Nơi ấy là biên cương

Thứ bảy - 08/10/2016 13:43
. NGUYỄN VIỆT HÙNG

Tháng ba, bụi đỏ góc trời biên cương. Dù chẳng lạ gì cái thứ đất đỏ bazan - đặc sản của Tây Nguyên, nhưng khi theo chân những người lính biên phòng Đắk Lắk đến thăm các đồn, tôi mới hiểu hết về nó. Đồn 741 chỉ cách thành phố Buôn Ma Thuột non trăm cây số, nhưng để đến đó, hai chiếc xe U oát vang bóng một thời vẫn phải vắt kiệt sức gần nửa ngày trời. Ngồi trong xe, mồ hôi quện với bụi quánh lại như bùn bám đầy trên cổ, trên mặt và hai bàn tay. Quần áo ai cũng một màu đỏ quạch. Suốt hành trình, các xe luôn giữ khoảng cách tối thiểu 200 m nhằm tránh bụi. Theo kinh nghiệm của các bác tài, nếu lạ đường, xe sau cứ nhìn theo dấu bụi xe trước để lại mà đi sẽ không bao giờ bị lạc. Tây Nguyên đang bước vào “đại hạn”, nắng như thiêu, nóng như hun, những dòng suối giữa rừng đều đã cạn khô. Thi thoảng, những chú thỏ rừng, gà rừng, chồn hương băng vút qua đường ngay trước mũi xe để tìm nước uống.

Như nhiều đồn biên phòng khác trên địa bàn Đắk Lắk, đồn 741 cũng nằm trọn trong Vườn Quốc gia Yok Đôn, cạnh bên sườn núi Chư M’Bre hùng vĩ. Chính vì vậy, người dân nơi đây vẫn thường gọi là đồn biên phòng Yok M’Bre. Trên chốt tiền tiêu lộng gió, ánh chiều vàng nhạt xuyên qua từng cây rừng Chư M’Bre, tôi nhìn thấy những người lính trẻ đang tất bật với công việc cuối ngày. Người chuẩn bị tuần tra canh gác, người tăng gia sản xuất, lo bếp cơm chiều tối… Ở đây các anh phải dùng giếng khoan, nhưng do nước bị nhiễm vôi nên chỉ dùng cho sinh hoạt, tưới tiêu, còn nấu ăn phải chuẩn bị sẵn một bể to chứa nước mưa dự trữ. Khó khăn là vậy, nhưng chỉ tính riêng phần tăng gia sản xuất, bộ đội 741 đã vượt nắng, thắng mưa để mùa nào cũng có rau xanh, quả ngọt. Bên cạnh đó, đơn vị còn đào thêm 2 ao lớn nuôi cá, đầu tư thêm đàn bò, đàn heo hàng chục con. Còn chuyện bếp núc thì khỏi chê, những loài rau rừng qua bàn tay bộ đội chế biến đều thành đặc sản. Món canh chua cá lăng sông Sêrêpôk, canh thịt gà nấu lá giang rừng hay món sung dại chấm muối ớt vừa chát vừa cay xé, rồi hoa rong luộc chấm mắm gừng… là những đặc sản “ngon đến rụt lưỡi” - theo cách nói của các chiến sĩ biên phòng nơi đây.

Đêm biên giới xuống nhanh và buồn. Gió núi thổi u u trên những vạt rừng, những luống rau non chập chờn sương trắng. Nhiệt độ ngày và đêm ở đây chênh nhau khá lớn. Càng về khuya, giữa mênh mông đồi núi, cái lạnh vùng cao như khiến mọi người xích lại gần nhau hơn. “Bập bùng, bập bùng Tây Nguyên, há hà, ha…” tiếng guitar được tấu lên bên ánh lửa hồng. Đại úy chuyên nghiệp Nguyễn Xuân Thủy, trung úy chuyên nghiệp Hà Văn Đóa cười bảo, ở đồn riết thành quen. Xa vợ xa con là thế, nhưng cứ về phép được dăm bữa chục ngày là nhớ đồng đội quay quắt, nửa đêm đang ngủ bỗng giật mình “hình như anh em quên gọi mình dậy gác”. Chuyện đi phép ở đồn cũng chẳng hề dễ dàng. May mắn lắm mới gặp được chiếc xe tải để xin đi nhờ về thành phố, còn không, cứ theo công thức “bộ, ôm, buýt, khách”.
Con đường ngắn nhất để đi từ đồn này sang đồn khác thường là đường xuyên rừng. Dù khá rộng, nhưng cơ bản là đường đất nên ổ trâu, ổ voi lổn nhổn. Suốt mấy chục cây số từ đồn Yok M’Bre lên đồn Sêrêpôk, chúng tôi chỉ gặp khoảng chục chiếc máy cày chở bà con lên rẫy và vài chiếc xe tiếp phẩm “hai sọt” của các tiểu thương. Sêrêpôk là tên con sông hùng vĩ chảy qua đại ngàn Tây Nguyên. Đồn biên phòng Sêrêpôk đứng chân trên địa bàn huyện Buôn Đôn, làm nhiệm vụ quản lí xã biên giới Krông Na, có diện tích trên 111.417 ha; đường biên giới dài 12,2 km và 2 cột mốc (cột mốc 44 và 45). Tuy địa hình đồi dốc, khí hậu khắc nghiệt, nhưng anh em đơn vị luôn phấn đấu vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Anh em biên phòng bám buôn, bám dân như ruột thịt, nhiều đồng chí có thể nói thông viết thạo tiếng đồng bào. Chẳng thế mà nghe kể trong lần họp buôn giữa năm ngoái, sau khi già làng Y Phưn (tên thường gọi là Ama Xí) ở buôn Drăng Phôk thông báo, hôm qua, nhà thằng Y Nhoáng vừa sinh được thằng cu. Buôn mình bây giờ có tất cả 112 hộ, với 466 khẩu, mấy năm nay không có nhà nào sinh con thứ 3 nữa. Mọi người trong buôn bỗng nhao nhao: già làng tính nhầm rồi, 465 khẩu chứ. Khi ấy già làng mới cười khà khà chỉ vào bộ đội nói, thế chúng mày quên tính bộ đội Bắc à?


 
dat do Tay Nguyen
Hình ảnh một địa bàn ở Tây Nguyên
Buôn Drăng Phôk nằm lọt thỏm giữa rừng quốc gia Yok Đôn, cách trung tâm xã Krông Na gần 30 km đường đất chạy xuyên rừng. Những năm trước, mỗi khi đau ốm, bệnh tật, theo phong tục tập quán, người dân đều mời thầy cúng về bắt ma, trừ tà. Thế nhưng mọi chuyện giờ đã khác bắt đầu từ khi có trung úy Đặng Quang Bắc (y sĩ phòng khám Quân dân y kết hợp buôn Drăng Phôk). Hồi trung úy Bắc mới về, đồng bào buôn Drăng Phôk khó khăn, thiếu thốn đủ bề. Để kiếm cái ăn, người dân vẫn ngày ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời hoặc xuống sông đánh cá, thậm chí lén lút vào rừng săn thú hay đi làm cửu vạn cho lâm tặc. Cả buôn chỉ có mấy chục hộ dân nhưng hầu như năm nào cũng có người chết vì sốt rét rừng và các căn bệnh khác. Được sự nhất trí của chỉ huy đồn, ngoài công tác chuyên môn, ngày ngày anh Bắc đạp xe ra buôn Drăng Phôk. Anh bày cho cánh đàn ông những bài thuốc quý từ lá rừng để họ có thể tự cứu mình những khi cần kíp. Ai cảm cúm, nhức đầu hay có biểu hiện bệnh đều được anh thăm khám và cho thuốc.

Những ngày hè, anh thường tập trung đám trẻ con lại tranh thủ dạy chúng tập vẽ, tập tô, tập đọc, tập làm toán và tập hát. Để hạn chế thấp nhất tình trạng đuối nước, anh không tiếc công dạy chúng tập bơi. Song điều làm anh Bắc trăn trở nhất chính là khi có bệnh, bà con rất tin vào thầy mo, thầy cúng. Dù mỗi khi nghe tin có người bị sốt rét rừng, trung úy Bắc lặn lội xuống tận nhà thăm khám, cho thuốc, dặn dò cẩn thận liều dùng, thế nhưng, vài tiếng sau quay lại, đã thấy mấy viên thuốc đặc trị bị vứt dưới gầm giường, còn người nhà thì đang đi mời thầy cúng. Phải mất một thời gian dài, sự kiên nhẫn và chân thành của anh mới được đền đáp. Bằng chuyên môn vững vàng, anh dần tạo được niềm tin với bà con, mỗi khi có bệnh họ đều nghĩ đến anh thay vì thầy cúng. Anh Bắc kể, dịp giáp tết 2003, nửa đêm trời rét căm căm, đang say giấc thì bị giật dậy bởi những tiếng gọi gấp gáp. Khoác vội chiếc áo ấm, quàng tay lấy chiếc túi y cụ, anh lao đi như một mũi tên. Hóa ra con trâu nhà chị H’ Pui khó đẻ, nó vạ vật từ chiều mà nửa đêm vẫn chẳng chịu sinh. Nghĩ anh là y tá, mấy năm trước có kinh nghiệm đỡ đẻ cho thằng Y Siu nên mọi người chạy đi tìm. May mà lần ấy “trâu tròn, nghé vuông”. Rồi một lần khác, chị H’Nhơn (sinh năm 1981) trong buôn bỗng lên cơn co giật, có biểu hiện cắn vào lưỡi. Sau khi thăm khám, đo huyết áp và hỏi thăm, biết mấy hôm nay chị uống nhiều rượu, nghi chị bị ngộ độc rượu, anh lập tức sơ cứu và điện thoại liên hệ xe cấp cứu ở ngoài huyện vào. Thấy chị quá khó khăn, anh tự bỏ tiền túi thanh toán mọi khoản cho đến khi chị trở về nhà bình an. Suốt ngày cắm bản gắn bó với bà con đến nỗi quên mất hạnh phúc riêng tư, cuối năm 2004, cấp trên tạo điều kiện chuyển anh về bệnh xá Bộ Chỉ huy  bộ đội biên phòng tỉnh công tác để anh… có điều kiện tìm hiểu mà lấy vợ.

Thế nhưng năm 2012, sau khi học xong lớp y sĩ, nghe tin đồn biên phòng được cấp trên quan tâm xây dựng Phòng khám Quân dân y kết hợp ngay tại buôn Drăng Phôk, anh lại nằng nặc xin vào với bà con. Anh đặt kế hoạch, hằng tháng phải đến thăm mỗi hộ trong buôn ít nhất một lần, vừa để theo dõi tình hình dịch bệnh, vừa để bám nắm địa bàn, tuyên truyền vận động bà con. Anh thuộc làu gương mặt từng người trong buôn. Bà con quý anh, có nải chuối, trái bắp cũng mang biếu, mỗi lần như vậy, anh lại mang ra cổng trường chia cho các em học sinh. Phòng khám chỉ có mình anh, thế nên dù vợ con chỉ cách 70 km nhưng có khi vài tháng anh chẳng được về nhà. Có lần về thăm vợ, đang ăn dở chén cơm thì bà con trong buôn đã điện thoại, thông báo kiểm lâm viên Y Rinh bị đau bụng nặng. Anh lập tức lên đường. Sau khi thăm khám, dù giữa đêm anh vẫn lấy xe máy chở Y Rinh ra bệnh viện đa khoa huyện để mổ ruột thừa. Chuyến nào vào thăm anh, chị Nguyễn Thị Thanh (Nhân viên Trung tâm giới thiệu việc làm, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk) cũng thấy chồng mình bận rộn. Chị nhớ nhất một lần, hai vợ chồng vừa chợp mắt thì có tiếng gọi và đập cửa. Họ nói bà H’ Xoài (72 tuổi) ở cuối buôn bị cảm nặng. Không nỡ để chồng đi một mình, chị xăng xái đi cùng. Đến nơi thấy bà cụ đang nằm cạnh bếp lửa, đắp chiếc chăn dày mà vẫn run cầm cập, mồ hôi vã ra như tắm. Qua hỏi thăm và làm xét nghiệm máu thấy bà cụ có kí sinh trùng sốt rét, anh lấy thuốc chống sốt rét cho bà uống, còn chị lo đun nước, đắp khăn và ở lại với bà cụ cả đêm.

Hơn ai hết, là người chỉ huy đơn vị, thiếu tá Nguyễn Trọng Sinh, đồn trưởng đồn biên phòng Sêrêpôk, cảm nhận rất rõ rằng, từ khi anh Bắc về công tác, tình hình sức khỏe của bộ đội và bà con quanh đồn luôn đảm bảo tốt. Nhiều năm liền địa bàn không có dịch bệnh xảy ra. Những việc làm bình dị của anh Bắc đã góp phần xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân dân và giữ vững an ninh biên giới khu vực đồn đảm nhiệm. Trong 6 tháng đầu năm 2015, phòng khám đã khám bệnh, cấp thuốc cho gần 1.000 lượt người dân. Ngoài những giấy khen, bằng khen của đơn vị, năm 2014, Bắc được Hội thầy thuốc trẻ tỉnh Đắk Lắk tặng bằng khen, năm 2015 được bình chọn là một trong 10 gương mặt Thầy thuốc trẻ Việt Nam tiêu biểu toàn quốc. Khi anh Bắc chuyển về thành phố, đồng đội và bà con cứ tiếc và nhắc mãi. Mỗi dịp ghé thăm anh em trong đồn, ông Y Tê Bkrông, Bí thư Chi bộ buôn Drăng Phôk đều khẳng định, cán bộ, chiến sĩ biên phòng và chú Bắc không chỉ khám, chữa bệnh miễn phí, hướng dẫn cho bà con dọn dẹp vệ sinh môi trường, sử dụng nước sạch, bảo vệ sức khỏe, phát triển kinh tế mà còn tuyên truyền pháp luật, đặc biệt Luật Biên giới quốc gia cho bà con được rõ... Từ khi được bộ đội giúp đỡ về cả vật chất lẫn tinh thần, đời sống bà con ngày càng cải thiện nâng lên. Bà con buôn Drăng Phôk xem các anh như người thân trong gia đình.

Chiều xuống, cũng là khi đội công tác do trung úy Trần Hữu Phát, đội trưởng Đội kiểm soát hành chính dẫn đầu lên đường làm nhiệm vụ mật phục. Do gắn bó với biên thùy nhiều năm nên trung úy Phát quá quen với khí hậu, địa hình khắc nghiệt này, chỉ nghe mùi gió các anh cũng có thể biết ngày hôm ấy khí hậu sẽ ra sao để chuẩn bị sẵn áo ấm, áo mưa. Không kể ngày đêm, các chiến sĩ luôn sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ khi có lệnh. Nhớ một lần, cả đội đang mật phục ở dòng suối thì nửa đêm có mưa rào bất chợt, nước dâng cao khiến mọi sinh hoạt gặp khó khăn, cả đêm hôm ấy mọi người ướt sũng, rét cầm cập. Lại có những đợt cả đội phải mật phục trong rừng cả tuần liền, ăn đồ khô mãi cũng chán, những cần thủ lại có dịp trổ tài. Sau vài tiếng buông câu, kiểu gì anh em cũng được bữa tươi cải thiện. Vất vả vậy đó, nhưng anh em luôn tự hào và xác định bảo vệ biên giới là nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả.

Khí hậu Đắk Lắk vào mùa khô đã khắc nghiệt, nhưng vùng biên còn khó khăn hơn khi mấy tháng liền không có lấy một giọt mưa. Ngay như dòng suối Đắk Đam vốn hung dữ vào mùa lũ thì nay cũng khô cạn đáy. Vậy mà, các chiến sĩ biên phòng vẫn trẻ trung, yêu đời khi bước chân trên những chặng đường gập ghềnh sỏi đá.

Dừng chân bên cột mốc số 44, đội trưởng Đội kiểm soát hành chính và anh em chiến sĩ tranh thủ quét dọn, thu gom lá khô xung quanh cột mốc. Các anh tự hào kể về cảm xúc của mình mỗi khi đứng trước chủ quyền biên giới, quốc gia. Nó thiêng liêng và gắn bó vô cùng. Trung sĩ Phạm Văn Tiến (Đội Kiểm soát hành chính) vẫn nhớ như in lần đầu tiên thực hiện nhiệm vụ tuần tra, từ con đường, ngọn cỏ, khe suối… đều hoang sơ, lạ lẫm. Lần đầu tiên đứng bên cột mốc quốc gia, trong anh dâng lên niềm tự hào khó tả. Tiến cũng tin rằng, là người con đất Việt, nếu ai một lần đứng bên cột mốc biên cương, chắc chắn sẽ không tránh khỏi cảm giác xúc động, tự hào như anh.

Những năm qua, thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, trong đó có nội dung phát động chương trình “Nâng bước em đến trường”, toàn thể cán bộ, đoàn viên, thanh niên Bộ đội biên phòng Đắk Lắk đã nhiệt tình hưởng ứng. Đối tượng được thụ hưởng là học sinh từ lớp 1 đến lớp 12, có hoàn cảnh khó khăn, không nơi nương tựa, mồ côi cha, mẹ...; con các gia đình chính sách, những người uy tín, tích cực tham gia bảo vệ biên giới, con bộ đội tại ngũ, các em là người dân tộc thiểu số đặc biệt ít người... Sau hơn 1 năm triển khai, bộ đội biên phòng tỉnh đã nhận đỡ đầu 16 học sinh, hỗ trợ 200 nghìn đồng/tháng/em, với tổng kinh phí 57,6 triệu đồng.

Từ ý nghĩa nhân văn của chương trình, tình đoàn kết, gắn bó của cán bộ, chiến sĩ bộ đội biên phòng tỉnh với đồng bào dân tộc trên biên giới thêm thắt chặt; các cấp, ngành, cấp ủy, chính quyền địa phương cũng nhiệt liệt ủng hộ, ghi nhận. Bắt đầu từ tháng 1/2016,  bộ đội biên phòng tỉnh nhận đỡ đầu 40 học sinh và tăng mức hỗ trợ lên 500 nghìn đồng/tháng/em. Cụ thể, mỗi thủ trưởng Bộ Chỉ huy, các đồn, Tiểu đoàn huấn luyện - cơ động nhận đỡ đầu ít nhất 2 học sinh; các phòng, văn phòng nhận đỡ đầu ít nhất 1 học sinh. Thời gian hỗ trợ, giúp đỡ tính từ thời điểm đơn vị đỡ đầu đến khi các em học xong lớp 12. Để tăng thêm ý nghĩa chương trình, đồng thời trao học bổng đúng đối tượng, Bộ Chỉ huy tổ chức khảo sát nhiều lần. Đại tá Trần Anh Dũng, Phó Chủ nhiệm Chính trị bộ đội biên phòng tỉnh cho biết: “Bộ Chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh đã giao cho chỉ huy các đồn biên phòng triển khai khảo sát các cháu đang học từ lớp 1 đến lớp 12 trên địa bàn các xã: Krông Na (huyện Buôn Đôn); xã Ea Bung, Ia Lốp, Ia R’vê (huyện Ea Súp). Sau khi có danh sách, Bộ Chỉ huy tiếp tục cử lãnh đạo cùng trợ lí thanh niên trực tiếp đến từng địa chỉ, nắm bắt hoàn cảnh của các học sinh... Chỉ khi hỗ trợ đúng đối tượng, đúng địa chỉ gia đình, thì bà con các xã vùng biên mới phục; học sinh được hưởng thụ cũng sẽ có ý thức, động lực vươn lên trong học tập, đời sống”.

Biết mình may mắn được đỡ đầu, em Trịnh Thị Thu Hiền (học sinh lớp 7B, Trường THCS Ea Bung, xã Ea Bung) vui lắm. Bố mẹ li dị và đều có gia đình mới, nên Hiền phải sống chung với bà. Tuổi thơ tuy buồn nhiều hơn vui, nhưng em luôn vươn lên học tập, đạt thành tích khá, giỏi. Hiền nghẹn ngào: “Nhiều lúc em lo sợ việc học tập của mình sẽ bị đứt gánh giữa chừng, vì bà đã ngoài 60 tuổi, lại mang bệnh nặng nên không thể lo kinh phí cho em mãi được. Thế nhưng được các chú bộ đội giúp sức, em sẽ cố gắng chinh phục ước mơ làm bác sĩ, chữa bệnh cho bà con nghèo khó”.

Ngoài tuổi 70, đáng lẽ phải an dưỡng tuổi già nhưng bà Đặng Thị Sửu (xã Ea Bung) vẫn ngày ngày phải lo lắng cho hai đứa cháu là Nguyễn Tiến Đạt và Đặng Vũ Đình Hiếu. Mẹ mất sớm, bố lấy vợ khác khiến cuộc sống của hai đứa con thơ khó khăn chồng chất. Nhà không có ruộng đất, sức khỏe bà đã kém, Đạt (hiện đang học lớp năm, Trường Tiểu học Ea Bung) bị tim bẩm sinh nên người còi cọc, ốm yếu... Tuổi thơ vất vả, nhưng Đạt vẫn gắng học, sau giờ học còn phụ giúp bà nấu cơm, quét nhà. Đạt nhắc đến các chú bộ đội đầy trìu mến: “Các chú hiền, hay nấu cơm cho anh em con ăn, rồi còn thường xuyên qua thăm bà nữa. Ngoài hỗ trợ gạo, các chú còn cho tiền để con được đi học. Con sẽ cố gắng để sau này trở thành bác sĩ, chăm sóc sức khỏe cho bà và mọi người”.

Cuộc sống gia đình bà Đặng Thị Lan (xã Ea Bung) bị xáo trộn từ khi chồng bị mù. Kinh tế hẹp hòi, lại chủ quan về bệnh đục thủy tinh thể nên đôi mắt của ông Nguyễn Văn Đảng không thể lành lặn như trước. Ba năm liền, gia đình chạy chữa khắp nơi, tiền bạc cạn dần, nhưng không có kết quả, thậm chí sức khỏe của ông Đảng còn giảm sút nhiều hơn. Thương bố mẹ, Nguyễn Thị Quỳnh (học sinh lớp 7C, Trường THCS Ea Bung) càng lao vào học tập. Cô bé suy nghĩ mộc mạc rằng, anh trai bỏ học đi làm thuê rồi, em mà bỏ nữa chắc bố mẹ suy sụp hơn nữa. Nghĩ vậy, em cố gắng học nhiều hơn để tích lũy kiến thức, sau này kiếm việc làm tốt để còn chữa bệnh cho bố. Đồng cảm trước hoàn cảnh đó, ngoài hỗ trợ 500 nghìn đồng/tháng, những người lính quân hàm xanh còn thường xuyên tới thăm, động viên gia đình, nhắc nhở Quỳnh học tập, rèn luyện...

Đó chỉ là một số trường hợp trong 40 hoàn cảnh khó khăn đã và đang được bộ đội biên phòng tỉnh dìu dắt, giúp đỡ. Rồi đây, những mầm thơ ấy sẽ tiếp nối truyền thống quê nhà, tích cực học tập, cùng tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.

Đại tá Trần Anh Dũng chia sẻ thêm: “Ngoài nâng bước học sinh vùng biên đến trường, Bộ Chỉ huy sẽ phát động các đồn tiếp tục phối hợp với lực lượng bảo vệ biên giới Campuchia để hỗ trợ, giúp đỡ các cháu có hoàn cảnh khó khăn trên nước bạn”.

Trên những nẻo đường vùng biên gập ghềnh đá sỏi, nơi đất và người còn nhiều khó khăn, sự hiện diện, tận tình của những người lính quân hàm xanh càng trở nên thân thương, gần gũi. Trực tiếp tham gia việc khảo sát tại một số hộ gia đình trên địa bàn xã Ea Bung, trung úy chuyên nghiệp Lê Minh Hùng (Nhân viên Đội Vận động quần chúng, Đồn biên phòng Cửa khẩu Đắk Ruê) rất xúc động khi chứng kiến nhiều em nhỏ có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, nhưng nghị lực học tập rất đáng khâm phục. Anh tin rằng, nếu được trao con chữ, các em sẽ chinh phục được ước mơ của mình. Sẻ chia của anh Hùng cũng là điều mà nhiều người lính biên phòng cảm nhận khi thực hiện chương trình này .
               
V.H

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 7 trong 2 đánh giá
Xếp hạng: 3.5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo