Chị em nhà Vane

Chủ nhật - 09/08/2015 06:00
Nabokov
Nhà văn Mĩ gốc Nga Vladimir Vladimirovich Nabokov (1899 - 1977) sáng tác bằng tiếng Nga và tiếng Anh. Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng thế giới, trong đó tiểu thuyết Lolita được coi là một trong những tác phẩm hay nhất của thế kỉ XX. Ngoài văn xuôi và thơ, Nabokov còn dịch những tác phẩm kinh điển từ tiếng Nga sang tiếng Anh và ngược lại.

. VLADIMIR NABOKOV

1.
Có lẽ tôi không bao giờ được biết về cái chết của Cynthia, nếu tôi, đêm ấy, không đụng mặt D., người mà tôi cũng đã mất dấu trong khoảng bốn năm gần đây và có lẽ tôi không bao giờ đụng mặt D. nếu tôi không bị cuốn vào một chuỗi điều nghiên tầm phào.

Hôm ấy, Chủ nhật ăn năn sau cả tuần bão tuyết, là một ngày nửa ngọc, nửa bùn. Giữa cuộc đi dạo chiều chiều qua sơn trấn nhỏ gắn liền với trường cao đẳng nữ sinh nơi tôi dạy văn học Pháp, tôi đã dừng chân ngắm họ hàng nhà băng nhũ sáng chói, nhỏ nước giọt giọt từ mái chìa của ngôi nhà khung gỗ. Hình bóng của chúng mới rõ nét làm sao trên các tấm ván trắng phía sau, đến nỗi tôi đã chắc chắn rằng bóng những giọt nước rơi cũng hữu hình. Nhưng không thấy chúng đâu. Có lẽ do mái nhà nhô ra quá xa, hoặc góc nhìn không đúng. Có một nhịp điệu, một sự luân phiên trong việc nhỏ giọt làm tôi thấy bị chọc tức như trò ảo thuật với đồng xu. Điều ấy dẫn tôi đi xem xét kĩ lưỡng các góc cạnh của vài khối nhà, và đưa tôi đến Kelly Road, ngay ngôi nhà nơi D. từng sống khi anh ta làm trợ giảng ở đây.

Qua hàng mi đuôi công, tôi nhìn thấy ánh tà dương phản chiếu lóng lánh chói mắt tựa kim cương trên mui cong của chiếc ô tô đang đậu. Vạn vật được hoàn trả cảm quan hình ảnh sống động bởi sự tẩy rửa của tuyết tan trong tiết trời ấm áp. Nước tràn lên nhau lớp này lớp khác như những tràng hoa chảy xuống con phố dốc và yêu kiều chuyển hướng qua phố khác. Với một âm hưởng quyến rũ vô cùng mong manh, lối đi hẹp giữa các tòa nhà để lộ ra kho báu của gạch và màu đỏ tía. Lần đầu tiên tôi để ý thấy các máng sáo khiêm nhường - tiếng vọng cuối cùng của đường xoi trên thân cột - trang trí cho thùng rác, và tôi cũng nhìn thấy gợn sóng trên nắp nó - các đường tròn tỏa rộng từ một trung tâm cổ xưa đến phi thường. Những hình dáng dựng đứng đầu đen của các đống xác tuyết được sắp thành hàng, như những con chim cánh cụt mới phôi thai, dọc theo lề đường, ngay trên dòng chảy dào dạt lấp lánh của các rãnh nước sống động.

Tôi đi lên, tôi đi xuống, tôi đi thẳng về phía bầu trời đang êm đềm tắt nắng, cuối cùng thì chuỗi sự vật được quan sát và đang quan sát đã đưa tôi, vào giờ ăn thường lệ, đến con phố cách xa nơi tôi vẫn thường dùng bữa đến nỗi tôi quyết định thử một nhà hàng nằm ngay vùng ven thị trấn. Màn đêm đã buông xuống không tiếng động mà cũng chẳng cần nghi lễ nào khi tôi lại bước ra ngoài. Con ma gầy nhẳng, chiếc bóng giãn dài của trạm thu phí đậu xe buông xuống mặt tuyết ẩm thấp, nhuốm màu hung hung là lạ; tôi phát hiện ra điều này nhờ ánh sáng nâu đỏ của biển hiệu nhà hàng treo phía trên vỉa hè; và đúng lúc ấy - khi tôi tha thẩn nơi đó, phần nào mệt mỏi tự hỏi liệu trên đường cuốc bộ quay về tôi có thể đủ may mắn để tìm thấy cũng bóng ma ấy trong ánh xanh neon hay không - đúng lúc ấy thì một chiếc ô tô lạo xạo dừng bánh ngay gần tôi, và D. vừa bước ra ngoài vừa thốt lên một thán từ giả bộ vui mừng.

Anh đang đi, trên đường từ Albany đến Boston, qua thị trấn mà trước đây anh đã từng cư ngụ, và đây không phải lần đầu tiên trong đời mình, tôi cảm thấy cú đâm dị cảm ấy, cú đâm mà tiếp theo sau là một cơn bực tức cá nhân phản kháng những lữ khách, những kẻ dường như hoàn toàn chẳng cảm thấy gì khi thăm lại các nơi chốn lẽ ra phải làm họ xao xuyến tại từng bước với những kí ức than vãn và quằn quại. Anh dẫn tôi quay lại con đường mà tôi vừa mới rời đi, và sau cuộc trao đổi thường lệ toàn những lời vô vị vui vẻ thì đến khoảng trống không thể tránh được, mà anh lấp đầy bằng những lời tình cờ: “À này, tôi chưa bao giờ nghĩ tim Cynthia Vane có vấn đề gì cả. Luật sư của tôi vừa báo tin là cô ấy chết tuần trước.”

2.
Anh vẫn trẻ trung, vẫn thô lỗ, vẫn quỷ quyệt, vẫn vợ chồng với một phụ nữ hiền lành, đẹp thanh nhã, chưa bao giờ được biết hoặc nghi ngờ bất cứ điều gì về chuyện tình thảm khốc của anh với cô em cuồng loạn của Cynthia, cô gái mà, đến lượt mình, chẳng biết chút gì về cuộc nói chuyện riêng mà tôi đã có với Cynthia, khi cô đột ngột mời tôi đến Boston để bắt tôi thề rằng tôi sẽ nói chuyện với D. và “tống cổ” anh ta nếu anh ta không thôi gặp Sybil ngay - hoặc không li dị vợ. Tôi đã dồn anh ta vào chân tường ngay lập tức. Anh ta nói chẳng có gì đáng lo cả. Anh đã quyết, dẫu có thế nào, xin thôi việc ở trường và cùng vợ chuyển đi Albany, nơi anh ta sẽ làm việc trong hãng của cha mình.

Tôi nhớ hôm sau tôi ngồi tại cái bàn kê cao của mình trong giảng đường lớn, nơi kì kiểm tra giữa năm môn văn học Pháp được tổ chức ngay hôm trước vụ tự tử của Sybil. Em bước vào trên đôi giày cao gót, cùng chiếc va li, ném phịch nó xuống góc nhà nơi vài chiếc túi khác đang chất đống, với chỉ một cái nhún vai, tuột chiếc áo choàng lông thú khỏi đôi vai gầy, phủ nó lên va li của mình, và cùng hai hay ba cô gái khác, dừng bước trước bàn tôi để hỏi khi nào tôi sẽ gửi thư báo điểm cho họ. Tôi sẽ mất một tuần, bắt đầu từ ngày mai, tôi nói, để đọc những thứ này. Tôi cũng nhớ là đã tự hỏi rằng không biết D. đã báo cho em biết về quyết định của mình hay chưa - và tôi thấy thật đau lòng với cô sinh viên nhỏ biết vâng lời của tôi do suốt 150 phút tôi cứ quay lại chăm chú nhìn em, mảnh khảnh một cách trẻ con làm sao trong bộ đồ xám ôm sát người.

Hôm sau, lúc đang sắp xếp các cuốn tập xấu xí theo thứ tự bảng chữ cái, tôi đắm mình vào đống chữ viết tay hỗn độn và sớm rờ đến Valevsky với Vane, vở của họ không biết làm sao lại bị tôi chuyển nhầm chỗ. Valevsky nắn nót viết có vẻ dễ đọc cho dịp này, nhưng bài làm của Sybil để lộ ra sự phối hợp thường lệ của vài bàn tay quỷ. Em bắt đầu bằng cây bút chì rất nhạt màu, rất cứng, viết hằn rõ lên trang sau nhem nhuốc. Từ từ nguệch ngoạc thành những đường dày không rõ nét của cái gì đó nhìn gần giống như chì than, thêm vào đó, bằng cách mút cái đầu cùn, em đóng góp chút vết son môi. Bài em làm, mặc dù thậm chí còn nghèo nàn hơn tôi mong đợi, vẫn mang mọi dấu hiệu của một thứ từa tựa như sự tận tâm tuyệt vọng, với những đường gạch dưới, đổi chỗ, những chú thích chân trang không cần thiết, như thể em chú tâm gom góp các thứ theo cái cách đứng đắn nhất có thể.

Tôi gọi cho Cynthia ngay lập tức. Cô cho tôi hay là mọi chuyện đã chấm dứt rồi - mọi chuyện đã chấm dứt từ lúc tám giờ sáng - và xin tôi mang tờ ghi chép ấy đến cho cô, rồi khi tôi mang đến, cô rạng rỡ cười qua nước mắt với sự ngưỡng mộ đầy kiêu hãnh dành cho việc dùng từ kì quái mà Sybil đã tìm ra cho kì kiểm tra môn văn học Pháp. Trong chớp mắt, cô “xử đẹp” hai ly cối whisky pha soda, mà vẫn không lúc nào rời cuốn tập của Sybil. Tôi, ngay lúc đó, chỉ ra cho cô thấy những lỗi ngữ pháp trong đó và giải thích cách mà từ “phụ nữ” được dịch ở các trường cao đẳng Mĩ sao cho sinh viên không thể ngây thơ bàn tán quanh từ “gái” tương đương trong tiếng Pháp, hoặc tệ hơn. Những điều khá tầm thường vô vị này lại làm Cynthia rất đỗi hài lòng lúc cô nhỏm dậy, thở hổn hển, trên bề mặt phập phồng của nỗi đau. Sau đó, giữ chặt cuốn tập mềm nhẽo ấy như thể nó là một thứ từa tựa như cuốn hộ chiếu để vào được chốn thiên đường tình cờ nào đó. Cynthia đưa tôi lên gác, vào căn phòng ngủ nhỏ lạnh lẽo, chỉ để cho tôi xem, như thể tôi là cảnh sát hoặc tay hàng xóm cảm thông người gốc Ireland: hai lọ thuốc rỗng không và chiếc giường bừa bộn mà từ đó, tấm thân non mềm, không ai cần đến, mà D. hẳn là tường tận đến ngóc ngách nhung lụa, đã bị chuyển đi.
 
3.
Quãng bốn hay năm tháng sau khi Sybil chết, tôi bắt đầu gặp Cynthia khá thường xuyên. Đến lúc tôi đi New York vì công việc nghiên cứu nào đó vào dịp nghỉ lễ trong thư viện công cộng thì cô cũng chuyển đến thành phố ấy, nơi mà vì lí do kì quái nào đó cô đã thuê cái mà những người, miễn dịch với chứng sởn gai ốc, gọi là căn hộ “nước đá”, ở mức thấp của những con phố dọc ngang thành phố. Cô có đôi mắt cách xa nhau rất giống mắt em cô, màu xanh lơ hoảng sợ, ngay thật, với các điểm thẫm màu phân bố xuyên tâm. Khoảng giữa đôi lông mày đen rậm của cô lúc nào cũng bóng lưỡng, và cả vành mũi nung núc thịt của cô cũng bóng lưỡng. Mô biểu bì thô kệch của cô nhìn gần giống như của đàn ông, và dưới ánh đèn khắc nghiệt của căn phòng, bạn có thể nhìn thấy các lỗ chân lông trên gương mặt ba-mươi-hai-tuổi của cô thao láo nhìn bạn tựa như thứ gì đó trong bể cá. Cô dùng mĩ phẩm cũng say mê hệt như em gái cô đã từng, nhưng với sự cẩu thả phụ thêm vào làm cho những chiếc răng cửa to tướng của cô dính chút son môi. Móng tay cô được vẽ loè loẹt, nhưng bị cắn nham nhở và không được sạch sẽ. Các tình nhân của cô bao gồm một nhiếp ảnh gia trẻ tuổi ít nói với nụ cười bất thình lình và hai người đàn ông lớn tuổi hơn, hai anh em, chủ cơ sở in ấn nhỏ bên kia phố.

 
le anh van
Minh họa: Lê Anh Vân

Cha cô đã nướng vào cờ bạc cả gia tài kha khá, và ông chồng đầu của mẹ cô là người gốc Slav, tuy vậy Cynthia Vane lại thuộc về một dòng họ tốt, đáng kính. Tổ tiên của cô cả thảy là, vào một trong những giai đoạn đầu tiên là một đám nông dân ngồi vừa kín ngôi nhà thờ trắng tương phản với nền mây giông đen kịt, và sau đó là một hàng oai phong lẫm lẫm toàn các thị dân theo nghiệp buôn bán, cũng như một số học giả, giống như Tiến sĩ Jonathan Vane (1780-1839), một người hốc hác và sầu thảm, đã bỏ mạng trong trận hoả hoạn trên tàu hơi nước Lexington để sau này trở thành khách hàng quen thuộc của bàn cầu cơ nhà Cynthia. Tôi luôn có mong muốn đảo ngược phả hệ, và ở đây tôi có cơ hội làm thế, bởi lẽ đây là hậu duệ cuối cùng, Cynthia, và chỉ mình Cynthia, là người sẽ còn có chút ý nghĩa nào đó trong triều đại nhà Vane. Dĩ nhiên tôi đang ám chỉ đến năng khiếu nghệ thuật của cô, đến những bức vẽ thú vị, vui tươi, nhưng không nổi tiếng lắm, mà các bạn của cô thỉnh thoảng vẫn mua - và tôi tha thiết muốn biết nơi chúng sẽ đến sau khi cô chết, những bức vẽ chân thật và nên thơ ấy, những thứ vẫn làm bừng sáng phòng khách của cô - các hình ảnh chi tiết đến ngạc nhiên về những món đồ kim loại, và cái tôi ưng nhất, một tấm kính chắn gió bị sương muối che phủ một phần, với tia nước sáng chói cắt ngang phần trong suốt của nó.
 
4.
Cynthia có cảm giác rằng đứa em gái quá cố hoàn toàn không hài lòng về cô - do đến lúc này đã phát hiện ra rằng cô với tôi từng kết hợp lại để phá chuyện tình của em. Vì vậy, để làm vong hồn em nguôi giận, Cynthia trở lại một kiểu cúng tiến khá nguyên thủy và bắt đầu gửi đến địa chỉ làm việc của D., vào những ngày không cố định một cách cố ý, các vật mọn như ảnh chụp mộ Sybil dưới ánh sáng yếu ớt; những đoạn cắt từ chính tóc cô; tấm bản đồ chia vùng của New England với một dấu thập tô mực, ngay giữa hai thị trấn trinh bạch, để đánh dấu nơi D. và Sybil đã dừng chân vào ngày hai mươi ba tháng mười, giữa thanh thiên bạch nhật, tại một motel khoan dung, trong cách rừng hồng và nâu.

Là người đối thoại lắm lời hơn là thẳng thắn, cô chưa từng diễn tả được trọn vẹn cái lí thuyết về các tinh anh xen ngang mà bằng cách nào đó cô đã đúc kết ra. Về cơ bản thì chẳng có gì đặc biệt mới mẻ quanh tín ngưỡng riêng tư của cô, bởi lẽ nó giả định trước một cõi âm khá tầm thường, một nhà tắm nắng yên lặng của các linh hồn bất tử (được kết nối với nhau bằng tổ tiên đã khuất), mà trò tiêu khiển chính của họ gồm có việc bay lượn định kì trên những người thân còn sống. Điểm thú vị ở đây là cái khuynh hướng thực dụng hiếu kì mà Cynthia đưa vào phép siêu hình nhạt nhẽo của mình. Cô tin chắc rằng sự tồn tại của cô bị ảnh hưởng bởi mọi thể loại bạn bè đã chết mà từng người trong bọn họ thay phiên nhau chi phối số phận cô như thể cô là mèo con lạc lối được một nữ sinh đi ngang qua nhặt lên, áp vào má, và cẩn thận đặt lại xuống đất, gần bờ giậu ngoại ô nào đó - và ngay sau đó được vuốt ve bởi bàn tay vội vàng khác hoặc bị mang đến thế-giới-cửa bởi quý bà mến khách nào đó.

Trong vài giờ, hoặc vài ngày liên tiếp, và đôi khi trở đi trở lại, theo một chuỗi không đều đặn, trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, bất cứ chuyện gì xảy đến với Cynthia, sau khi một người nhất định nào đó qua đời, sẽ, cô nói, do thói tật và tâm trạng của người ấy. Sự kiện có thể lạ thường, làm thay đổi dòng đời người ta; hoặc nó có thể là một xâu rắc rối lặt vặt chỉ vừa đủ sáng tỏ để nổi bật lên trên nền một ngày thường và sau đó nhạt dần vào những chuyện linh tinh vẫn còn mơ hồ. điều này tựa như đi xuyên qua tâm hồn con người, cô nói. Tôi thử tranh luận rằng có thể cô không phải lúc nào cũng có năng lực xác định nguồn chính xác, bởi lẽ không phải tất cả mọi người đều có một linh hồn có thể nhận ra được; rằng những lá thư vô danh và quà Giáng sinh có lẽ đã được người nào đó gửi đi; rằng, trong thực tế, cái mà Cynthia gọi là “ngày thường” có thể chỉ là dung dịch loãng của những tinh anh ô hợp hoặc đơn giản là vụ đổi ca thường lệ của một thiên thần bảo vệ buồn chán. Thế còn Chúa thì sao? Liệu những người vẫn phẫn uất với bất cứ nhà độc tài quyền lực vô biên nào trên trái đất có mong ngóng một kẻ như thế trên thiên đàng hay không? Còn chiến tranh thì sao? Một ý tưởng mới khủng khiếp làm sao - các binh lính đã chết vẫn chiến đấu với những kẻ còn sống, hoặc những đạo quân ma cố gắng thắng nhau bằng được suốt cuộc đời các cụ già tàn tật.

Nhưng Cynthia vượt lên trên tính phổ quát cũng như cô đã qua phía bên kia logic. “à, đây là Paul,” cô sẽ nói vậy khi món súp sôi tràn ra ngoài đầy thù hận, hoặc “tôi đoán là Betty Brown tốt bụng đã qua đời” khi cô trúng thưởng chiếc máy hút bụi tuyệt đẹp và rất cần thiết trong cuộc xổ số từ thiện. Và, cùng kiểu nói năng loanh quanh luẩn quẩn của Henry James làm cho tâm trí Pháp của tôi cáu điên lên, cô sẽ quay lại thời gian khi Betty với Paul chưa qua đời, kể cho tôi nghe về cơn mưa quà tặng đầy thiện ý, nhưng kì quặc và hoàn toàn không chấp nhận được, bắt đầu bằng cái ví tay cũ trong có tờ séc ba đô la mà cô nhặt được trên phố và, tất nhiên, đã gửi trả lại, rồi kết thúc bằng đề xuất xấc xược từ anh chàng vẫn theo đuổi cô lâu nay (đây là nơi Paul xuất hiện) để vẽ những bức tranh “chân thật” về ngôi nhà và gia đình anh ta với món thù lao phải chăng - tất cả những điều này tiếp theo sự ra đi của bà Page nào đó, một con mụ tốt bụng nhưng khá già, kẻ từng làm phiền cô với ít lời răn dạy thực dụng từ khi Cynthia còn bé.

Tính cách Sybil, cô nói, có đường ven cầu vồng như thể bị mất nét đôi chút. Cô nói rằng nếu tôi biết Sybil rõ hơn thì có lẽ tôi sẽ hiểu ngay rằng tinh anh ở các sự kiện lặt nhặt đã giống Sybil như thế nào, các sự kiện, theo nhiều đợt, ngập tràn cuộc sống Cynthia sau vụ Sybil tự tử. Từ hồi họ mất mẹ, họ luôn muốn thoát khỏi ngôi nhà ở Boston và chuyển đến New York, nơi tranh Cynthia vẽ, họ nghĩ, sẽ có cơ hội được hâm mộ rộng rãi hơn; nhưng ngôi nhà cũ níu kéo họ bằng tất cả các xúc tu nhung lông của nó. Sybil quá cố, tuy nhiên, tiếp tục chia tách ngôi nhà khỏi quang cảnh chung quanh - một điều tác động hết sức tai hại đến cảm xúc mà ngôi nhà khơi gợi lên. Ngay bên kia con phố hẹp, một công trình xây dựng to lớn, xấu xí, đang thành hình trên các dàn giáo. Cặp bạch dương quen thuộc, đã chết mùa xuân ấy, biến thành những bộ xương vàng hoe. Những người thợ đến và phá vỡ cái vỉa hè màu ấm cũ kĩ một cách đáng yêu có sắc tím đặc biệt rực rỡ vào những ngày tháng tư ẩm ướt và dội lại một cách đáng ghi nhớ làm sao những bước chân buổi sáng về hướng bảo tàng của ngài Lever, người đã dành cả một phần tư thế kỉ chỉ để nghiên cứu ốc sên.

Nhân lúc đang nói về người già, ta nên bổ sung thêm rằng đôi khi chính những sự can thiệp và điềm lành sau khi chết ấy lại ở ngay bản chất sự giễu nhại. Cynthia đang giao du với một nhân viên thư viện lập dị tên là Porlock, tay này vào những năm cuối cuộc đời bụi bặm của mình đã làm công tác nghiên cứu sách cũ để kiếm các lỗi in sai huyền diệu như sự thay thế chữ l cho chữ h thứ hai trong từ “hither.” Trái ngược hẳn với Cynthia, anh ta chẳng quan tâm đến các dự báo giật gân tối nghĩa; tất cả những gì anh ta theo đuổi là chính cái điều quái dị ấy, sự thay đổi mà những kẻ có tài bắt chước ấy lựa chọn, những vết nhơ nhìn như đoá hoa; và Cynthia, một kẻ nghiệp dư còn biến thái hơn của các trò đố chữ, chơi chữ, từ ghép trái phép hoặc méo mó, vân vân, đã giúp kẻ lập dị đáng thương ấy theo đuổi cuộc truy lùng mà trong ánh sáng của ví dụ mà cô trích dẫn đã gây cho tôi ấn tượng như cơn điên thống kê. Dẫu sao chăng nữa, cô nói, vào ngày thứ ba sau khi anh ta chết, cô đã đọc một tạp chí và bỗng thấy đoạn trích dẫn từ một bài thơ bất hủ. Và tôi ước mình có thể nhớ lại được cuốn tiểu thuyết hoặc truyện ngắn ấy mà trong đó, những chữ cái đầu tiên của các từ trong đoạn văn cuối cùng đã tạo thành, theo như Cynthia giải mã, một thông điệp từ người mẹ đã quá cố của anh ta.
 
5.
Tôi rất tiếc phải nói rằng, do không thoả mãn với những tưởng tượng khéo léo này, Cynthia đã để lộ ra lòng mến chuộng tức cười với thuyết duy linh. Tôi từ chối đi cùng cô đến những buổi ngồi đồng mà ở đó bọn đồng cốt được trả tiền để tham gia. Tôi biết quá nhiều về điều này qua các nguồn tin khác. Tuy vậy, tôi cũng đồng ý dự những buổi kịch nhỏ được dàn dựng bởi Cynthia và hai quý ông bạn bè mặt lạnh như tiền ở hiệu in. Họ là những gã đàn ông lớn tuổi, béo lùn, lịch thiệp, khá quái đản, nhưng tôi tự thuyết phục mình rằng họ có văn hoá và rất hóm hỉnh. Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn nhỏ mỏng manh, và bắt đầu rung răng rắc gần như ngay khi chúng tôi đặt đầu ngón tay lên trên nó. Tôi vui sướng được thấy đủ loại hồn ma văng ra các bản tường trình của chúng một cách hết sức dễ dàng mặc dù khước từ giải thích bất cứ điều gì mà tôi không hoàn toàn nắm bắt được. Oscar Wilde bước vào và nói rất lưu loát một thứ tiếng Pháp méo mó, với kiểu diễn đạt đặc Anh thường lệ, buộc tội một cách mờ ám cha mẹ đã quá cố của Cynthia về những thứ xuất hiện trong các ghi chép ngắn của tôi như “sự đạo văn.” Một linh hồn lanh lợi góp thêm thông tin không ai yêu cầu rằng hắn, John Moore, và em trai Bill của hắn từng là công nhân mỏ than ở Colorado và bỏ mạng trong vụ sụt lở ở “Crested Beauty” hồi tháng 1 năm 1883...

Cuối cùng, với tiếng loảng xoảng hết sức ầm ĩ cùng mọi thể loại chuyển động rùng rùng như nhảy dích trên một phần chiếc bàn, Lev Tolstoy ghé thăm nhóm nhỏ chúng tôi và, khi được yêu cầu chứng thực mình bằng những điểm đặc trưng về nơi cư trú trên trần gian, quăng lên một miêu tả rắc rối về cái có vẻ như phần mộc của một kiến trúc kiểu Nga (các hình dạng trên bảng - người, ngựa, gà trống, người, ngựa, gà trống), tất cả đều rất khó chép lại, rất khó hiểu, và không thể xác minh.

Tôi tham dự hai hay ba buổi ngồi đồng khác nữa, chúng thậm chí còn ngớ ngẩn hơn, nhưng tôi phải thú nhận rằng tôi thích thú sự tiêu khiển trẻ thơ mà chúng mang lại và món rượu táo mà chúng tôi uống hơn những buổi tiệc ở ngôi nhà dễ sợ của Cynthia.

Cô đưa khách qua căn hộ xinh xắn của nhà Wheeler bên hàng xóm - một kiểu thu xếp chân tình từ bản chất hướng ngoại của cô, nhưng dĩ nhiên cũng còn do phòng khách của chính cô luôn giống như bảng màu cũ kĩ bẩn thỉu. Theo một tục lệ man rợ, mất vệ sinh và thông dâm, những chiếc áo choàng của khách được Bob Wheeler trầm lặng, hói đầu bưng vào chốn thiêng liêng của căn phòng ngủ nhỏ xíu và chất đống trên chiếc giường ngủ. Ông cũng pha các loại rượu, trong khi Cynthia và bà Wheeler chuẩn bị bánh xăng-vích.

Sau buổi tiệc cuối cùng thuộc dạng này, tôi viết cho Cynthia một lá thư  hoàn toàn vô hại và, nói chung, đầy thiện ý, trong thư tôi dùng một truyện tiếu lâm tiếng La Tinh để chế giễu vài vị khách của cô. Tôi cũng xin lỗi vì không đụng đến rượu whisky của cô, phân trần rằng do là người Pháp nên tôi ưa nho hơn lúa mạch. Vài ngày sau, tôi gặp cô trên bậc thềm thư viện công cộng, trong ánh nắng nhập nhoà, dưới cơn mưa bóng mây, đang mở cây dù màu hổ phách của mình, đánh vật với hai cuốn sách cắp nách (mà tôi đỡ cho cô một lúc), Những bước chân trên đường biên thế giới khác của Robert Dale Owen, và cuốn gì đó về “Thuyết Duy Linh và Cơ đốc giáo”; đột nhiên, ngay lúc đó, dù không có khiêu khích nào từ phía tôi, cô công kích tôi dữ dội và thô tục, dùng những từ độc địa, nói - xuyên qua những giọt mưa thưa thớt hình quả lê - rằng tôi là kẻ hợm hĩnh đạo đức giả; rằng tôi chỉ nhìn thấy điệu bộ và bề ngoài lừa dối của con người; rằng người phụ nữ mặc đồ xanh lục có bộ ngực tàn nhang, người bị tôi làm mất mặt bằng cách nào đấy không rõ, đã viết một cuốn sách bán rất chạy trên toàn quốc hồi năm 1932. Cynthia kì lạ! Tôi nghe nói cô có thể đột nhiên trở nên khiếm nhã một cách hung tợn với những người mà cô từng yêu quý và tôn trọng; dẫu sao thì người ta vẫn phải vạch ra ở đâu đó một đường ranh và cũng do đến lúc ấy tôi đã nghiên cứu đủ về những tinh anh thú vị và các xung động bản năng cùng các thứ linh tinh khác của cô, nên tôi quyết định tuyệt giao với cô.
 
6.
Cái đêm D. báo tin cho tôi về cái chết của Cynthia, sau mười một giờ khuya tôi mới quay về ngôi nhà hai tầng mà tôi chia sẻ, theo chiều ngang, với quả phụ của một giáo sư danh dự. Lúc đặt chân lên hiên nhà, tôi đưa mắt nhìn với nỗi sợ cô đơn vào hai loại bóng tối trên hai hàng cửa sổ: bóng tối trống vắng và bóng tối giấc ngủ.

Tôi có thể làm điều gì đó với loại thứ nhất nhưng không thể bắt chước loại thứ hai. Chiếc giường của tôi không mang lại cho tôi cảm giác an toàn; các lò xo của nó chỉ làm thần kinh tôi nảy tưng tưng mà thôi. Tôi chìm vào những bản sonnet của Shakespeare - và thấy mình đang kiểm tra một cách ngu ngốc các chữ cái đầu dòng để xem chúng có thể tạo nên những từ thiêng liêng nào. Thỉnh thoảng tôi liếc quanh để xem các vật thể trong phòng mình đang hành xử ra sao. Thật lạ lùng khi nghĩ rằng giả dụ như bom bắt đầu rơi thì tôi sẽ có cảm giác còn không bằng sự phấn khích của con bạc, còn trái tim tôi sẽ nổ tung nếu một cái chai nhỏ nhìn có vẻ căng thẳng đáng ngờ nào đó trên cái giá đằng kia di chuyển một khoảng nhỏ chừng một inch lệch qua bên. Sự tĩnh lặng cũng đặc quánh đáng ngờ như thể đang thong thả tạo hình một tấm màn đen cho chớp sáng thần kinh được tạo nên bởi tiếng động nhỏ bất kì từ một nguồn nào đó không rõ. Mọi giao thông chết lặng. Tôi hoài công cầu xin tiếng rền rĩ của xe tải trên phố Perkins. Người phụ nữ ở phía trên, người vẫn làm tôi phát điên bằng tiếng thình thịch bùng bùng được tạo ra bởi cái dường như là đôi chân đá của quái vật khổng lồ nào đó (trên thực tế, trong cuộc sống ban ngày, bà ta là một tạo vật nhỏ buồn bã giống con chuột lang khô quắt) sẽ giành được ân sủng của tôi nếu ngay bây giờ bà ấy lê bước vào phòng tắm. Tôi tắt đèn và hắng giọng vài lần để tỏ ra có trách nhiệm với ít nhất là âm thanh ấy. Tôi vụng về điều khiển một cuộc dạo chơi trong tâm tưởng cùng một chiếc ô tô rất đỗi xa xôi nhưng nó thả tôi xuống trước cả khi tôi có cơ hội lơ mơ chợp mắt. Ngay sau đó, tiếng lách tách bắt đầu và kết thúc trong giỏ giấy vụn, và chiếc bàn đầu giường tôi đáp lời bằng tiếng lạch cạch rất khẽ. Nó diễn ra hệt như thể Cynthia trình diễn ngay lúc ấy một buổi diễn rẻ tiền của lũ yêu tinh.   
 
7.
Tôi đã van lơn nhục thân, và sự ô uế của nhục thân, để bác lại và đánh bại tính ngoan cố có thể có của cuộc đời hồn lìa khỏi xác. Than ôi, những lời cầu khẩn này chỉ làm trầm trọng hơn nỗi sợ của tôi với bóng ma Cynthia. Sự bình yên tái lai cùng bình minh, và khi tôi trườn vào giấc ngủ thì ánh nắng xuyên qua các mành mành cửa sổ màu hung để lọt vào một giấc mơ không biết làm sao mà toàn những Cynthia.

Điều này thật đáng thất vọng. An toàn trong pháo đài ánh sáng ban ngày, tôi tự nhủ rằng mình đã mong đợi nhiều hơn. Cô ấy, một hoạ sĩ của những chi tiết sáng chói như kính - mà sao lại mơ hồ đến thế! Tôi nằm lên giường, ngẫm lại giấc mơ của mình và lắng nghe lũ chim sẻ ngoài kia. Ai mà biết được, nếu thu âm và cho quay lại, tiếng chim ấy biết đâu sẽ thành giọng người, thành lời nói, hệt như lời nói sẽ biến thành tiếng hót líu lo khi cho chạy lùi lại? Tôi ép mình đọc lại giấc mơ - quay lại, theo đường chéo, lên, xuống - cố gắng hết sức để làm sáng tỏ điều gì đó thuộc-về-Cynthia ở trong nó, điều gì đó lạ lùng và có tính gợi nhớ phải có ở nơi đó.

Bất an, nằm gập người ho, ủ dột, ốm. Con yêu nữ trăng hoa. Ít ai tình riêng ưng phận hèn. Im. Chẳng ưa ai. Em mong sẽ yên bình. Im lặng.
 
 Thiên Lương dịch từ nguyên bản tiếng Anh
trong tập
The Stories of Vladimir Nabokov
 
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 80 trong 16 đánh giá
Xếp hạng: 5 - 16 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo