Làng cá trong lòng Hà Nội

Thứ sáu - 14/10/2016 13:51
tan van
. NGUYỄN BẢO SINH


Phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội trước đây có một làng cá. Sau thời bao cấp 1986, làng cá hầu như không còn vết tích, chỉ duy nhất còn lại những dãy nhà xây trên đất ao bị lún, tường nghiêng, nứt mà thế hệ sau không hiểu vì sao. Nay làng cá thành phố hẹp, ngõ nhỏ chằng chịt.

Làng cá xưa ao hồ liên chi hồ điệp, đêm đêm ếch nhái kêu đến điếc tai. Tối tối có người soi đèn pin đặt trên đầu đi bắt ếch. Ếch bị ánh sáng rọi vào chói mắt sẽ bất động nên rất dễ bắt.

Những người đi bắn chim cò thì soi đèn pin xuống mặt đất: chỗ nào cứt cò trắng như đổ vôi ướt là trên ngọn cây cò vạc đậu hàng đàn. Mỗi tối bắt ếch, bắn cò kiếm được hàng xâu, sáng hôm sau mang ra chợ Mơ bán cũng kiếm được bát cơm, manh áo.
Dân làng cá có hai nghề chính là thả cá bột và nuôi cá thịt. Cá bột có hai loại: một loại tự đẻ trong ao như cá chép, cá rô phi, cá diếc… Loại khác chỉ đẻ ở sông như cá mè, cá trôi, cá trắm… Cá đẻ tự nhiên ở trong ao hồ rất ít đậu vì bị các loài ếch, nhái, rắn và các loại cá dữ ăn mất. Muốn để cá đẻ thành công, phải tát ao, phơi khô độ mươi ngày, rắc vôi bột, diệt hết cá dữ mới tháo nước vào. Sau đó thả cá bố mẹ, hoặc cá bột vớt ở sông Hồng thả vào. Khi thả cá bố mẹ, chỉ tháo nước lưng ao. Một vài tuần sau mới cho nước thêm vào, cá gặp nước mới đẻ liền. Cá chép khi vật đẻ thường rạch lên trên, đẻ trứng vào rễ bèo. Cá đực trườn sau cá cái, phun tinh trùng thụ tinh cho trứng qua dung môi nước. Tinh trùng của cá đực màu trắng như sữa, dân nuôi cá gọi là “sịa”. Người nuôi vớt bèo bám đầy trứng cá màu vàng như hạt kê thả vào ao đã dọn sạch. Cá bột vớt ở sông về cũng vậy. Mỗi buổi sớm tinh mơ, chủ hồ đứng trên bờ ao mà tự nhiên thấy đàn cá con nổi đầu bơi bỗng chạy dạt sang hai bên là đang bị cá dữ đuổi bắt. Một con cá ngồng măng ăn thịt cá giống có sức tăng trọng nhanh gấp hai mươi lần bình thường. Chủ ao phải tìm cách tiêu diệt bằng được loài cá dữ này.

Việc vớt và thả cá bột là một quy trình kĩ thuật rất chặt chẽ. Khoảng tháng tư, tháng năm nước sông Hồng lên to, cả làng cá tấp nập ra vớt cá bột. Ngày ấy chưa có Thủy điện sông Đà, nước sông Hồng dâng cao đến mép đê, cao hơn đường phố bốn năm mét. Đứng xa thấy nước sông mênh mông, sóng cuộn đục ngàu, củi rác trôi lềnh bềnh. Con đê cao bảy mét chỉ như sợi chỉ mỏng manh. Các điếm canh đê trên bờ sông Hồng dọc xã Thanh Trì đỏ lửa suốt đêm, tiếng rít thuốc lào sòng sọc, tổ tôm xóc đĩa vui như hội. Dân làng Trương Định tấp nập chở đồ nghề đi vớt cá bột bằng xe đạp, xích lô, xe rùa. Dụng cụ vớt cá gồm có một cái săm, không phải săm lốp xe đạp mà là đồ nghề để lùa cá vào một cái hom trong đó có giăng lưới mắt cực nhỏ. Trên mặt đê đào một cái lò cá bột đường kính độ 1,5m, sâu khoảng 50cm để luyện cá bột vớt từ sông lên. Cá bột quen sống ở sông nên phải thả vào lò luyện trên mặt đê để quen dần mới vận chuyển về nuôi ở hồ ao. Trong vài ngày cá ở trong lò luyện, người nuôi phải tạo sóng nhân tạo bằng cái thúng sơn để tăng oxy cho cá thở. Thời ấy không có oxy bơm cho cá như ngày nay.


 
VNQD 15082016 Lang ca nu
Minh họa: Ngô Xuân Khôi
Chở cá từ lò trên đê về tới làng là công việc vô cùng công phu, nếu không cẩn thận cá sẽ chết hết. Ngày xưa chở cá chủ yếu bằng cách gánh. Cá bé được thả vào đôi thúng sơn, vừa đi vừa đánh sóng hàng chục ki-lô-mét, mà phải đi thật nhanh. Dân làng khi thấy người gánh cá bột qua đều phải nhường đường như ưu tiên cho xe cứu hỏa, cứu thương. Khi mệt ngồi nghỉ, người gánh cá mở chiếc sàng đậy nắp thúng sơn rồi dùng tay vỗ vào mặt nước. Chiếc sàng đậy trên nắp thúng sơn mắt thưa vừa phải để khi gánh đung đưa cá không bắn ra ngoài, nhưng phải đủ độ thoáng để cá không nghẹt thở. Chiếc thúng sơn bằng sơn ta màu đen bóng trông rất bắt mắt.

Đem cá bột thả xuống ao cũng đòi hỏi kĩ thuật. Phải để chìm chiếc thúng cá thật từ từ để cá quen môi trường từ nước sông sang nước ao, nếu đổ thúng sơn nhanh mạnh quá, cá dễ choáng mà chết.

Cá bột mới nở người trong suốt, chỉ có bụng màu thẫm, đôi mắt to đen có vành như đeo kính thường bơi nổi trên mặt nước như con bọ gậy. Lúc này thức ăn chính của cá là những bó lá cây cúc tần ngâm dưới ao vài ngày đang độ tan rữa. Thời gian sau, cá bột mới bắt đầu ăn bột cám, bột ngô và thức ăn nổi trên mặt nước. Cá nhỉnh lên một chút bắt đầu ăn được phân lợn hoặc phân bắc trôi lềnh bềnh trên ao. Cá bột không lặn sâu xuống đáy ao để ăn chìm. Những hôm thay đổi thời tiết, cá thiếu oxy, người nuôi cá dùng đòn tre sục trên mặt bùn để làm dẻo cá. Cá bột có thể thả chung với cá mè to vì cá mè là giống lành, chỉ ăn tảo và phù du.

Sau vài tháng, cá bột được vớt đem bán hoặc thả vào các ao nuôi cá thịt. Đánh cá bột phải dùng loại lưới kéo mắt thật mau nên rất tốn sức. Cá bột bắt lên được thả vào cái cháng rộng hơn cái màn đôi để dưới ao. Sau đó vận chuyển cá thật nhanh. Người gánh cá bột đòi hỏi sức khỏe như vận động viên chạy việt dã và biết cách đánh võng tạo sóng như diễn viên múa. Cá càng nhỏ vận chuyển càng dễ sống.

Bán cá giống thì có hai cách: cách thủ công nhất là đếm. Người đếm cá phải thật nhanh, nhiều khi phải dùng nhiều người cùng đếm nên rất dễ nhầm lẫn, phải điêu luyện và tỉnh táo. Cách bán thứ hai là bán theo bát. Múc một bát cá đem ra đếm. Lúc này đơn vị bán sẽ là bát. Ví dụ một bát cá 100 con, bán 100 bát là 1 vạn con. Với cách này người bán lúc lấy cá mẫu sẽ múc chỗ có nhiều cá nhỏ để được nhiều con. Bán 100 bát sẽ thành 120 bát. Dù gì người mua cũng thua người bán.

Nếu cá bột bán lên tận vùng Tây Bắc chẳng hạn thì phải chở bằng thùng phuy đặt trên ô tô. Người bán cá đánh sóng trên thùng phuy suốt dọc đường. Bán cá đường xa được món tiền lớn nhưng cực vất vả, nhiều khi cá chở đến nơi chết sạch đành phơi khô hoặc cho lợn ăn dần.

Chuyên gia nuôi cá phường Trương Định là hai ông Ba Mùi và Ba Còi người Giáp Nhị. Thuở  ấy, hai ông này mới trên năm mươi mà đã được cả làng tôn xưng là cụ. Cụ Ba Còi sống cùng vợ và không có con. Cụ Ba Còi ông đầu húi trọc, mặt hình tam giác, có vết sẹo ở trên trán. Cụ Ba Còi bà mặt hơi bẹt và dài. Hai cụ đều có nước da đặc trưng của dân mò tôm bắt tép: mái và thâm.

Cả hai cụ mắt rất kém, cùi mắt đục như lòng nhãn. Hai cụ quờ quạng đi trong nhà có khi đâm vào nhau ngã bổ chừng, người này đổ tại người kia, cuối cùng ôm nhau khóc vì nghĩ tới số phận sau này của mình mà kinh. Có lần tôi vào ngồi chơi, cụ Ba Còi lấy ấm rót nước. Thấy cụ cứ vồ vào con mèo khiến tôi ngạc nhiên, hóa ra cụ tưởng con mèo là ấm nước. Còn cụ Ba Mùi thì quắc thước hơn: mặt trái xoan, mũi dọc dừa, mắt sáng, ăn nói chậm rãi chừng mực. Con cái cụ Ba Mùi đều làm nghề cá. Lịch sử cái tên Ba Mùi có lẽ do cụ lội ao suốt đời cho nên có đủ ba mùi: mùi tôm cá, mùi bùn ao, và mùi hôi của người. Cụ Ba Còi mắt kém vẫn phải đi trông ao chống trẻ con câu trộm. Ngày xưa các chủ ao thường bắc cầu tiêu trên bờ để mọi người đi đại tiện lấy thức ăn cho cá. Nhiều chủ ao đi xa nếu mót vệ sinh vẫn cố nhịn để về cầu tiêu của mình đại tiện cho cá nhà ăn, thấy phân người rơi tõm xuống ao là cá xô đến quẫy đớp ùm ùm.

Cầu tiêu thời ấy trống trải lắm, chỉ phất phơ mấy tàu lá chuối, trong ngoài thông thống. Ngày ấy thiếu giấy, mọi người thường tước lá chuối khô làm giấy vệ sinh. Trẻ con hay vờ đi vệ sinh để câu trộm cá. Các chú nhóc ngày xưa câu cá rất hiền lành, thấy chủ ao đuổi là bỏ chạy chứ không như bọn trộm cá sau này, toàn tụi đầu gấu, có thể đánh lại chủ như chơi. Nhưng cụ Ba Còi mắt ba cà lóe, cụ chỉ nhìn thấy hình người lờ mờ chứ không phân biệt được kẻ câu trộm và người thường. Cụ nghĩ mẹo mua một cái còi thổi toe toe để đuổi trẻ con. Nhưng tụi trẻ con biết cụ chỉ thổi còi dọa nên chả sợ. Vì nếu như cụ mắt sáng, nhìn rõ rồi về mách bố mẹ chúng tội câu trộm thì bọn trẻ mới bị ăn đòn.

 
 N.B.S
 
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 4 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo