Sự bất tử của một địa danh

Thứ ba - 26/07/2016 13:09
Nhắc đến huyện Điện Bàn (nay là thị xã Điện Bàn), tỉnh Quảng Nam là nhắc đến vùng đất giàu truyền thống yêu nước cách mạng đã từng đi vào ca dao trong chống Mĩ: “Nhất Củ Chi, nhì Gò Nổi”. Với 18.920 liệt sĩ, 7.236 thương binh, 492 bệnh binh và 1.611 bà Mẹ Việt Nam Anh hùng trong đó có 49 mẹ còn sống, Điện Bàn là địa phương có số liệt sĩ, Mẹ Việt Nam Anh hùng nhiều nhất cả nước. Những con số thống kê đầy day dứt ấy, đâu phải để tự hào mà là nỗi khắc khoải trong trái tim của những người vợ, người con, người anh, người cháu các liệt sĩ, khắc khoải trong kí ức mỗi người dân nơi đây, dù chiến tranh đã đi qua hơn 40 năm. Sự đau thương mất mát không chỉ ở con số của toàn huyện, mà còn ở con số thống kê ngay trong mỗi gia đình trên mảnh đất này. 
 
Những gia đình có nhiều liệt sĩ nhất nước
Mảnh đất Cẩm Sa, xã Điện Nam Bắc (nay là phường Điện Nam Bắc) được xem là huyền thoại với số tướng lĩnh và liệt sĩ không nơi nào bằng. Đây cũng là nơi mà một gia đình có số người hi sinh vì Tổ quốc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ nhiều nhất cả nước: mười bốn liệt sĩ với ba người con, hai rể và chín cháu nội, ngoại. Đó chính là gia đình hai cụ Nguyễn Văn Lắm và Phạm Thị Chúc (Nở). Gia đình cụ cũng có ba bà Mẹ Việt Nam Anh hùng với hai thế hệ gồm cụ Phạm Thị Nở, con dâu Lê Thị Ngữ và con gái Nguyễn Thị Học.

Trung tướng Nguyễn Văn Thảng nguyên Chính uỷ Quân khu 5, là cháu nội của cụ Lắm kể, hai cụ sinh chín người con, trừ một người mất khi còn nhỏ, còn lại đều tham gia kháng chiến. Bản thân các cụ chắt chiu lát sắn, củ khoai nuôi giấu cán bộ hoạt động suốt hai cuộc kháng chiến trường kì. Cụ ông mất sớm, mình cụ bà chịu bao nỗi đau khi con cháu lần lượt ngã xuống. Người con trai đầu Nguyễn Văn Chúc có bốn người con thì một người là Nguyễn Văn Xuyên đi bộ đội hi sinh. Người con rể Lí Xuyên cũng là liệt sĩ. Người con trai kế của hai cụ Nguyễn Văn Nghiên, thân phụ của Trung tướng Nguyễn Văn Thảng tham gia cách mạng thời chống Pháp, nhiều lần bị địch bắt giam ở Điện Bàn, Hội An, ra tù lại tiếp tục làm cơ sở cách mạng. Người con trai đầu của ông Nghiên là Nguyễn Văn Tuấn đầu quân ở Tiểu đoàn Bà Thao, hi sinh năm 1968. Ba năm sau, người con rể Nguyễn Thanh Trịnh, Bí thư Đảng ủy xã Điện Nam ngã xuống. Huyện uỷ tiếp tục cử Nguyễn Văn Thảng Em thay anh rể lãnh đạo xã trụ bám. Trong trận đánh ác liệt ở bến đò Lợi, Bí thư Thảng Em chỉ huy sáu dân quân Điện Nam đánh lui cả một tiểu đoàn của địch, bắn cháy hai xe bọc thép và một chiếc trực thăng. Hết đạn, anh cùng đồng đội tử thủ, bị chúng cắt đầu bêu ở cầu Vĩnh Điện, xác vứt xuống giếng ở Thanh Quýt để thị uy người dân. Người con trai thứ ba của hai cụ là Nguyễn Văn Diết Anh có hai người con là Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Văn Thao, người bộ đội huyện, người xã đội phó xã Điện Nam cũng lần lượt hi sinh. Nguyễn Văn Diết Em (người con thứ tư) lên đường đánh giặc, một thời gian sau bị bắt giam ở Điện Bàn. Diết Em vượt ngục vào Phan Thiết hoạt động, lại bị tù và tiếp tục vượt ngục, bị địch bắt đóng 10 cây đinh vào gót chân rồi thủ tiêu không tìm được hài cốt.

Cô cháu gái của người con trai đầu Nguyễn Văn Chúc của hai cụ là Nguyễn Thị Học cùng chồng Võ Văn Miên và con trai Võ Văn Phu đều là liệt sĩ. Bà Nguyễn Thị Cầm, em bà Học cũng có con gái Lê Thị Toàn đi du kích rồi hi sinh. Em bà Cầm là bà Nguyễn Thị Thể, cán bộ Vùng đội cùng chồng là Lê Kha cũng vĩnh viễn ngã xuống trên mảnh đất quê hương… Nói về bà nội mình, Trung tướng Nguyễn Văn Thảng bồi hồi: “Cụ nhỏ bé mà cứng cỏi lắm. Có ngày cụ mất cả ba người thân là hai con gái và cháu nội khi đi khiêng thương binh bị địch phục kích. Ba lần rời nhà rồi bị địch đốt nhà, dồn vào ấp chiến lược, hết con rồi dâu, rể, cháu nội ngoại lần lượt ngã xuống vậy mà cụ vẫn tiếp tục động viên con cháu đánh giặc. Còn nhớ năm 1967, tôi được về nhà trước khi đi học ở quân khu, cụ mừng lắm, cùng mẹ tôi bán mỗi người một con bò, cho hai chỉ vàng để tôi “lận lưng”. Cụ mất mà chưa kịp thấy nước nhà thống nhất như mong ước, nhìn thấy con cháu trưởng thành với nhiều người là sĩ quan quân đội, công an…”.

 Ở Điện Bàn, còn có một gia đình nữa có 11 liệt sĩ đã hi sinh cho Tổ quốc, đó là gia đình cụ ông Nguyễn Biểu và cụ bà Nguyễn Thị Kiều, (còn gọi là cụ Điểu theo tên của cô con gái đầu) ở xóm Tây, xã Điện Dương (nay là phường Điện Dương). Hai cụ được mọi người trong xã nể trọng bởi làm ăn giỏi, thật thà, chất phác. Ngôi nhà xây bốn gian, lợp tranh, ruộng đất đến hai mẫu là mơ ước của nhiều nhà bần nông lúc đó. Thời chống Pháp và sau này chống Mĩ, hình ảnh cụ Biểu đến từng nhà vận động nhân dân, khăn đóng, áo dài vào khu vực địch để lân la nắm tình hình báo cho cách mạng đã khắc sâu trong kí ức của nhiều người. Cụ bà Kiều nhỏ bé mà can trường, một tấc không đi, một li không rời, quanh năm đầu tắt mặt tối, chân đồng, chân chợ nuôi nấng chu toàn các đoàn cán bộ, du kích liên tục đi về. Sáu người con của hai cụ theo truyền thống gia đình, lớn lên đều tham gia cách mạng.

Năm 1964, cái tang đầu tiên đến với gia đình hai cụ. Ông Nguyễn Đủ, trung đội trưởng du kích bị trúng đạn khi đi truy địch ở Gò Nông. Năm 1965, người con trai kế Nguyễn Đông, xã đội phó tiếp tục ngã xuống. Năm 1966, Nguyễn Thị Đều, cán bộ phụ nữ xã hi sinh anh dũng khi nằm chặn ngang xe tăng Mĩ không cho chúng cày xéo xóm thôn. Năm 1967, lão nông Nguyễn Biểu trong một lần đi vận động nhân dân đã bị bọn địch bắn, để lại bao tiếc thương cho làng xóm. Bốn cái tang liên tiếp, những bộ phản nằm lần lượt cưa xẻ làm hòm, cụ Kiều không còn nước mắt khóc chồng con. Nhưng thật kì lạ, cụ lại là người động viên các con dâu thờ chồng, nuôi con, tiếp tục giúp đỡ cách mạng. Ngôi nhà với những người đàn bà bé nhỏ trụ bám giữa nỗng cát, là cái gai trong mắt kẻ thù. Sáng ngày 25 tháng 2 năm 1968, lính Nam Hàn lùa nhân dân xóm Tây vào bãi đất trống trong đó cụ Kiều, con gái đầu Nguyễn Thị Điểu - cán bộ phụ nữ thôn và hai đứa con của chị, cùng cháu Trúc ba tuổi, con liệt sĩ Nguyễn Thị Đều đang ở với ngoại. Địch dùng tiểu liên, lựu đạn giết sạch 126 người. May mắn cháu Trúc chỉ bị thương, được cứu chữa kịp thời. Hai anh Nguyễn Mãn, Nguyễn Lương tối đó về ôm mẹ, chị, các cháu mà khóc, chẻ vội thanh tre làm hòm quách chôn cất. Vậy mà chỉ hôm sau, bọn địch dã man cho xe tăng nghiền nát, vùi lấp thi thể, vun xác thành đống. Người thân chỉ còn biết làm hai nấm mộ tập thể. Năm 1969, du kích Nguyễn Lương trên đường công tác bị pháo địch sát hại khi chưa kịp có mối tình hay có đứa con nối dõi như mẹ anh mong ước. Hai năm sau nữa, người con trai cuối cùng của gia đình là Nguyễn Mãn, Bí thư Đảng ủy xã cũng hi sinh trong một trận càn.

 
qpt1427086837
Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng lấy nguyên mẫu từ Mẹ Việt Nam Anh hùng
Nguyễn Thị Thứ      Ảnh: TL

Thắp nén hương trên căn phòng thờ đầy ắp các tấm bằng Tổ quốc ghi công, bà Huỳnh Thị Ngó, vợ liệt sĩ Nguyễn Mãn cầm bàn tay cậu con trai Nguyễn Hữu Bông mà sụt sùi: “Sau vụ thảm sát xóm Tây, địch bắt tôi đi tù mấy lần, buộc cả nhà tản cư ra Đà Nẵng, cả hai chị dâu và các cháu cũng thế. Trong sáu đứa cháu còn lại của ông bà, chỉ còn Bông là cháu nội trai duy nhất. Bọn địch muốn gia đình tuyệt tự, nhiều lần giở trò sát hại nhưng nhờ có người tốt che chở nên thoát nạn. Ông Mãn rất hay viết thư, nhờ cơ sở đưa ra: “Cuộc chiến đấu này vô cùng ác liệt, chắc tôi cũng sẽ hi sinh. Em hãy gắng nuôi con, giọt máu cuối cùng của gia đình ta, để cháu lớn lên thờ tự ông bà...”. Có lần ông ấy cải trang ra Đà Nẵng, đi ngang qua nhà ngắm mặt thằng Bông. Tôi chỉ biết đứng nhìn như xa lạ. Thi thoảng tôi về quê tiếp tế cho du kích và để cho cha có dịp gặp con. Tháng 2 năm 1971, chồng tôi và các đồng chí của mình đã tử thủ khi địch phát hiện hầm bí mật. Bọn địch cột dây thép kéo xác sáu người phơi trên chợ Bến Cá. Được cơ sở nhắn tin, tôi tức tốc ôm cháu Bông bắt xe về. Đến nơi thấy bọn cảnh binh bu kín, chỉ chờ chúng tôi xuống là có cớ bắt luôn, hai mẹ con đành lánh mặt. Đồng bào đã chôn cất các liệt sĩ chu đáo, làm dấu từng người. Khi giải phóng, về cải táng, tất cả vẫn còn nguyên từ áo mưa, bật lửa, bộ móc khóa... ai thấy cũng khóc. Dẫu sao, cha cháu cũng may mắn chứ mộ bác Đủ, bác Đông, cô Đều, chú Lương đều bị địch cày xới, không tìm thấy một ai...”.

Anh Nguyễn Hữu Bông cho biết thêm: Chị Lê Thị Hiệp nguyên là giao liên trong chiến tranh, con Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Điểu, hiện sống tại Vĩnh Điện, Điện Bàn, đã không lập gia đình, ở vậy để thờ phụng cha mẹ, anh trai và hai em mình. Cha chị, ông Lê Khế vùng đội trưởng, anh trai Lê Công Xuân, cán bộ an ninh đều là liệt sĩ. Cô Nguyễn Thị Đều có chồng là Nguyễn Tính, bộ đội, tập kết ra Bắc, sau vào Nam hi sinh. Tránh địch dòm ngó, cô đã tự túc có người con gái là Trúc, bé gái đã thoát chết trong trận thảm sát của lính Nam Hàn, được một gia đình cách mạng nhận làm con nuôi, nay có chồng con ở Điện Bàn. Ba con gái của bác Đủ, bác Đông hiện ở Đà Nẵng. Anh Bông có hai con trai và một gái, cháu lớn làm công an ở tỉnh Quảng Nam. Ngày giỗ ông bà, chạp họ tộc, các con cháu ở khắp nơi quây quần về quê thắp hương cho người đã khuất.
 
Người anh hùng của mảnh đất anh hùng
Trong kí ức của các đồng chí Võ Thanh Ba, Đại tá Lê Đình Sanh, Đại tá Nguyễn Văn Trí, chân dung người Anh hùng Đinh Châu ở Điện Nam Đông, Điện Bàn hiện lên với tài đức vẹn toàn. Ông vừa là một cán bộ quân sự mưu trí, dũng cảm, vừa là một cán bộ chính trị sâu sắc, nhân ái, hết mực thương yêu chiến sĩ. Ở cương vị nào ông cũng đã để lại những dấu ấn khó quên. Sinh năm 1926, từ chỉ huy du kích xã, ông Đinh Châu được cử làm trợ lí Huyện đội Điện Bàn, Đại đội trưởng Đại đội 230 của Tiểu đoàn 17 Quảng Nam - Đà Nẵng. Tập kết ra Bắc, ông công tác tại Sư đoàn bảo vệ thủ đô 350, là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, sau đó về quê hương chiến đấu, trở thành lớp cán bộ quân sự đầu tiên của tỉnh Quảng Nam. Trong những năm gian khó trăm bề ấy, ông cùng Ban Quân sự tỉnh trực tiếp xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng, phát động chiến tranh nhân dân làm nên những trận đầu thắng lớn của lực lượng vũ trang địa phương như ở làng Ông Tía, Gia Lâu, Bốt Xít, Hiệp Đức, Phó Nam. Mặc dù công tác bận rộn nhưng những đợt phá rẫy, tuốt lúa, gùi gạo, trồng sắn, làm nhà, nhất là cải thiện đời sống cho đơn vị, ông đều năng nổ, tích cực, hòa mình vào đời sống chiến sĩ. Đơn vị có ít quân trang, ông luôn nhường cho anh em, còn ông, dù là Tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng vẫn bộ bà ba đen bạc phếch, chiếc mũ tai bèo đã sờn, khi đi phát rẫy vẫn quần đùi áo cổ vuông, mong manh bốn mùa.

Trong cuộc Tổng Tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trên cương vị Phó Tham mưu trưởng rồi Tham mưu trưởng Mặt trận 4, Thành đội trưởng Đà Nẵng, ông được Thường vụ Khu ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận 4 cử làm Chỉ huy trưởng cánh quân Đông Nam, chỉ huy Tiểu đoàn 1 (R20) thọc sâu, mở bàn đạp cho Sư đoàn 2 phát triển vào nội thành. Gặp sự phản công quyết liệt của địch ở khu vực Trung Lương - Cồn Dầu (Hòa Vang), suốt cả ngày 30 tháng 1 năm 1968, ông vừa trực tiếp cầm súng chiến đấu vừa tổ chức động viên cán bộ, chiến sĩ đánh trả kiên cường trong từng mảnh vườn, lũy tre, từng căn nhà vùng giao tranh, phá được vòng vây trong đêm 30. Gặp tổ phục kích của Mĩ, ông đã hi sinh rạng sáng ngày 31 tháng 1. Gần đây gia đình mới tìm được hài cốt người anh hùng. Trong buổi tưởng niệm nhân 40 năm ngày mất của ông tại nhà con trai trên đường Bế Văn Đàn, thành phố Đà Nẵng, có rất đông bạn bè chiến đấu của ông. Tên ông được đề nghị đặt cho một con đường ở thành phố Đà Nẵng. Liệt sĩ Đinh Châu đã ra đi nhưng ông luôn sống mãi trong nỗi nhớ thương của đồng đội và nhân dân.

Anh Đinh Văn Ba, người còn lại duy nhất của gia đình liệt sĩ Đinh Châu hiện là Giám đốc Công ti Cổ phần xe khách và dịch vụ Thương mại Đà Nẵng bồi hồi nhớ lại những kí ức về cha, mẹ và người anh thân yêu của mình: “Đầu năm 1964, khi tôi mới lên 10 tuổi, ba tôi về thăm nhà sau thời gian dài công tác xa. Quê hương tôi lúc đó điêu tàn bởi tội ác Mĩ - ngụy. Khi ấy, ông nội tôi (nguyên là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến của xã) đã hi sinh; bà nội mất, các chú đều đã thoát li (sau này hai chú là liệt sĩ). Ba bảo tôi và anh Lưu đi theo ba. Mẹ ở căn cứ vài ngày, chăm sóc mấy cha con rồi về vì bà là cán bộ phụ nữ xã, không thể bỏ phong trào mà đi. Nhớ buổi chia tay, bình thường mẹ rất cứng cỏi, vậy mà khi ấy nước mắt vòng quanh. Hình như bà linh tính có điều dữ nào đó sẽ ập đến gia đình mình. Tôi nhìn theo bóng mẹ với chiếc áo bà ba đen khuất dần. Quả thực tôi không muốn xa mẹ, nhưng tôi nghe theo lời tâm huyết của cha: Con phải ra miền Bắc học tập, đây không phải việc của ba, của con mà là việc của nước non, Tổ quốc. Tôi đồng ý lên núi nhưng vẫn chần chừ không ra miền Bắc. Tôi sống cùng các cô chú, còn ba vẫn biền biệt công tác. Một đêm cuối tháng 7 năm 1967, tại xã Lộc Sơn vùng B, Đại Lộc, tôi được gặp ba trong căn hầm chữ A. Ba lại nhắc tôi lời nói ngày nào: “Đây không phải việc của ba và con...”.

Tôi gật đầu nghe theo. Ba và các cô chú đã chuẩn bị cho tôi đủ thứ để tôi lên đường. Ba tặng tôi chiếc võng dù, kỉ vật ấy bây giờ tôi vẫn giữ. Ba tháng vượt Trường Sơn, tôi đặt chân lên miền Bắc, trong lúc đó chiến trường miền Nam đang sục sôi đánh Mĩ. Trong 2 năm 1967, 1968, tin chồng lên tin như sét đánh ngang tai: mẹ tôi đã anh dũng hi sinh tại quê nhà. Anh Đinh Lưu của tôi, chiến sĩ thông tin cũng đã hi sinh trong một trận đánh. Ba hi sinh ở mặt trận Đà Nẵng, khi đang chỉ huy một cánh quân. Tuy nhiên tôi vẫn cố tin rằng, có sự nhầm lẫn nào đó, chứ ba tôi không thể chết. Đầu năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, thôi thúc tôi dừng chân không đi học nước ngoài để tìm gặp ba và những người thân trong gia đình. Khi biết tất cả tin báo đều là sự thật, tôi như gục ngã. Tôi nhớ cảnh chia li trong đêm mưa phùn năm nào, nhớ giọt nước mắt của mẹ, lời dặn dò gan ruột của ba. Buổi trùng phùng của gia đình đâu còn nữa như lời hẹn ước. Ngỡ như không còn đủ sức để đi tiếp trên con đường học vấn của mình, nhưng rồi truyền thống của gia đình, dòng tộc, cô bác ruột thịt, đồng đội của ba tôi đã nâng tôi đứng dậy để tôi học tiếp Đại học Bách khoa...”.

Nhìn dáng anh lặng đi trước bàn thờ gia đình dù nỗi đau ấy đã đi qua mấy chục năm, tôi hiểu, anh đã phải vật lộn thế nào để đứng lên trước sự mất mát quá lớn ấy. Nỗi đau ấy đã lắng lại và kết tinh bằng sự nỗ lực trong công việc của anh. Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt nhưng Công ti của anh đã đứng vững và ngày càng ổn định. Đặc biệt, Ban Giám đốc luôn quan tâm đến các đối tượng chính sách bằng những việc làm cụ thể như nuôi dưỡng tám Mẹ Việt Nam Anh hùng, tham gia xây dựng nhà tình thương trong thành phố. Thông cảm với hoàn cảnh những người khuyết tật, Công ti đã khai trương bốn xe buýt phục vụ người đi xe lăn, được nhân dân rất hoan nghênh.

Anh Ba dừng câu chuyện, đốt nén hương trên bàn thờ cha mẹ mình rồi cúi đầu thành kính. Người con trai duy nhất của anh tốt nghiệp Đại học Hàng hải ở nước ngoài và đang làm công chức ở thành phố Đà Nẵng, từ lúc nào đã lặng lẽ đến bên cha và cùng hướng về những người thân đã ngã xuống trong chiến tranh giữ nước.

Điện Bàn, đặc biệt là các phường vùng cát vẫn còn nhiều lắm, các kì tích anh hùng. Mảnh đất đau thương mà anh dũng này đang đứng dậy từ đổ nát, trở thành một vùng quê trù phú xanh tươi. Và sóng nơi đây, vẫn ngày ngày rì rào hát về một địa danh bất tử có những người con vì nước non ra đi mãi không về...
H.V                     

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 17 trong 4 đánh giá
Xếp hạng: 4.3 - 4 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo