Bạn đá

Thứ bảy - 03/09/2016 13:32
. Y PHƯƠNG

Tôi không còn nhớ rõ, đấy là mùa xuân năm nào. Chỉ còn lờ mờ mang máng, khi ấy cha mẹ tôi làm một buổi lễ ngồi kì yên, mừng bà nội hưởng đại thọ 85 tuổi.

Ngồi kì yên là nghi thức hát mừng sinh nhật cho tuổi già, ở vùng người Tày Nùng Cao Bằng quê hương chúng tôi. Chỉ những ông bà nào lên lão, thọ 61 tuổi, 73 tuổi và 85 tuổi, gia đình con cháu mới tổ chức múa hát choong lình (tên nhạc cụ) đình đám.

Ngày đó, tôi hãy còn là một đứa bé, hỉ ra nước mũi xanh lè xanh lét. Tôi đang học lớp vỡ lòng trường làng với ông giáo Tiệm, đã bị cha phái đi đón bụt Ka Sủi.                  
                    
Từ nhà tôi đi tới làng ông ấy, phải xuyên qua một cánh rừng toàn đá răng mèo. Có nơi gọi đá tai mèo. Cả khu rừng rộng lớn thanh vắng đến mủn cả người. Tịnh không có lấy một mống người hay một hạt cây. Có độc nhất một con đường nhỏ bồng bềnh, đang vắt ngang qua khu rừng đá giữa mây mù và mưa phùn bao phủ.

Trên đầu, xung quanh tôi toàn những đá tua tủa nhọn hoắt. Cả đám rừng đá xin xỉn xám ngoét tối tăm, bởi chúng dầm trong nước mưa nắng nhiều thiên niên kỉ. Những mặt mũi cương cương, ngỗ ngược, bặm trợn của đá. Cũng có hòn nhẵn thín, bóng nhẫy như cái đầu ông Quyền Lực. Cái đầu ông Quyền Lực bày ra lì lợm. Hòn tiếp hòn cho chân người đặt xuống bước qua.

Tôi cứ đi một mình lầm lũi như thế. Đi mãi đi mãi. Khoảng chừng nửa tiếng sau, tôi mới thoát ra khỏi cánh rừng đá âm u này.

Tôi cắm đầu cắm cổ rảo chân thật nhanh về phía có tiếng chó sủa, tiếng gà gáy, tiếng mèo kêu. Trước mặt tôi, hiện lên lác đác những mái nhà sàn, thâm nâu như rêu mốc. Làng Nặm Slum đây rồi. Sướng quá. Khi ấy, tôi mới thực sự yên lòng, thở phào nhẹ nhõm.

Con đường nhỏ dẫn vào nhà Ka Sủi, tôi vẫn phải len lỏi đi qua các kẽ chân đá một thôi dài nữa. Lúc này đường mềm mại như một sợi dây thừng buộc trâu, trông nó có đoạn phồng đoạn xẹp thô nhám. Sợi dây thừng luồn lách qua khe những hòn đá ngồi, đá đứng, đá nằm, đá chân quỳ, đá xuống tấn, đá nghếch chân lên, đá công kênh nhau trên vai…

 
bạn đá
Minh họa: Đỗ Dũng


Hai bên đường, thỉnh thoảng có những bụi rau ngải hoang. Thời tiết cữ này đang bận mưa xuân rả rích. Nhìn lá rau óng ánh xanh non một cách thèm thuồng. Có thể thò tay ngắt lấy một túm rau trẻ măng non ót, cho vào mồm nhai ngon lành.  

Đoạn đường kế tiếp theo, đi men men trên bờ ruộng. Nó trơn nhẫy dầm dề trong mưa bụi. Đường lỏng lẻo oằn mình mà đẹp như một thỏi bạc. Đấy rồi. Kia kìa. Đen đen. Mốc mốc. Nhấp nhổm toàn người là người.

Người ở đâu ra sao mà đông như đá. Dường như họ ôm ghì lấy đá và nhổ nó lên. Hình như cả đám người đang loay hoay tìm cách để dọn hết đá ra khỏi mặt đường. Nhưng mưa xuân lại làm cho đá nhèm nhẹp lả lướt mềm đi. Da đá trơn như bôi lem nước xà phòng. Họ đành đứng khoanh tay chịu thua ông trời. 

Ồ, khi tôi đến gần, cái đám nhấp nhổm đấy không phải người. Mà là khói. Khói ngẩng đầu lên đông nhung nhúc ngay sát bên cạnh đá. Người ta gom thân cây ngô khô từ hồi nào, chất thành nhiều đống, to như đống mối. Họ đốt dọn sạch rẫy, chuẩn bị cho vụ ngô xuân tới.

Khói mọc chậm rì rì trong màn mưa phùn. Tôi ngửi thấy mùi khói cay cay, chua chua. Tiếp theo nghe có nhiều tiếng nổ lép nhép.

Từ khi xa nhà, lâu lắm rồi, tôi cứ nao nao thương nhớ mùi đồng quê. Cho đến tận bây giờ, người tôi đã lỏng tèo tèo như cái cối xay thóc long răng. Tôi vẫn miên man nghĩ mình là thằng bé con của ngày hôm qua. Lạ không.

Bỏ lại cánh rừng khói nhấp nhô như người, tôi còn đi tiếp nữa. Ngay liền trước mặt, một thung lũng đá mang hình răng cưa cực khủng. Hàng trăm hàng ngàn chiếc răng nhọn hoắt nhe ra, chừng như sẵn sàng ngoạm lấy những ai yếu bóng vía. 

Đá núi lô xô dạt vào nhau, tạo thành những lớp sóng cao ngất. Hết lớp sóng này chồm lên lớp khác. Đá nghiêng ngả đè vào nhau tơi bời. Đá nhì nhào phi phí thổi ra từng cơn gió lạnh. Gió đi qua họng đá gió tanh như tôm cua.

Gió từ chân đá gió lên. Gió từ đỉnh đá gió xuống. Gió bốc ra mùi cơm trưa, lại có vị ngai ngái cay cay như ớt bột trộn với vôi nồng. Sóng đá không còn ầm ào sôi động nữa. Sóng đá âm thầm ra điều nghĩ ngợi.

Lúc này đá răng mèo như đang nhai mưa. Mưa nhộn nhịp rùng rùng kéo đi kéo lại. Tôi còn nghe thấy đá hình như cãi nhau. Đá đôi co mà cả như các bà sồn sồn đang trong phiên chợ tết.

Nhìn vào mặt đá, hòn nào cũng xám đen, gầy đét, hốc hác như vừa nốc rượu. Nhưng sao nhìn vẻ mặt đá vẫn sáng sủa long lanh hồ hởi, bởi những giây mưa liên tiếp kết lại như cườm. Cườm đeo đầy hàm đá.

Người làng kể rằng, suốt từ hồi chống Pháp đánh Nhật, cả vùng quê tôi, từ trẻ con đến đám đàn bà con gái, không ai dám đi qua đây một mình.

Dù đi giữa ban ngày, dưới nắng trưa sáng chang chang, hễ cất chân đến cửa rừng đá, xương sống lưng bỗng mềm pằn pặt, khắp người ớn lạnh như lên cơn sốt rét. Thế là tôi đành ngồi chờ có thêm người, chứ không dám đi tiếp nữa.

Lúc ấy tôi đã nghĩ, có lẽ mình phải hét một tiếng lên thật to. Nói một mình thật vang, để lấy dũng khí. Dũng khí ở đâu chưa thấy, khắp người tôi tái chín tái sống như bôi nghệ. Màu nghệ mọc thành từng đám trên da như cơm cháy. Dù có sợ bằng trời, tôi vẫn phải đi, nếu không, sẽ bị cha cho ăn đòn.

Tôi căng cả hai ống tai và bốn con mắt ra dò đường hỏi lối, nhưng vẫn hãi. Từng bước chân, tự biết mình phải cố tỏ ra ta đây đếch sợ. Ta có võ thư rè (phép thuật).

Kì thực, cả đời tôi chỉ có nhõn mỗi một môn võ ù té quyền. Có đứa bạn trong làng từng nói về tôi. Cái thằng đó mồm thì cứng đấy, nhưng hậu môn lại nát bét nhè. Nát như hai miếng đậu phụ nhừ.

Khi tôi chớm đến khúc ngoặt, bỗng xoẹt ra một chú chồn hương. Nó rung rinh chòm râu tung ra trêu tức.

Con chồn hương tinh quái, nó đứng co đôi chân sau. Chồn hương mắt trong suốt nhìn tôi. Tôi cũng đứng tim. Và trừng mắt nhìn nó. Chú chồn hương hình như đang săm soi coi chừng cảnh giác. Nó đưa cái mõm dài đầy lông lá hướng về phía tôi. Nó hít hít thêm mấy cái nữa, liếm môi mấy nhát nữa. Ra vẻ ta đây đã sẵn sàng.

Con chồn hương này mày thật xấc xược. Mày không sợ người ư. Được. Tôi vội nghĩ phải tìm cách xua đuổi con chồn hương lếu láo.

Bốn con mắt chọi nhau chừng năm mười phút, không chớp. Tôi bèn giả vờ cúi xuống đất, nhặt lên một hòn đá làm vũ khí chủ định tấn công.

Thấy trước tình hình này có vẻ bất ổn, nó khẽ rùng mình xù lông, đập đuôi xuống đất. Cái đuôi chồn hương đánh vào thân cỏ dính nước mưa kêu tèn tẹt. Tôi bỗng thấy nhồn nhột sợ nó.

Chú chồn hương bỗng nhếch mép lên cười và nó bảo: Này! Hỡi thằng nhãi ranh. Xem ra mày còn nhát gan hơn con thỏ đế đấy. Ta có làm gì mày đâu mà sợ. Thôi, đi đi, mau rồi về, kẻo tối.

Đến lúc ấy, tôi mới sực nhớ tới công việc quan trọng của mình. Bèn lấy tay vịn vào một hòn đá dính nhớp, hít một hơi mưa xuân thật no. Và đi tiếp.

Trước mặt tôi, trời dừng mưa. Mây đang loang rộng ra, trời lộ sáng dần. Những tia nắng chiều lẩy bẩy như người ốm dậy. Nắng hắt ra từ rặng núi Lũng Gà Tà Than, trời đằng tây xa xa vút cong lên nhiều ngọn khói xám. Bóng rừng đá Nà Lung đang lùi về sau lưng tôi. Chiều đang mờ dần.

Đi thêm một quãng đường ngắn nữa, tôi thấy có một chiếc nón lá to đùng như cái mẹt. Chiếc nón đứng nghiêng nghiêng, chênh chếch không chạm đất.

Rõ ràng chiếc nón kia đã che khuất, nuốt gọn một số người. Những người dân quê tôi gọi là nón vịt. Nón vịt to đùng, che đậy kín miệng cả một cái xoỏng (dụng cụ đựng cỏ ngựa). Cái nón ấy giữ hơi ấm được rất lâu. Lâu đến mức chờ cho đến kì trứng ấm nóng lên và nở thành vịt con. Lúc ấy người ta mới cất nón đi, dùng vào việc khác.

Nói nôm na, chiếc nón vịt làm thành tấm chăn cách nhiệt. Nó giữ ấm cho ổ trứng. Nón này đan bằng cật nứa, lợp lá chít, dày chừng hai đốt ngón tay. Nó đúng là một chiếc nón đại. Bây giờ người quê tôi ít dùng chiếc nón này.

Người ta đã tận dụng nón một cách tối đa. Lúc lấy nón làm quạt, để quạt thóc. Lại có khi dùng làm quạt lửa. Lúc quạt lùa đàn vịt đàn gà. Khi nhàn tản, lấy nón lót ngồi như đệm, hút thuốc tán chuyện vặt. Cũng có đôi trai reo gái rẻo lấy nón làm vách che mắt người tò mò. Hai đứa tỏ tình tán tỉnh chúp chép nhau trong lòng nón, làm cho hoa xuân thóc théc sướng.

Chiếc nón vịt có đường kính dài gần một sải tay, chứ không thể ngắn hơn. Vì thế, người ta dùng nón đi trong mưa, làm thành một khoảnh sân nho nhỏ khô ráo. Người đội nón vịt, như đội một mái nhà con con trên đầu. Áo quần vẫn khô cong. Vẫn xòe diêm sáng tưng bừng. Vẫn nói cười toá loá không hề lo ngại mưa to gió cả.

Kế bên chiếc nón, lác đác vài con trâu no cỏ. Trông đàn trâu như một đám thùng phi nhúc nhích. Con nào con nấy lặc lè loang loáng. Trên lưng trâu nghi ngút bốc hơi khói trên mình. Chúng vẫn miệt mài gặm cỏ, chả cần biết ai với ai.

Cháu chào pú (ông) ạ. Hình như cụ ông chăn trâu chẳng nghe thấy gì. Tôi bèn chào to hơn. Song, ông cụ chỉ cười hiền lành, hở ra hai chiếc răng đầy bựa và một vòm miệng tối om. Chắc ông bị điếc đặc thật rồi.

Tôi toan bước đi, bỗng ông già chăn trâu chậm rãi thủng thẳng gọi lại. Đến nhà ai hả cháu? Dạ! Cháu đến nhà Bụt Ka Sủi ạ. Ờ ờ. Cháu từ từ đi nhé.

Chuyện cách đây đã hơn một đời làm bố làm mẹ. Khi đó tôi vừa tròn ba mươi. Khu rừng đá Nà Lung với tôi như những người bạn thân từ thuở tam thập nhi lập. Mỗi khi mùa xuân mới sắp sửa tràn về, ngoài trời có những đợt mưa lung lay bay bay, tôi lại nhớ và thương da diết những “người bạn” đá. Chắc giờ này đá vẫn thế thôi. Quê hương của tôi không già đi và không cũ thêm. Đá chỉ rắn lại như nỗi niềm người già. Đá co chân co tay của mình lại nhường đất nhường trời cho đám rau ngải trẻ. Rau ngải hoang thi nhau nhì nhào mọc bao quanh chân đá. Rau ngải dựa vào đá mà bò lên cao nữa cao mãi. Rau ngải mê mải xanh như lũ trẻ nhà tôi. Chúng bắt đá núi phải quỳ xuống làm ngựa, cho rau ngải được dịp cưỡi đè lên đá mà cười thật giòn.

Chưa bao giờ có đông đủ người thân, để tôi lẩn mẩn kể có đầu có đuôi con đường rừng đá Nà Lung. Trên lưng tôi khi xưa cõng mùa xuân đầu tiên trong đời làm bố, ngày hai lần đi và về.


Y.P
 
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 8 trong 2 đánh giá
Xếp hạng: 4 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo