì mà nhát như cáy!
Kiểm tra trang bị trước lúc lên đường làm nhiệm vụ
           Chiến sĩ dân quân tự vệ huyện Nhơn Trạch,
                 Đồng Nai trước giờ lên đường thực hiện nhiệm vụ    
   Ảnh: TRUNG TRỰC


Tôi chợt nhớ đến cái ngày thiếu úy tò te tham gia buổi giao lưu văn nghệ ở Biên Hòa hồi trước. Chẳng là dạo ấy, đoàn Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh kết nghĩa với Lữ đoàn chúng tôi. Đêm ấy có tiết mục song ca Tình cây và đất do tôi và một em sinh viên xinh tươi như mộng biểu diễn. Khiêm tốn mà nói thì thường ngày tôi là một giọng ca chủ công chuyên cầm càng ở đại đội. Hôm ấy không biết có phải đứng cạnh người đẹp nên mất bình tĩnh hay sao mà hát mãi cứ vòng đi vòng lại đoạn kết không thoát ra được. Đến khi em ấy cấu vào tay tôi một cái đau điếng, tôi giật mình khựng lại như xe phanh gấp. Ban nhạc sau một hồi ngơ ngác dồn mấy nhịp tùng xèng vào điệp khúc thì tôi mới tỉnh lại: Rồi mai đây em là đất anh là cây / Vĩnh phúc cho ai biết rằng từ đó mùa xuân vĩnh hằng. Đáng lẽ hai câu kết đồng ca mà tôi quên béng, vội hát theo sau cô bé, cũng may nàng nhanh trí chờ tôi dứt câu mới liếc mắt ra hiệu vào chung để nhả nốt hai chữ cuối. Tiết mục thành công mà tôi thì hú vía. Ra khỏi sân khấu, tôi vội lủi nhanh như ma đuổi. Cũng may ban đêm nàng không thấy, chứ mặt mũi tôi lúc ấy cũng đỏ như gấc vì ngượng. Sau này gặp lại, em ấy cứ trêu: Bộ đội gì mà nhát như cáy!

Chợt có tiếng “chào thủ trưởng”, tôi quay ra thấy hai người mặc quân phục đi nhanh về phía giữa sân. Đó là Đại tá Mai Xuân Chiến - Phó Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh và Thượng tá Huỳnh Phi Long - Phó Chủ nhiệm Chính trị. Hai anh tươi cười bắt tay. Như hiểu băn khoăn của chúng tôi về đôi giày đen dính đầy bùn đất của mình, Đại tá Mai Xuân Chiến chia sẻ: Đoàn chúng tôi vừa đi khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí cho đồng bào dân tộc trong Phú Lí về. Đêm nay sẽ tiến hành tiếp lửa truyền thống kết hợp với thi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng Chiến khu Đ và văn hóa văn nghệ. Ngày mai làm lễ dâng hương tại Khu ủy, Căn cứ Trung ương Cục và tham quan bia lưu niệm nơi thành lập Lực lượng vũ trang Khu 7 ở khu di tích Giếng Nước.

Một mô hình bảo vệ trị an hiệu quả
Đồng Nai là một tỉnh có 31 khu công nghiệp với 1554 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động, vì thế tình hình trị an ở các khu này hết sức phức tạp. Xuất phát từ thực tế ấy, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh phối hợp với các sở, ngành, địa phương tổ chức mô hình điểm và tiến hành nhân rộng việc xây dựng các trung đội dân quân thường trực khu công nghiệp, trung đội tự vệ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng được 9 trung đội dân quân thường trực và 35 trung đội tự vệ hoạt động có hiệu quả, tạo sự an tâm cho các chủ đầu tư, doanh nghiệp cũng như toàn thể công nhân. Nói về sự hiệu quả của các trung đội dân quân thường trực, tôi chợt nhớ lần đi đám cưới bạn trên Sài Gòn cách đây chưa lâu. Hôm đó, khi về ngang khu công nghiệp Biên Hòa thì đã gần 22h đêm. Đường phố chỉ loáng thoáng vài bóng người. Bụng bảo dạ nếu chẳng may lủng bánh lúc này thì không biết tính sao. Đúng là nghĩ dại, đến đoạn khuất đèn cao áp, bánh xe hon đa bị dính đinh phèo một phát suýt ngã. Đang loay hoay dắt bộ tìm hiệu sửa thì ba thanh niên mặt mũi bặm trợn ở đâu nhào đến xin mấy đồng ăn khuya. Đang lo lắng thì từ phía xa xuất hiện một tổ mặc áo dân quân tuần tra trên quốc lộ. Tôi ra hiệu cần giúp đỡ, tổ dân quân khéo léo dẫn tôi ghé tiệm sửa quen, bỏ lại ánh mắt gằm gừ của lũ đinh tặc.

Khi chúng tôi đến ngã tư Bồn Nước để ghé thăm một trung đội dân quân thường trực khu công nghiệp thì cũng đã gần chính Ngọ. Trời nắng như đổ lửa, mùi nhựa đường trộn lẫn mùi khói các loại động cơ xộc vào mũi nghe xây xẩm đầu óc. Lúc chiếc xe biển đỏ đỗ lại, chợt có tiếng toét toét còi báo động từ một người đeo hàm trung tá, có mái tóc hoa râm vang lên. Tôi chưa kịp hiểu chuyện gì thì từ trong dãy phòng nghỉ, hơn một chục chiến sĩ sao vuông mang giày, đội mũ lao ra. Vị Trung tá bước đến giơ tay chào, báo cáo… đoàn kiểm tra. Nhận ra người quen là Thiếu tá Nam và biết mục đích chuyến thăm của chúng tôi, anh cười ngượng nghịu: Tui tưởng tác chiến báo động đi xử lí vụ việc. Trong khi pha ấm trà, anh thủng thẳng: “Tụi tui ở đây bận tối ngày à. Hết tuần tra địa bàn đến huấn luyện kĩ chiến thuật, xử lí tai nạn giao thông, uýnh lộn đám ma đám cưới gì dân quanh đây cũng kêu hết ráo. Nhiều khi mệt muốn chết, giải thích hoài mà họ đâu chịu nghe”. Chúng tôi cùng cười bởi cách vào đề hài hước của anh. Anh tên là Phạm Văn Đỡ, tăng cường phụ trách trung đội dân quân thường trực khu công nghiệp Biên Hòa. Thấy anh vui tính tôi cũng pha trò: Tên anh là Đỡ, thế thì anh phải đỡ nhiều cho đơn vị, cho dân ở đây là đúng rồi… Anh Đỡ vốn là Trợ lí Tác chiến của Ban Chỉ huy quân sự thành phố Biên Hòa. Cán bộ cơ sở đang thiếu vắng, cộng với tính chất đặc điểm nhiệm vụ khó khăn nên Ban Chỉ huy đã chọn mặt gửi vàng giao trung đội dân quân cho anh. Thời gian trước, khi bọn anh chưa có mặt, đối tượng nghiện hút, cướp giật công nhân làm ca đêm về diễn ra liên tục. Bọn chúng manh động tới mức dùng kim tiêm dính máu xin đểu nữ công nhân ngay trước cổng. Đêm khuya, chúng tụ tập đua xe, nẹt pô inh ỏi dọc xa lộ. Nhưng từ ngày các anh về chốt ở đây, tình hình an ninh trật tự ổn định hơn rất nhiều. Anh bảo, ở gần chốt dân quân có mấy quán nhậu, mỗi khi đụng chuyện họ lại chạy sang cầu cứu các anh. Vì chốt ở ngay cung đường ngã tư xa lộ Biên Hòa nên mật độ giao thông dày đặc, tai nạn xảy ra như cơm bữa. Chuyện cấp cứu người bị nạn, hoặc đánh dấu vị trí giúp cảnh sát giao thông là việc làm thường xuyên của anh em. Trong căn phòng nhỏ bé đơn sơ của trung đội, tôi để ý thấy có một chiếc ti vi màn hình phẳng, kệ báo chí xếp ngay ngắn. Trên tường treo trang trọng ảnh Bác Hồ, bên dưới là bản đồ khu vực và hai tấm bằng khen. Khi tôi hỏi thăm chỗ ăn nghỉ của bộ đội, anh chỉ về phía dãy nhà ngăn từng ô nhỏ ven theo quốc lộ. Anh phân trần: Đây là cơ sở cũ của đồn công an nên hơi chật hẹp. Nhưng kế hoạch xây mới doanh trại đã triển khai rồi, có lẽ năm tới sẽ khang trang hơn.

Vì mới tiếp xúc nên lúc đầu anh rất dè dặt, ngại nói về thành tích chốt mình. Dần dà câu chuyện cởi mở hơn, anh mới quay sang cậu lính trẻ ngồi cạnh bảo: “Con kể các chú nghe đi Minh. Cái vụ bắt cướp ấy”. Minh gãi đầu gãi tai, gương mặt vuông vức chữ điền ửng đỏ: “Hôm ấy đến phiên tiểu đội em đi tuần. Lúc hơn 23 giờ bỗng phát hiện một tên chạy xe hon đa xáp vô hàng rào công ti Mabuchi, dáo dác đảo qua đảo lại rất khả nghi. Tụi em bí mật cơ động áp sát đối tượng, khoảng mấy phút sau, có một tên khác từ bên trong hàng rào quăng ra cuộn dây điện đồng cỡ dăm chục kí. Biết chắc đây là kẻ gian, em cử một người khóa đuôi, còn em với Dương chặn đầu xe, xô tụi nó té ngửa. Nó bỏ tang vật rồ ga chạy trốn, tụi em lựa thế quật được một thằng, còn thằng kia hôm sau công an khu công nghiệp gom luôn.” “Thế lúc ấy em có sợ chúng đánh lại không?”. Nghe tôi hỏi Minh thật thà đáp: “Lúc ấy chúng em chỉ nghĩ làm sao khống chế được tụi nó giao cho công an xử lí. Khi giong về chốt, khám trong người nó có dao em cũng thấy run run…”

Câu chuyện chuyển sang đề tài tình yêu lính trẻ. Cả tiểu đội dân quân hào hứng khoe: Tụi em có kẻ đào hoa lắm đó thủ trưởng ơi! Tậu trâu được cả nghé... đấy ạ! Anh Đỡ cười: Đâu có đâu, tầm bậy tầm bạ không à. Chuyện là zầy: Chiến sĩ Huỳnh Hoàng Duy - một chàng trai gốc Sài Gòn, trước đây gia đình đã định cho đi du học bên Mĩ để về kinh doanh sau này nhưng rồi đùng một cái, mọi người ngỡ ngàng khi biết tin Duy viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Bởi cậu nghĩ, vào lính để khẳng định mình có thể vượt qua mọi thử thách, đó cũng là cách rèn luyện bản lĩnh trước khi gia nhập thương trường. Buổi tuần tra đêm đó, tổ của Duy phát hiện một người phụ nữ ngồi vắt vẻo trên thành cầu Đồng Nai, bên dưới có đôi dép và cái điện thoại. Nhìn dáng vẻ thất thần của cô gái, bằng kinh nghiệm nghề nghiệp Duy biết ngay cô gái ấy định quyên sinh. Tình huống gấp gáp, khuyên bảo mãi không được, Duy từ từ tiếp cận rồi bất thần bế thốc cô bé đang khóc rũ rượi xuống an toàn. Hỏi ra mới biết, cô gái là công nhân giày da từ ngoài Bắc mới vào, vì người yêu phụ bạc trong khi đang có thai mà quẫn chí. Không biết Duy đã tâm sự với cô ấy những gì chỉ biết sau đó cô gái hiểu điều hay lẽ thiệt, tiếp tục chăm chỉ làm lụng và đã sinh em bé cách đây mấy tháng. Giờ, mẹ con cô ấy là khách quý của cả trung đội dân quân. Còn tình yêu với anh lính trẻ thì… duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.

Trời đã sang chiều. Những tia nắng cuối ngày nghiêng nghiêng theo bước chân tổ tuần tra vừa mới lên đường. Trong dòng người tấp nập ngược xuôi, chốt dân quân vẫn lặng lẽ ngày đêm góp phần xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh. Khi tôi ngồi viết những dòng này thì ngoài kia sắc xuân đang tràn về trên khắp các nẻo đường khu công nghiệp. Từng tốp công nhân hối hả nặng trĩu trên vai những túi quà phương Nam đón xe về quê ăn tết. Có khi nào trong số ấy, người bạn gái của trung đội dân quân Biên Hòa cũng đang tay bồng tay bế trở về bên một mái ấm yêu thương. Vang vọng đâu đây chợt ngân lên câu hát đêm lửa trại ở núi rừng Chiến khu Đ lịch sử: Trong đấu tranh người miền Đông anh dũng/ Trong lao động người lại cũng anh hùng/ Mạch đất ung dung cùng người chung sức mới, dang rộng đất trời rạng rỡ… những mùa xuân
                                    P.V.Đ
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo