Đốm sáng nhỏ nhoi

Thứ tư - 05/10/2016 13:35
. HÀ NGUYÊN HUYẾN
 
Kiệm thức dậy muộn màng, uể oải ngồi nhìn ra cửa sổ. Ngoài kia biển vẫn thế, cứ cồn cào như mọi lần anh đã đến đây. Lần nào cũng vậy, không thể chịu đựng được nữa Kiệm lại tìm đến biển. Một mình đối diện với biển, với mình rồi lại tràn ngập thất vọng. Biển mênh mông vô tận và thăm thẳm huyền bí. Cũng như lòng anh bất lực trước mọi lời giải thích, biện hộ… và không thể san sẻ cùng ai.

Đêm qua, một đêm cuối mùa nghỉ bãi biển hoang vắng đến rùng rợn. Một vệt sáng dài ven bờ mềm mại như vòng tay ôm ấp mặt vịnh mịt mùng. Đại dương sẫm màu như khoảng không vô định trước mặt Kiệm. Chỉ còn lại những ngọn đèn run rẩy trước gió lạnh, thầm như muốn nói điều gì trong nỗi cô đơn. Kiệm hồi hộp chờ đợi, sự chờ đợi của một con cọp đói mồi mà con nai tơ không có cách gì chạy trốn. Không giống với mọi sự chờ đợi khác, sự chờ đợi này Kiệm đã trả tiền và ấn định ngày giờ một cách chắc chắn. Vẫn cứ thấp thỏm, Kiệm thầm đoán gương mặt thiếu nữ sắp xuất hiện. Bằng mọi cách vẫn không thể tưởng tượng ra được, đôi khi đó lại là sự gặm nhấm thích thú trước thúc bách sắp được giải thoát. Kiệm rấm rứt chờ “khúc nhạc đồng quê” mà hồi chiều tay chủ khách sạn đã thì thầm vào tai.

Cũng ngày này năm ngoái, Kiệm ngồi nhấm nháp li rượu được ngâm bằng cái… ấy của một con hổ đực. Thố rượu được một tay dưới quyền mang từ Lào về nhân một chuyến đi công tác. Hắn cam đoan, “thứ này” hiện chỉ có thể tìm thấy ở những bản heo hút thuộc miền biên viễn của nước này. Rượu trong vắt, Kiệm ngắm nhìn sự độc đáo của loài hổ mà bất cứ loài nào cũng không thể có được. Hình như loài hổ truyền cho Kiệm lòng ham muốn và sức mạnh, những thứ ấy lại được rượu hạ thổ lâu ngày dịu dàng nhóm lên trong Kiệm một ngọn lửa, ngọn lửa chốc lát thổi bùng lên lò lửa réo rít trong từng huyết quản. Vẫn phải chờ đợi, sự chờ đợi đầy bất ngờ và thú vị.  Đoán già đoán non rồi Kiệm lại hoàn toàn ngỡ ngàng khi cánh cửa rộng mở và từ từ khép lại sau lưng đứa con gái. Con bé đứng đấy mặt cúi gằm, Kiệm nhìn ve vuốt, thầm toan tính trên những đường cong mềm mại của cơ thể nó sau làn váy mỏng. Khoảnh khắc im lặng như nuốt chửng đứa con gái, có lẽ nó đã được chủ khách sạn dặn dò kĩ lưỡng và chính bản thân nó đã tự nguyện. Song với Kiệm, bằng sự trải nghiệm của một con cọp già quen bắt mồi kiểu này, nhận ra ngay sự run rẩy của con nai tơ trong từng thay đổi nhỏ. Kiệm cất tiếng hỏi phá tan sự im lặng đang làm đông cứng nó: “Biết cái gì đây không?” Kiệm chỉ tay vào thố rượu, nó cắn môi lắc đầu. “Cái… ấy của hổ đấy!” Vừa nói Kiệm vừa nhìn kĩ cái chót đầu của con hổ đực, nó như một quả dứa non với nhưng cai gai thịt xếp chồng lên nhau như vảy cá, có lẽ phải như thế mới thoả mãn được bọn… hổ cái!  Sau một thoáng rùng mình, có lẽ lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng của cuộc đời thiếu nữ nó nhận thấy sự hoàn thiện… “khủng khiếp” của tự nhiên! Rồi đâu đó sự đổ vỡ rách toạc màn đêm trên gương mặt non nớt đầy sợ hãi và nhoè nhoẹt son phấn vì nước mắt… Kiệm thiếp đi trong giấc ngủ mệt mỏi với ý nghĩ: Mọi thứ đã được thanh toán một cách sòng phẳng.  
*
*    *
Một năm trôi đi nhanh như cái trở mình, một năm đầy hanh thông trên con đường “doanh nghiệp thời mở cửa”. Chẳng biết bắt đầu từ đâu và từ ai mà một số người trong đó có Kiệm tin một cách mải mê như vậy. Không ai bảo ai nhưng mỗi năm, tuỳ vào ý thích của mỗi người mà chọn một thời điểm thích hợp để tiến hành. Dứt khoát phải… phá trinh một đứa con gái! Việc này không chỉ đơn thuần là thoả mãn thú tính mà nó được cân nhắc kỹ lưỡng như một “nghi lễ”. Có làm như vậy công việc một năm mới suôn sẻ. Giá của một lần không phải bất cứ ai cũng dễ dàng thò tay vào hầu bao mà quẳng lên bàn được. Hơn chục năm trời lăn lộn trên thương trường cũng là khoảng thời gian Kiệm lọc lõi trước mọi ngóc ngách của đời sống. Chẳng biết có phải sự thịnh vượng của doanh nghiệp trong thời gian đó mang đến sự nhàm chán, hay sự thất bại trong tình cảm vợ chồng khiến Kiệm năm nào cũng có mặt ở bãi biển này. Bãi biển cuối mùa nghỉ lạnh lẽo trong gió thu se sắt thổi, lặng lẽ trong từng đêm hoang, rồi lại khắc khoải qua đi trong nỗi đợi chờ nhiều năm rồi mà Kiệm chưa một lần tìm thấy, chưa một lần thoả mãn. Tất cả những thứ đó làm nên một trống vắng, một hoang hoảng trên con đường chạy trốn và kiếm tìm, ngày mỗi ngày như một cái bóng lúc nào cũng luôn ở phía trước, song lại hun hút trên đường đời vô định. Năm nay Kiệm lại có mặt ở bãi biển này và hồi hộp chờ đợi.

 
Thành Chương
Minh họa: Thành Chương
Cánh cửa đột ngột mở cắt đứt dòng hồi tưởng, rồi khép lại nhẹ nhàng không một tiếng động. Kiệm sững nhìn trên cái nền cửa màu rượu  Boóc-đô, một gương mặt thiếu nữ vừa thình lình xuất hiện. Dưới ánh đèn phòng dìu dịu, thiếu nữ vẫn đứng đấy, cơ thể được bọc trong một vuông lụa mịn màng và thanh sạch đến thánh thiện. Chẳng hiểu sao Kiệm không thể nào chịu được đôi mắt mở to vừa như nhìn Kiệm, lại vừa như nhìn vào đâu đó, ngờm ngợp và mênh mang. Khuôn khổ chật hẹp của căn phòng bỗng nhiên không còn là mốc giới hữu hạn mà Kiệm phải giam mình cả buổi tối để chờ đợi. Đứng trước Kiệm là tuổi trẻ, là cuộc đời. Vừa tàn nhẫn, khốc liệt, vừa ngọt ngào và đầy sức quyến rũ. Bực bội, Kiệm bật sáng ngọn đèn phía cửa và ngỗi khuất vào một góc sẫm bóng, tình thế vẫn không hề thay đổi. Lòng tự ái của kẻ đi săn và luôn chiến thắng đã bị tổn thương, Kiệm muốn lao ngay vào nghiền nhỏ, nghiến nát để khuất phục.

Hình như nhận ra điều đó, thiếu nữ lỏng tay, vuông lụa trễ xuống lộ ra cái cổ cao kiêu hãnh và bờ vai tròn đầy. Kiệm bật hỏi: “Bàn tay trái đẹp thế kia sao lại cụt một đốt ở ngón tay trỏ?” Giật mình như một phản ứng tự nhiên, thiếu nữ nắm chặt lấy góc lụa giấu ngón tay cụt vào đó rồi trả lời: “Trong một lần đi chặt nứa trên núi!” Không làm chủ được tình thế, im lặng lại đè nặng lên căn phòng. Hoàn toàn chủ động thiếu nữ lỏng tay nắm, vuông lụa tụt xuống lộ ra đôi bầu ngực viên mãn, tròn đầy. Kiệm lại hỏi: “Thế còn chỗ kia?” Thiếu nữ đặt bàn tay trái cụt một đốt lên ngực mình nửa như xác định vị trí, nửa như mời mọc khêu gợi nhưng hết sức vụng về rồi trả lời. “Cũng là một lần đi chặt nứa. Lần ấy do không có kinh nghiệm, chặt cây nứa trên tầm với. Cây nứa đứt vạt ống dầu lao xuống, đi sượt qua mặt, sớt vào chỗ… vồng lên cao nhất này.” Kiệm nhìn rất lâu vào vết sẹo, dưới ánh đèn vết sẹo vẫn như một nhát khứa rớm máu. Tuy đã liền lạc nhưng Kiệm có cảm giác chỗ đó sẽ nứt tung ra bất cứ lúc nào trong sức căng của bầu ngực mơn mởn… Bất ngờ Kiệm cất tiếng cười, tiếng cười rờn rợn vang lên trong đêm! Nếu là mớ rau bí, rau lang hay những lá rau cải bị sâu đục thủng lỗ chỗ… là thông điệp sạch cho những cái mồm sành ăn đã đành. Đằng này lại là một con người, chẳng lẽ những sứt sẹo kia là bằng chứng sống động cho sự mộc mạc chân quê? Kiệm với tay ấn vào một cái nút đâu đó trên bàn. Nhân viên làm phòng xuất hiện kéo thiếu nữ đi trong tiếng khóc nức nở: “Tôi có lỗi gì đâu!” Suốt đêm hôm đó Kiệm không thể nào chợp mắt được. Phần vì sinh lí bị ức chế, phần vì những kỷ niệm ùa về dày vò. 
*
*    *
...Ngày ấy, cách đây đã hơn ba chục năm. Kiệm về quê nhân kì nghỉ hè trước khi bước vào năm cuối cùng của đời sinh viên. Tối tối Kiệm hồi hộp đợi người yêu sau ngôi miếu cổ, dưới tán cây hoa dẻ. Càng về khuya hương hoa dẻ càng ngào ngạt, nỗi nhớ người yêu càng thêm cồn cào. Mãi cho đến lúc trăng hạ tuần muộn màng nhô lên phía cuối cánh đồng thì Hạnh mới tới. Kiệm nhận ra người yêu từ rất xa, bắt đầu là một cái bóng nhấp nhô bên hàng cây thanh táo, đến khi dáng Hạnh uyển chuyển in lên nền trời trăng đang mọc sáng dần lên. Họ xà vào nhau, trong vòng tay Kiệm, Hạnh se sẽ nói: “Anh chờ em có lâu không, em phải bó rau giúp mẹ cho kịp buổi chợ sáng mai.” Kiệm rất thích đi bên Hạnh trên con đường ra cánh đồng làng, phía cuối cánh đồng là dòng sông. Dòng sông chảy qua làng uốn lượn mềm mại như một dải lụa, chỗ ấy triền sông thoai thoải có những thảm cỏ xanh rờn lan đến tận mép nước. Chính nơi đây lần đầu tiên trong đời Kiệm đã gặp Hạnh, một cô thôn nữ mà anh ngỡ ngàng khi biết nhà Hạnh ở xóm Đông. Xóm Đông, xóm Đoài cách nhau có một lối nhỏ vắt qua làng mà Kiệm cảm thấy như mình vừa phát hiện ra một thế giới. Một thế giới mới mẻ tràn ngập ánh hào quang của tình yêu lứa đôi. Trăng lên đến đỉnh đầu, Hạnh bảo Kiệm: “Em là con gái nhà quê, chẳng có gì để ràng buộc anh cả. Nếu yêu em thì đừng bao giờ một để em một đời lỡ dở.” “Anh yêu em!” Kiệm nói trong mùi hương nồng nàn mà anh thể cắt nghĩa được. Cho đến tận hôm nay, không bao giờ Kiệm có thể tìm thấy mùi hương đó ở bất kì người đàn bà nào mà anh đã từng chung chạ. Đêm hôm đó trong vòng tay Kiệm, lần đầu tiên trong đời anh mới biết thế nào là vẻ đẹp thiên thần của một thiếu nữ… Giật mình như vừa thoát khỏi một giấc mơ, Hạnh ngồi dậy thu mình khép chặt hai vạt áo. Kiệm nói trong hơi thở dồn dập: “Không, với anh, đêm tân hôn phải là một kỉ niệm thiêng liêng của hai đứa mình!”

Không bao giờ có ngày ấy cả, trước khi ra trường mẹ Kiệm ra đi vì một cơn bệnh hiểm nghèo, bỏ lại Kiệm cùng hai đứa em nhỏ dại. Mồ côi cả cha lẫn mẹ, Kiệm cảm thấy bơ vơ trước cuộc đời. Tốt nghiệp đại học, không có việc làm Kiệm theo cánh thợ mộc, thợ nề trong làng đi khắp nơi kiếm sống. Lăn lộn với đời gần một năm trời tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Kiệm bỏ ra thành phố, mấy tháng sau trở về tìm Hạnh, ủ ê nói. Nói mãi cũng chỉ được hai từ… “hoàn cảnh”. Năm sau Kiệm lấy vợ và có việc làm ở phòng kỹ thuật một xí nghiệp quốc doanh. Có tiền Kiệm nuôi được hai đứa em tiếp tục ăn học. Làm được điều này Kiệm phải chấp nhận lấy Thoa, một người học cùng lớp. Thoa xinh đẹp, có bố đang làm vụ trưởng ở một bộ. Kiệm không lạ gì Thoa, mấy năm trong trường Thoa có tiếng là người nhiều quan hệ rất tự do. Đêm tân hôn, Kiệm biết Thoa không còn nguyên vẹn nữa. Song cuộc đời vốn thế, tiếng là vợ chồng nhưng trước Thoa anh không hề mảy may rung động.

Tình cảm vợ chồng Kiệm như có một thứ a xít loãng ăn mòn qua năm tháng. Kiệm tự nhủ mình, đó là cái giá anh phải trả cho hôn nhân mà không có tình yêu. Kiệm âm thầm chịu đựng cho đến ngày “mở cửa”. Thời kì này cơ chế thị trường nghiệt ngã đẩy rất nhiều xí nghiệp đến bờ vực thẳm. Nhờ vào những thông tin kịp thời mà bố vợ cung cấp, bên cạnh sự nhanh nhậy vốn có từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường và, điều cơ bản dẫn đến thành công là một quyết tâm sắt đá. Lòng quyết tâm ấy được cuộc đời đầy khó khăn sau khi tốt nghiệp đại học hun đúc… Kiệm cất được những mẻ vó lớn. Kiệm đã mua được một số “xí nghiệp cần phải giải tán vì làm ăn thua lỗ dài ngày”. Giá cả do Kiệm và các giám đốc đặt ra, vấn đề là ở chỗ chia chác sao đó cho vừa lòng mọi người. Sau đó chỉ cần tháo dỡ, bán một phân xưởng cho cánh “đồng nát” cũng thừa thãi tiền vốn bỏ ra. Có tiền, Kiệm thành lập doanh nghiệp. Sự thành công quá nhanh khiến Kiệm nghi ngờ những điều anh đang có. Song, nhà xưởng, máy móc công nhân và cơ ngơi mấy chục ngàn mét vuông, hai ba xí nghiệp vệ tinh ở những thành phố lớn, biệt thự, xe hơi và những cuộc hội họp linh đình khẳng định tất cả. Chỉ có mấy năm mà mọi thứ đều thay đổi! Trong công việc Kiệm có điều kiện gặp lại bạn cùng khoá và các đồng nghiệp, người đã đến tuổi nghỉ hưu, người tan vỡ xí nghiệp không có việc làm. Kiệm rất biết họ, không phải là họ không có tài. Họ chỉ không có một thứ đó là “thời”, Kiệm thầm cảm ơn số phận.

Có tiền, Kiệm lao vào ăn chơi cho bõ những năm tháng cực nhọc. Trước là nguỵ biện và sau đó là mãi mê tin vào cái việc mà mỗi năm Kiệm phải nhờ các chủ khách sạn tổ chức rất cầu kì. Những cuộc truy hoan triền miên, Kiệm tâm niệm nó sẽ bù đắp cho sự thiếu hụt trong đời sống vợ chồng. Sâu xa hơn nữa, Kiệm đi tìm cảm giác đã đánh mất thủa đầu đời. Càng tìm càng thất vọng! Nếu như… đã một vài lần Kiệm đặt ra hai chữ “nếu như”. Nếu như hôm đó sự việc diễn ra thì có lẽ hôm nay đời sống của Kiệm sẽ khác đi. Hạnh có trách Kiệm không, có lẽ không. Hôm đó Hạnh hoàn toàn tự nguyện kia mà. Chỉ được có vậy dù là trong ý nghĩ Kiệm đã thấy mình tội lỗi và hèn hạ. Đời sống vợ chồng Kiệm nhàm chán, nhiều năm làm kẻ có tiền đắm mình trong chơi bời mệt mỏi và nhạt nhẽo thì, cái “ngưỡng” mà anh tự đặt ra với Hạnh trở thành điều thiêng liêng, là tín ngưỡng để anh sống. Cho dù chỉ còn là một đốm nhỏ nhoi, nhưng nếu được nói với Hạnh thì anh muốn Hạnh hiểu rằng: Vẫn còn chỗ cho cái mầm thiện đâm chồi chứ không bao giờ Kiệm là “chú ngốc” trong tình yêu với Hạnh.

Thế là Kiệm hai lần chối từ cơ hội chiếm đoạt thân thể của hai thiếu nữ tự nguyện dâng hiến. Nếu như lần trước là sự cao cả, thánh thiện trong tình yêu thì lần này anh không thể, cho dù điều đó đã được mua bán sòng phẳng. Dấu vết còn lại của tuổi vị thành niên đầy nhọc nhằn trong cuộc mưu sinh không thể xoá nhoà trên thân thể nở nang của một thời thiếu nữ. Lòng trắc ẩn về thân phận con người neo giữ Kiệm không trở thành một con thú cuồng bạo. 
*
*    *
Kiệm hoàn toàn tỉnh táo sau một đêm không ngủ. Ban mai ở cửa biển này yên tĩnh và thanh sạch đến kì lạ. Kiệm không thể ngờ con bé tối hôm qua, một con bé như rất nhiều đứa con gái anh đã gặp trong vài năm trở lại đây lại có thể làm xáo trộn tâm tư mình như thế. Phóng tầm nhìn ra biển, hôm nay biển phẳng lặng bình yên mà lòng Kiệm cuộn sóng. Kiệm cứ ngồi như thế, mất hút vào “biển đời” mà anh đang phải ngụp lặn. Bỗng một tiếng nói nhỏ nhẹ vang lên phía sau lưng: “Thưa anh... Thưa bác, cháu xin cảm ơn bác!” “Về việc gì,” Kiệm hỏi nhưng không quay đầu lại. “Về... về... món tiền tối hôm qua...” “Cô còn quay lại làm gì.” “Cháu muốn chào bác...” “Thôi, cô đi đi.” Bao nhiêu năm nay Kiệm không bao giờ muốn gặp lại những người đàn bà kiểu này ngay cả khi vừa thoả mãn xong. Và lần này cũng vậy, Kiệm cũng thầm cầu mong như thế.

Không gian yên tĩnh trở lại, Kiệm cảm thấy nuối tiếc. Tại sao anh không thể quay đầu nhìn gương mặt đã làm cho anh phải suy nghĩ suốt đêm qua. Nếu như trên đường đời lại có một sự ngẫu nhiên nào đó thì sẽ như thế nào? Thôi, tốt nhất vẫn là không nên. Chỉ một lần duy nhất đối với Hạnh đã là một ấn tượng mà Kiệm sẽ phải mang đi cho đến hết cuộc đời. Bất chợt nỗi nhớ Hạnh cồn cào: “Hạnh ơi, giờ này em đang ở đâu?”

Sau ngày Kiệm lấy vợ, Hạnh đã bị làng xóm ỉ eo đơm đặt đủ điều trong thời gian yêu Kiệm. Cái vòng dư luận nghiệt ngã của làng quê đã làm bao cô gái phải nhỡ nhàng. Ngoài thành phố, Kiệm luôn ngóng tin nhà, thầm cầu mong cho Hạnh. Nếu Hạnh không may “qua lứa nhỡ thì”, Kiệm sẽ sống như thế nào... Mãi mấy năm sau Hạnh mới lấy được chồng. Chồng Hạnh là một người làng bên cạnh, hai vợ chồng yên phận với cuộc đời làm ruộng. Ruộng đất ít, con cái đau ốm… đời Hạnh bao nhiêu năm nay quanh quẩn ở làng với nỗi lo áo cơm thường trực. Lâu lắm rồi, có lẽ cách đây hơn hai mươi năm Kiệm không hề gặp lại Hạnh. Nhưng lần gặp gỡ ấy vẫn để lại cho Kiệm những ân hận, xót xa.

Lần ấy Kiệm đang đạp xe trên đường đi đến xí nghiệp, qua bệnh viện trung tâm thành phố. Thoáng có bóng người rất quen đang chen chúc bên ngoài cửa bệnh viện, Kiệm nhảy xuống, thôi đúng là Hạnh rồi. Hạnh đang bế trên tay đứa con trai nhỏ đang lả đi như một tàu lá héo. Bỏ cả buổi làm, Kiệm đưa mẹ con Hạnh vào nhập viện. Suốt mấy ngày Kiệm đi lại đỡ đần cơm nước, thuốc men. Hôm xuất viện, Hạnh lên phòng y vụ thanh toán thì mọi thứ đã xong rồi. Hạnh biết Kiệm đã làm việc này nhưng Hạnh không hề biết Kiệm đã bán đi chiếc xe đạp Mi-pha duy nhất của mình để trả tiền chữa trị cho con Hạnh. Ngày ấy Kiệm cũng như tất cả mọi người sống trong chế độ bao cấp, gia tài hầu như chỉ có mỗi chiếc xe đạp. Số tiền với Hạnh là quá lớn, để có được nó không biết vợ chồng Hạnh phải vay mượn những đâu. Thời gian sau Hạnh tìm đến tận xí nghiệp Kiệm đang làm, nằng nặc đòi trả bằng được số tiền hôm trước. Hạnh bảo: “Anh định trả công cho tôi vì những năm tháng yêu anh phải không.” Làm như thế lương tâm anh đỡ phải day dứt chứ gì? Tôi có bao giờ oán trách anh đâu...” Kiệm nói giọng đầy đau khổ: “Không phải thế, ngàn vạn lần mong em đừng nghĩ về anh như thế!”

Ngày hội năm ấy Kiệm về làng. Làng Me nằm khuất nẻo sau những quả đồi trùng điệp mà vẫn giữ được một lễ hội vô cùng độc đáo. Lễ hội này không phải thường niên mà hai mươi năm mới tổ chức một lần. Lễ hội chỉ diễn ra đúng một ngày, dù là tháng “thiếu” hay “đủ” vẫn phải là ngày cuối cùng của mùa trăng trung thu. Ban ngày là phần lễ, lễ thần, lễ thánh như ngàn vạn nơi trên đất nước này. Đêm đến là phần hội. Hội diễn ra cũng chỉ đúng có một đêm nhưng cuốn hút rất nhiều người. Theo những người già trong làng thì phần hội để dành cho trai gái. Trai gái trả nghĩa cho nhau bởi một lý do nào đó mà không lấy được nhau. Mọi sự việc diễn ra trong đêm hôm đó vượt ra ngoài những chế định pháp luật và đạo đức. Dân làng tôn trọng “lệ” đó với một niềm tin thánh thần. Kiệm về dự hội làng là về với một vùng quê nơi anh đã sinh ra và lớn lên. Về là về với kỉ niệm mà cuộc sống sau đó dù có xa xôi nơi “chân trời góc bể” cũng không dễ quên đi một sớm một chiều. Trong đêm hội đó Kiệm gặp lại Hạnh, đây là đêm hội đầu tiên trong đời hai người được dự. Khó có một khoảnh khắc nào trong đời lại thanh thản, vô tư như thế khi cả hai bên đã có vợ có chồng.

Họ lại đi bên nhau, Kiệm có cảm giác như ngày nào mình vẫn còn trai trẻ.  Hạnh đẹp lắm. Hạnh hôm nay không phải là thiếu phụ u buồn hôm nao ôm con vào bệnh viện. Hạnh hoàn toàn không phải là một thiếu phụ quê mùa suốt đời cam chịu. Đói nghèo, lạc hậu đã trốn khỏi gương mặt rạng rỡ. Sâu trong mắt Hạnh, ngời lên niềm hạnh phúc mà chỉ có thần thánh mới mang lại được. Kiệm vui với niềm vui bất ngờ! Đêm hôm đó một lần nữa trong đời mình, Hạnh lại tự nguyện trao thân cho Kiệm mà không đòi hỏi một điều kiện gì. Trước khi tàn đêm giã hội, Hạnh bảo: “Hãy quên Hạnh đi và đừng bao giờ tự vần vò mình nữa!” Cổ nhân hình như đã có sẵn cho một lời giải bài toán cho những mối tình dang dở.
Có thể Kiệm sẽ quên Hạnh nhưng ám ảnh là một kẻ hèn nhát, không dám sống cho một tình yêu thì suốt đời Kiệm không thể xoá đi được. Kiệm đã vì cơm áo mà làm kẻ phản bội, nay ngồi trên đống tiền nhưng nào Kiệm có sung sướng gì. Thời gian gần đây tình cảm vợ chồng Kiệm đã làm cho đời sống của họ hết sức nặng nề, Kiệm càng kiếm cớ để vắng nhà nhiều hơn. Nhận ra điều đó, Thoa đã buông những lời chì chiết khiến cuộc sống của họ như một địa ngục.
Không nói, cũng không hề phản ứng bởi sự trai lì, Kiệm biết rằng Thoa cũng chẳng đẹp đẽ gì. Các nước quan hệ với đàn ông của Thoa mà cô luôn bao biện là “công việc” đã biến Kiệm không phải chỉ là một “con bò”, mà từ lâu rồi Kiệm là một… con hươu sừng tấm. Nhưng quan hệ vợ chồng về mặt pháp lý vẫn tồn tại, bạn bè và người thân không thể lí giải được. Chỉ có chính họ mới biết được rằng, cái tồn tại hiện nay là một liên minh ma quỷ mà sự gắn kết chính là đồng tiền! Một bên là sự nhanh nhậy đầy quyết đoán, một bên là sự bỉ ổi đến mức đem cả thân xác đàn bà ra để đạt được mục đích. 
*
*    *
Cuộc sống của Kiệm cứ kéo dài như thế không biết đến bao giờ nếu không có một ngày Hạnh nhắn tìm gặp Kiệm. Kiệm về quê, lòng bồi hồi như thủa nào họ vẫn từng hò hẹn. Tình yêu đến lạ, từ ngày mái tóc còn xanh cho đến nay đã chuẩn bị bước sang phía dốc bên kia của cuộc đời, Kiệm vẫn nguyên vẹn một cảm giác như thế. Bồn chồn trong từng bước chân trên con đường làng thân thuộc, cho đến khi đối mặt với Hạnh, đối mặt với cái nghèo khó mà Kiệm không thể tưởng tượng ra được. Bao nhiêu năm qua Kiệm đã phung phí tiền bạc cho những cuộc chơi bời, đi tìm điều đã mất như một cuộc đuổi bắt mà kết quả vẫn là vô vọng.  Đối mặt với Hạnh, Kiệm vô cùng bối rối. Trái lại, Hạnh nói với Kiệm điềm tĩnh và thanh thản đến lạ kì. Hạnh kể: Hạnh không bao giờ muốn có ngày hôm nay, nhưng hoàn cảnh bó buộc đã làm cho Hạnh không có một sự lựa chọn nào khác. Sau đêm hội làng, chỉ duy nhất có Hạnh biết điều đó…

Những tưởng cuộc sống cứ thế trôi đi để một mình Hạnh phải cam chịu mất mát thiệt thòi. Vài năm trước chồng Hạnh đột ngột qua đời. Một nách ba đứa con, nếu trời cho Hạnh một sức khoẻ thì nhất định chúng phải nên người. Vừa rồi bệnh tật suýt nữa cướp đi nốt mạng sống của Hạnh. May nhờ vào đứa con gái út. Chính nó đã mang tiền bạc về để cứu chữa cho mẹ. Hạnh linh cảm thấy một điều chẳng lành. Nó là đứa con thông minh, hiếu thảo. Chính nó là đứa cảm thông và cùng chia sẻ những khó khăn thiếu thốn trong nhà với Hạnh. Nó là đứa duy nhất trong trong ba chị em được nuôi nấng học hành. Một sinh viên đang còn ngồi trên giảng đường đại học làm sao kiếm nổi được món tiền lớn như thế. Cho dù vạn lần cam đoan với mẹ là vay mượn bạn bè. Đã đến lúc phải nói với Kiệm: Nó chính là đứa con của Kiệm trong lần gặp gỡ duy nhất ấy. Kiệm hãy thương Hạnh, thương con... Nuôi nấng nó, đừng để một đứa con như thế lỡ dở trong cuộc đời... Nói rồi Hạnh cất tiếng gọi con, Hạnh rành rẽ: “Đây mới chính là cha đẻ của con, mẹ khó có thể đi cùng con trong những năm tháng đầy lo toan, vất vả này. Nếu như không may mẹ có “mệnh hệ” gì, mẹ không muốn con bơ vơ không nơi nương tựa và đã đến lúc con cần phải biết một cách chính xác.”

Hướng về Kiệm, Hạnh bảo: “Anh hãy tin tôi, nó là đứa trẻ được vinh dự làm người trong đêm hội. Nó là đứa con của thánh thần, mong anh hãy nuôi dưỡng nó thành một người tử tế. Có như vậy mới tránh được hết tội lỗi!” Kiệm nhìn chằm chặp vào đứa con mà Hạnh vừa giới thiệu. Nó là con anh, điều này không riêng gì Hạnh mà dân làng Me không bao giờ dám nói dối. Bởi nói dối là một tội lỗi với thần thánh và biết đâu điều đó để lại một hậu quả khôn lường. Song, họ chỉ có thể nói ra bí mật này vào những lúc không còn cơ hội nào khác. Nó là con anh và Hạnh. Đứa con mà mười mấy năm trời Hạnh không cho anh biết, đứa con đã cùng Hạnh lam lũ trong cuộc đời đến nỗi thương tích đầy người. Kiệm ôm con vào lòng, tay anh nắm chặt bàn tay trái cụt một đốt ở ngón trỏ. Đứa con ngả đầu vào vai anh tin cậy gọi: “Cha ơi!” Kiệm nghẹn ngào không nói nên lời, anh đã khóc. Kiệm khóc cho việc tìm lại được đứa con chỉ có một, mười lần Kiệm khóc cho nỗi đau đớn ê chề trong cuộc đời hôm nay mà hình như chỉ có một mình Kiệm biết.
 
H.N.H


 
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo