Những cánh rừng mang hình đất nước

Thứ tư - 05/04/2017 00:39
. NGUYỄN MẠNH HÙNG

Tôi đến Tây Nguyên trong chuyến đi cuối năm với rất nhiều cảm xúc. Hồi hộp, vì đây là lần đầu được đi dọc đoạn biên giới phần dưới chữ S bắt đầu nở ra của đất nước, từ ngã ba Đông Dương đến Đức Cơ, được tận mắt nhìn những địa danh đầy bi tráng đã đi vào huyền thoại những năm đỏ lửa chống Mĩ như Đắk Tô, Tân Cảnh, điểm cao 1015 (đồi Charlie), ngã ba Đông Dương, sông Sa Thầy, Chư Mom Ray, đường 19, đường 14C... Xao xuyến rưng rưng vì được lần theo dấu chân những người lính Sư 320, Sư 10... chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên trong những câu chuyện đầy xúc động. Đầu mùa khô, trời Tây Nguyên không thật xanh trong với những vẩn mây trắng ngà nhưng vẫn có nắng seo vàng. Hoa cúc quỳ hai bên đường cũng seo vàng. Chuyến này, tôi đi cùng nhữn người lính của Binh đoàn 15 anh hùng. “Kia là ngã ba Tân Cảnh, Đắk Tô... bên trái là điểm cao Charlie...” Tiếng anh Quân lái xe giới thiệu địa danh trên đường đi. Tôi nhìn theo tay anh chỉ và chợt như nghe có tiếng thở nghèn nghẹn của người lính già Nguyễn Trọng Luân - một cựu binh của Sư 320 từng đánh trận Charlie năm xưa viết trong bài kí Trở lại 1015 lần trở về thăm chiến trường cũ: “Tôi biết nói gì với gần bốn trăm liệt sĩ đơn vị tôi ngã xuống trên cao điểm 1015 đây? Và nữa, tình cảm của ngót năm trăm thương binh bạn bè tôi, những đồng đội khác, vì nhiều lí do, chưa lên đây được...”.

Xe qua thị trấn Đắk Tô rẽ trái lên Ngọc Hồi, chúng tôi có cơ hội được ngắm chiếc tăng 377 huyền thoại “một chọi mười” ở đài tưởng niệm bên đường và nghe câu chuyện nắm cơm chưa kịp ăn cháy thành than trong chiến dịch Đắk Tô Tân Cảnh năm 1972 của kíp xe 377 ấy.  Anh ở đây mà em mãi đi tìm/ Em hi vọng để lấy đà vượt dốc/ Tân Cảnh/ Sa Thầy/ Đắc Pét/ Đắc Tô… Nhà thơ Hữu Thỉnh - Một người lính xe tăng thời chống Mĩ đã viết những câu thơ rưng rưng như thế trong bài thơ Phan Thiết có anh tôi. Cái tâm trạng xúc động ấy của những người đi trước cũng đang xao lên trong tôi. Ở mảnh đất Tây Nguyên này, có biết bao nhiêu dấu chân của những người cha đi tìm con, em đi tìm anh, vợ tìm chồng, đồng đội đi tìm nhau... Không ai có thể trả lời được. Và giờ đây, chúng ta đang làm gì để miền đất thiêng liêng nơi phên dậu này mãi xanh, mãi yên bình? Cái sự băn khoăn ấy đã theo tôi suốt hành trình trong chuyến đi dọc biên giới Tây Nguyên ngày cuối năm.
 
Nơi có ngôi làng, con đường mang tên A Tâm

Cách ngã ba Đông Dương khoảng trên 20km, có một ngôi làng thuộc xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi, Kon Tum. Tôi rất tò mò vì trong làng có rất nhiều thứ được gắn với hai chữ A Tâm: xóm A Tâm, đường A Tâm, đường điện A Tâm... Tên A Tâm được viết lên trên tường nhà của những gia đình trong xóm, thậm chí có người lấy tên ấy đặt cho đứa con của mình.

A Tâm là ai?
Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ như in gương mặt rờ rỡ, ánh mắt lấp lánh cảm động của bà Lò Thị Xuyến khi chỉ cho tôi con đường làng thảm bê tông đã phủ một lớp bụi bazan, thi thoảng lại cuốn lên lớp bụi đỏ nhẹ mỗi khi có chiếc xe máy phóng vụt qua. Với giọng nói hết sức phấn khích bà Xuyến bảo, nếu chú đến xóm này khoảng vài năm trước thì không thể tưởng tượng được nó thể nào đâu. Mỗi khi trời mưa, đường lầy sụt quánh như mủ cao su đặc, nhiều đoạn bùn lút qua đầu gối. Đi bộ thì bì bọp, mang xe máy ra khỏi làng chỉ còn cách hoặc là khiêng, hoặc bó xích, quấn kín máy xe bằng giẻ để bùn khỏi chui vào rồi hì hụi người dắt, người đẩy cả cây số. Dân trong làng, ngoại trừ số ít khá giả có máy phát điện, còn lại quanh năm là dầu, nến. Điện với bà con là thứ hết sức xa xỉ. “Nhưng mà chú biết không, giống như một giấc mơ, một câu chuyện cổ tích ấy! Mọi thứ thay đổi khi A Tâm xuất hiện, A Tâm làm thay đổi.” Hai bàn tay bà đặt trước ngực như muốn giữ con tim mình khỏi nhảy ra khỏi lồng ngực bởi xúc động. “Thế sao trước đó, bà con mình không làm đơn xin làm đường gửi lên cấp chính quyền có thẩm quyền giải quyết?” “Có chứ!” Bàn tay đặt trước ngực của bà chợt xòe ngửa ra. “Kiến nghị hết thôn, đến xã rồi huyện, thậm chí chúng tôi còn viết một lá đơn, xuống tận thành phố Kon Tum gặp một vị đại biểu Quốc hội đề nghị rằng, cái đường đi nó cực quá, cái ánh sáng cũng lom dom quá, bà con khổ quá rồi, không chịu nổi nữa. Xin Chính phủ đầu tư một con đường nho nhỏ thôi cũng được. Cho một ít điện, sáng lù mù thôi cũng được. Nhưng chỉ nhận được câu trả lời: Sẽ đề nghị lên trên giải quyết. Thế rồi A Tâm xuất hiện. A Tâm làm đường, kéo điện cho dân. Ai có tấm lòng, có công với bà con thì bà con ghi nhận. Ngay sau khi xong đường đi, đường điện, già làng họp cả xóm lại. Tất cả nhất trí một trăm phần trăm để đặt tên đường, tên làng, tên đường điện là A Tâm bởi: “A Tâm thật cái bụng với bà con” - như lời già làng A Sem, dù trên giấy tờ tên làng, tên xóm vẫn là cái tên đã có từ lâu.”

 
tay nguyen
Ảnh minh họa - Internet

Vâng, nhân vật A Tâm mà bà con thương yêu đặt tên cho xóm, cho đường, làm lễ nhận là người con của làng Giăng Lố II, chính là thượng tá Trịnh Hà Tâm - nguyên giám đốc Công ti 732 - một đơn vị của Binh đoàn 15 đứng chân trên 4 xã Đắk Kan, Sa Loong, Rờ Kơi, Đăk Xú thuộc hai huyện Ngọc Hồi và Sa Thầy của tỉnh Kon Tum.

Để gặp được thượng tá Trịnh Hà Tâm, chúng tôi phải đi hơn trăm cây số từ Ngọc Hồi sang Công ti 75 đóng ở xã Iakrêl - Huyện Đức Cơ - Tỉnh Gia Lai (anh Tâm đã chuyển sang làm giám đốc công ti 75 từ mấy tháng trước). Sau cái bắt tay, bên ấm trà, khi tôi đề nghị anh chia sẻ thì anh cười và bảo mình có làm được nhiều đâu mà kể. Chỉ đến khi câu chuyện thật thân tình anh mới nhắc lại vài kỉ niệm. Không phải là chuyện làm đường, làm điện mà là kỉ niệm lúc chia tay dân bản. Anh bảo khi quyết định của Binh đoàn xuống, bàn giao đã xong, khi ấy bà con mới nghe tin và kéo lên nhất định không cho đi. Già làng A Sem còn níu tay anh bảo: A Tâm, sao con lại bỏ làng đi. Thậm chí, chị Y Tin khi ấy là Chủ tịch ủy ban Mặt trận xã khi nghe tin Tư lệnh Binh đoàn đang có mặt ở 732 đã lên tận nơi để xin Tư lệnh cho anh ở lại. Nhận được câu trả lời của Tư lệnh rằng đã bàn giao rồi, làm sao mà thay đổi được, chị vẫn cố nài, bàn giao rồi nhưng Tư lệnh bảo ở lại thì vẫn ở lại được chứ! “Với đồng bào, tuyệt đối không được hứa bừa và đừng bao giờ mang bất cứ thứ văn bản nào ra đọc.” Câu nói ấy được anh nhắc đi nhắc lại như tâm huyết rút ra sau mấy chục năm gắn bó với đồng bào. Tại sao thế? Bởi bản chất của đồng bào thiểu số rất tốt, thật thà và tin người, vì thế đừng hứa bừa và cũng đừng đọc cái gì. Thay vì điều đó, hãy xuống ở với đồng bào để thấy họ cần cái gì. Đồng bào cần cái gì thì mình giúp cái đó. Giúp ngay cái trước mắt đã, sau đó làm đến đâu nói đến đó.

Chia sẻ về quá trình vận động bà con bỏ tà đạo Hà Mòn, anh bảo ngày ấy, làng Giăng Lố II gần như 100% đều theo đạo Hà Mòn và tất cả các ngành đoàn thể đều vào cuộc chứ không riêng Binh đoàn 15. Khi đó, anh mặc đồ lao động, đi giày đi ủng cùng vào bếp vào làng, ra rẫy với bà con, cũng ăn cá sống, cũng bốc, cũng uống rượu say rồi lăn ra nền nhà ngủ… Ở với đồng bào, anh mới hiểu đồng bào biết hết và không hài lòng với những cán bộ luôn chỉ tay năm ngón rồi rình rình có thứ gì ngon thì tìm cách mua rẻ của dân. Biết điều ấy, anh cấm tất cả mọi cán bộ nhân viên trong công ti không được mua hàng của bà con, nếu mua thì giá phải cao hơn một chút so với thị trường. Ở dưới đó, anh mới thấy con đường của bà con khổ lắm, điện thì không có. Khi chiến tranh đồng bào đóng góp nhiều cho cách mạng, vậy thì lí do gì họ lại không được hưởng những nhu cầu tối thiểu khi hòa bình. Thế là quyết tâm làm. Sau một thời gian vận động quyên góp từ cán bộ, công nhân trong công ti được một số tiền, công trình bắt đầu khởi công vào cuối tháng 4 năm 2016. Đầu tiên là đổ 3km đường bê tông từ đầu làng Giăng Lố về tới các khu nương rẫy tập trung của người dân. Sau đó khí thế ngút trời, bộ đội tiếp tục kéo qua ủi đất, đổ đá, tiếp tục mở đường vào thôn Tân Bình. Hôm làm đường vui như hội. Gần ba trăm dân, mà không chỉ là dân làng tự nguyện mà cả những người đi trên con đường ấy đều đến giúp sức. Sau này, trong câu chuyện trên xe, tôi mới biết việc ấy anh lặng lẽ làm mà không báo thành tích, để đến nỗi bị Tư lệnh “mắng” là làm được sao không nói!

Sau chuyện đó, bà con nhận anh làm con, bắt anh phải bỏ họ của anh để mang họ đồng bào. Phong tục ở đây đàn bà con gái thì họ là Y còn đàn ông, con trai, mang họ A và đó là lí do tại sao anh có tên A Tâm. Lễ cúng là ba ghè rượu, cúng bằng tiếng của người Jarai. Có đội múa xoang, đội cồng chiêng biểu diễn. Già làng bảo, chỉ A Tâm mới được đối xử đặc biệt như thế. Sau khi cúng xong, già làng nửa đùa nửa thật nói “từ giờ hồ sơ lí lịch của A Tâm ở trên trời, chúa giữ rồi”. Rồi chợt nhớ ra, anh bảo, cuối tháng anh phải về làng. Một năm, dù đi đâu, làng cũng bắt ít nhất phải về hai lần. Ở làng có bất cứ chuyện gì dù to hay nhỏ, ai tai nạn, ai chết, ở làng có gì khác lạ, dân làng đều báo cho A Tâm, bởi anh là con của làng, mà đã là con thì việc gì cũng được biết. Về chuyện lấy tên anh đặt tên làng, tên đường, quả thực anh cũng không muốn thế và đề nghị bà con xóa tên viết trên tường nhà, và cứ giữ tên làng như cũ nhưng bà con không chịu, bảo nó nằm trong đầu trong bụng rồi.

 Rời nhà đi từ năm 1986, đến năm 1988 chuyển về Binh đoàn 15, ba mươi năm ở Tây Nguyên là ba mươi năm thượng tá Trịnh Hà Tâm ở với đồng bào dân tộc thiểu số. Cũng vì thế mà anh thuộc và nhảy không khác gì dân làng trong vùng Tây Nguyên trong các điệu nhảy truyền thống. Ba mươi năm ấy, anh được sống thật thà. Sống hồn nhiên và yêu thương. Anh bảo, những ngày đầu lên Mô Rai khổ lắm, ăn lông ở lỗ, tắm truồng. Ngày ấy ở Mô Rai cầu cống chả có, toàn bơi sông bơi suối, nhiều người không chịu được gian khổ đã bỏ về. Rồi ốm đau... Anh vẫn nhớ lần người bạn tên Hải bị bệnh nặng, anh em thay nhau khiêng cả ngày cả đêm từ Mô Rai ra huyện lị Kon Tum nhưng tới ngầm dốc Đỏ thì Hải trút hơi thở cuối cùng...

Những năm tháng ở Tây Nguyên anh nhận ra, với đồng bào đã nhận lời thì phải thực hiện. Đã lừa nhau là không ở được với nhau. Bộ đội hướng dẫn đồng bào cách làm ăn, tạo điều kiện để họ có thể mưu sinh. Chỉ bảo chân tình, tuyệt đối không được lợi dụng việc đó để mua rẻ công sức lao động. Với đồng bào, những kẻ tham lam họ khinh bỉ lắm... Họ bảo đó là những kẻ tàn ác. Ở mỗi địa bàn, đừng nói nổi cộm hay không nổi cộm. Đừng đổ tội cho địa bàn phức tạp. Giống như một gia đình, con hư tại bố mẹ. Quan trọng với người địa phương thiểu số, ở đâu cũng thế, cần tránh 3 điều căn bản: Đừng thổi phồng, đừng hình thức, đừng hứa bậy.
 
Những “nghệ sĩ” bất đắc dĩ nơi vùng biên

Khi tôi chia sẻ ba điều trong quan hệ với đồng bào dân tộc thiểu số của giám đốc Trịnh Hà Tâm rằng đừng thổi phồng, đừng hình thức, đừng hứa bậy với bà con thì thượng úy y sĩ Nguyễn Bá Danh đang làm việc tại bệnh xá Công ti 78 hoàn toàn đồng ý và nói thêm, phải làm sao thật hiểu đồng bào và để đồng bào hiểu nữa! Ngay từ đầu, cách nói chuyện hoạt bát kết hợp với ngôn ngữ cơ thể uyển chuyển của Nguyễn Bá Danh đã khiến tôi vô cùng thích thú. Không rườm lời, hơi nghiêng đầu sang bên, mắt ánh nụ cười, anh kể luôn. Ở chỗ anh, chuyện chăm sóc cho đồng bào, có lẽ thú vị nhất là chuyện sinh đẻ. Đồng bào quan niệm rằng chuyển dạ buồn đẻ chính là buồn đi... ị! Mà đi ị thì phải kín đáo và phải ra ngoài chứ! Nằm tè he trên bàn thì làm sao mà... ị được! Mặc cho các “bà đỡ” của bệnh xá đã sẵn sàng mọi thứ để chào đón công dân mới, mặc mọi lời năn nỉ giải thích đến rát cổ “ bà đẻ vẫn nhất quyết: “không, em... ị thôi!” Và thế là, dù đang nằm trên bàn, nhất quyết tụt xuống và bì bạch đi ra ngoài. Thôi thì biết làm sao, đành xử lí tình huống không có trong “giáo trình đỡ đẻ” bằng cách... gọi người nhà của “bà đẻ” vào và đưa cho một chiếc vỏ thùng mì tôm rồi dặn mang đi cùng “bà đẻ” ra ngoài. Khi nào đẻ thì hứng thùng mì tôm ở phía dưới để đứa trẻ rơi vào đấy, xong thì bê cái thùng ấy cùng “bà đẻ” với đoạn dây rốn lòng thòng vào phòng sản phụ để các “bà đỡ” xử lí phần tiếp theo. Có trường hợp thấy ca đẻ khó nên bệnh xá quyết định cho xe chuyển ra viện ngoài Kon Tum, giữa đường sản phụ chuyển dạ, nhất quyết bắt dừng xe xuống vệ đường. Vậy là lại phải ca bài... hứng thùng mì tôm đón đứa trẻ. Nguyễn Bá Danh giảng giải. Ở đây, các “bà đẻ” đi bộ nhiều, tầng sinh môn mỏng nên đẻ thường dễ, “nếu ai biết cách rặn, có thể rặn cái ra luôn. “Phụ nữ sinh xong có thể đi bộ bình thường như tự nhiên. Và tục đẻ ở đây, khi chuyển dạ, bà đỡ sẽ cột hai tay “bà đẻ” lên một thanh ngang buộc phía trên sao cho “bà đẻ” lom khom ở tư thế nửa đứng nửa ngồi để dễ sinh em bé.

Đấy là chuyện trước đây, còn sau này, bà con thấy sinh ở bệnh xá của bộ đội tỉ lệ mẹ tròn con vuông cao gấp rất nhiều lần đẻ ở nhà, lại được chăm sóc chu đáo tận tình nên tự nguyện ra ngoài bệnh xá. Những khi có trường hợp sinh nở, bệnh xá đông vui vô cùng vì đồng bào có tập tục mỗi khi ai ốm hoặc đẻ, là cả làng nườm nượp kéo đi thăm.

Nguyễn Bá Danh còn kể thêm, đôi khi khám cho bà con, y bác sĩ phải giống như những... nghệ sĩ kịch câm, dùng trực quan sinh động cơ thể mình để diễn tả triệu chứng cho đồng bào gật hoặc lắc. Phải biết tâm lí, bất cứ bệnh gì cũng phải “đặt ống nghe” dù đau bụng, đau lưng rồi hẵng hỏi tiếp. Khi hỏi triệu chứng thì phải hỏi nhiều chỗ vì coi chừng chỉ bất cứ chỗ nào đau bệnh nhân cũng gật, hỏi nữa thì đồng bào bảo: Ô, bộ đội khám thì biết chứ, sao mình biết bệnh mà nói! Rồi cái tâm lí dù bệnh gì nặng nhẹ ra sao cũng thích tiêm, chấn thương thích gây tê. Làm việc ở đây, nếu như không có cái tâm, tình yêu thương dành cho đồng bào thì sẽ rất dễ buông xuôi vì sợ trách nhiệm. Năm 2009, có trường hợp ông Rơ Hách Láo, khi đưa ra bệnh xá, liên tục nôn ra máu. Bệnh xá quyết định chuyển ra viện tỉnh, trên đường đi, khi qua ngầm vì đường lầy nên xe bị gãy cầu sau. Trên xe, bệnh nhân lại thổ huyết rất nhiều. Khi ấy, vợ bệnh nhân bảo chồng mình chết rồi và nằng nặc đòi đưa về để làm ma. Vậy là một mặt phải động viên vợ bệnh nhân rằng vẫn còn cứu được, mặt khác phải bảo người đi cùng chạy vào đồn biên phòng gần đó nhờ các chiến sĩ ra giúp, đồng thời gọi điện cho bệnh viện đưa xe vào cấp cứu. Hôm ấy, anh cùng hai mươi chiến sĩ của đồn đẩy xe qua ngầm Đá đến đèo Ngọc Linh thì gặp xe của bệnh viện vào đón. Được cấp cứu kịp thời, mười lăm ngày sau bệnh nhân ra viện. Ông Rơ Hách Láo sau đó làm chủ tịch của xã Mô Rai này.
 
Cần lắm những tấm lòng với đồng bào
 Chiều tối lang thang ở ngoài cổng của Công ti 78, nhìn những gương mặt lam lũ, lầm lũi với chiếc gùi trên vai của bào dân tộc đi làm về, tôi biết cuộc sống nơi đây còn muôn vàn khó khăn. Nếu không đồng cam cộng khổ, không chia sẻ, giúp đỡ họ trong việc mưu sinh thì họ sẽ xa rời chính quyền, xa rời bộ đội. Khi ấy, chắc chắn chúng ta sẽ mất lòng dân. Đất nước có vững bền, biên giới có bình yên chính là ở lòng dân, cái chân lí tưởng cũ ấy, để làm được, không thể chỉ nói xuông, cần lắm những tấm lòng với đồng bào “Đừng chỉ tay năm ngón, đừng đọc cái gì cả, hãy làm, hãy giúp những gì họ cần”, đó là điều tâm huyết mà giám đốc Trịnh Hà Tâm đã rút ra. Trong câu chuyện về vận động bỏ tà đạo Hà Mòn ở làng Giăng Lố II, anh bảo, sau một thời gian dài ăn ở, giúp bà con cho đến một hôm, khi đã được già làng tin tưởng coi như con, anh và già làng ngồi uống rượu. Khi ngà ngà say, già làng mới bảo, con ạ, họ về tuyên truyền là Mẹ đang trên trời hàng ngày nhìn xuống chờ các con lật đổ chính quyền, Mẹ sẽ cử người xuống lo cho các con giàu có. Đến lúc ấy, anh mới thật sự giật mình. Vâng, cái căn cốt của sự bình yên vững chắc nơi phên dậu này, chính là làm sao phải tạo ra được sự yêu thương đùm bọc - yêu thương của người một nhà. Đùm bọc của hàng xóm tắt lửa, tối đèn có nhau, bán anh em xa mua láng giềng gần là cái cốt của sự bình yên. Trong ngôi nhà mới làm của Siu Lul một chàng trai người Jarai ở xã Ianal, tôi đã thấy được sự thắm thiết chân tình giữa Siu Lul, và anh Nguyễn Đức Ngân - người Tuyên Hóa Quảng Bình. Rồi hộ H’Bé và Trần Hữu Đề người Hà Tĩnh... Họ đều là công nhân của Công ti 72 của Binh đoàn 15. Mô hình kết nghĩa giữa người Kinh và người dân tộc ấy gọi là “gắn kết hộ” và được nhân rộng ra toàn Binh đoàn trong những năm qua. Trong chuyến đi, tôi cũng được thăm những ngôi làng mới nơi đường biên của công nhân Công ti 716. Trong căn nhà gỗ ba gian mái tôn ấm cúng của mình ở thôn 6, xã Ia Đal, huyện Ia H’Drai, Kom tum, vợ chồng anh Hà Văn Dần quê Thọ Xuân, Thanh Hóa chia sẻ, vợ chồng anh vào đây năm 2012, sau ba tháng ở tập thể, anh được công ti bán cho ngôi nhà giá 42 triệu. Tiền nhà công ti không bắt trả ngay, không tính lãi mà trừ dần trong số lương của một người. Chỉ hơn một năm là anh chị trả xong nợ. Khó khăn nhất là bệnh viện xa, các con đi học cũng xa. Anh bảo, cũng may, công ti đã tạo điều kiện thành lập các điểm trường, hỗ trợ về kinh tế để con em ăn ngủ ở đó, cuối tuần đón về.
*
*    *
Suốt chuyến đi, tôi đã được ngắm một dải biên cương Tây Nguyên với ngút ngàn cao su xanh vời vợi. Những rừng cao su đang tiết những dòng nhựa trắng ngần như sữa trong mùa thu hoạch cao điểm cuối năm. Mấy năm rồi cao su rớt giá, các công ti của Binh đoàn 15 phải đi vay ngân hàng để chăm sóc cây, trả lương cho công nhân để cố giữ lại những khoảng rừng bạt ngàn này, quan trọng hơn đó là giữ dân và công nhân ở lại để biên cương ấm áp, vững bền. Họ làm điều đó bởi đơn giản họ là những người lính. Họ biết Tổ quốc cần những gì ở mình. Thời gian này, giá cao su đã tăng. Đã thấy những nụ cười nở trên môi của những người lính đang làm cho biên giới Tây Nguyên xanh thêm, và đã cảm thấy mùa xuân đang rạo rực rất gần ở một nơi nào đó…
 
N.M.H

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)