Lời bình truyện ngắn "Hồn xưa lưu lạc" của Tống Ngọc Hân (VNQĐ số 784)

Thứ ba - 11/02/2014 02:58

TIẾNG KÊU CỦA BẢN SẮC VĂN HÓA VÙNG CAO

HOÀNG SÔNG GIANH

Hồn xưa lưu lạc là khúc bi ca về đặc sắc tinh hoa văn hóa Mông nói riêng, văn hóa tộc người nói chung được chiu chắt, trao truyền, nâng giữ từ bao đời đang đứng trước cơn cưỡng bức, xâm thực bất khả cưỡng của văn hóa miền xuôi, văn hóa ngoại quốc.

Mì tôm, nước lon thay dần cơm gạo nương, mèn mén. Nương thảo quả thay dần ruộng bậc thang. Nhiều cô gái rời bản lên phố bán hàng, lấy những anh Tây mắt xanh, quê tít đẩu đâu làm chồng. Và sau cuối là những thứ đồ cũ để lại từ đời cụ kị - những báu vật, linh vật - thoáng chốc bị bứng khỏi không gian sinh thành, trú ngụ. Cả một “quần thể văn hóa vật thể” trong nháy mắt bị tiền mang đi sau cuộc bán mua ngắn ngủi. Này là cầu thang bằng gỗ trắc đen bóng. Này là máng ngô, cối xay ngô bằng đá đục. Này là chõ đồ mèn mén. Này là cối giã gạo, cổ chày xanh mồ hôi người. Này là thùng đập lúa. Này là thùng gỗ chứa nước. Này là thìa gỗ, mâm gỗ, ghế gỗ. Này là mắc dao, lẹm lúa, cọc néo, lù cở, mí cở. Này là thồ ngựa, máng ăn của lợn, gà. Này là nhị, sáo và cốc đựng rượu đen nhẻm bằng ống hóp. Này là ván khắc hình hoa văn cổ để in lên vải chàm. Này là sừng trâu đựng rượu bóng nhoáng buộc bảy lần vải đỏ... Tất tần tật, trong nháy mắt, tằng đu đá (hết sạch).

Vì đâu nên nỗi? Đơn giản là vì cái nghèo, cái đói và những hủ tục càng nhân lên cái nghèo, cái đói. Những trận rét đậm, rét hại lần lượt giết hết đàn trâu. Những thang ruộng hiếm hoi, hẹp như vạt áo, con trâu đi một đường bừa còn khúm núm, làm sao có thể mọc lên từ đó đủ cái ăn? Vay vốn hàng trăm triệu làm nương thảo quả thì thảo quả lại mất mùa, bọn buôn lại ép giá. Nợ ngân hàng, nợ đám ma, nợ đám cươi... Cái chân vừa rút khỏi bẫy nợ này lại bị bủa vây như cá mắc trong chài khác. Tục lệ như lão thợ săn kì cựu, sừng sỏ. Đồng bào như con thú bị thương, cùng đường. Thế là họ bị đám doanh thương cơ hội miền xuôi, ngoại quốc lợi dụng. Giới kinh doanh có thể định giá tất cả các báu vật.

Trước cơn cưỡng bức của văn hóa bên ngoài, văn hóa Mông như một cô gái vừa vùng vẫy giãy giụa vừa buông xuôi, thỏa hiệp. Có những báu vật, linh vật ban đầu người ta nhất quyết có chết cũng không bán, vậy mà rốt cục cũng đành chua chát nhìn chúng bị những tờ tiền rẻ mạt mang đi. Đầu tiên là chậu gỗ, vật trao truyền từ mẹ chồng sang con dâu đến cháu dâu, là nơi mà đứa cháu dâu kí gửi “hồn xưa” của mình. Vợ hắn ngơ ngác ngẩng mặt, đưa tay áo quệt nước mắt. Một thằng chạy đến, vớ lấy cái chậu, hất toẹt nước ra đất, định mang đi. Hắn nhào ra, giật cái chậu gỗ từ tay thằng kia và ôm chặt vào lòng. Nước mũi hắn rỉ ra. Ông khách rút tờ hai trăm nghìn đỏ nhờ nhờ dúi vào tay vợ hắn (...) Những ngón tay của vợ hắn khẽ động đậy, chúng từ từ bóp chặt lấy tờ tiền như bóp đầu một con rắn độc. Hắn ngoan ngoãn thò cái chậu gỗ ra. Nhận đủ tiền, hắn cho vào cái túi chàm vẫn đeo khư khư dưới nách. Tiếp theo là chuồng trâu với những văng, cột vuông vức bằng pơ mu bóng như sừng, đẹp nhất vùng. Còn gì để mất đâu. Cái chậu rửa mặt của ba đời đàn bà làm dâu họ Giàng hắn còn bán được thì sá gì cái chuồng trâu mồ côi. Con trâu với người Mông là linh vật. Dẫu chúng chết rồi nhưng hồn vía chúng còn. Bán chuồng rồi thì hồn vía chúng về đâu? Về đâu thì về. Bán mới trả hết nợ. Và cuối cùng là cây khèn đại, thứ quý nhất trong các nhạc cụ người Mông. Lúc đầu, khi ông khách đưa đôi mắt thèm thuồng nhìn cây khèn nài chủ bán thì chủ đã vằn mắt. Chính hồn hắn, hồn vợ con hắn, hồn ba đời nhà hắn đều trú ngụ êm ái, thân thiết trong cây khèn ấy. Cây khèn gọi bạn tâm tình, gọi hồn gọi vía, dẫn dắt con người đi gặp tổ tiên, gặp gỡ thần linh. Không một kẻ nào có thể cưỡng lại thứ âm thanh kì ảo đầy ma lực thoát ra từ cây khèn ấy. Tiếng khèn dịu dàng, điêu luyện, bay bổng, ngân xa. Chim ngừng hót, suối ngừng chảy, mây ngừng trôi. Vậy mà đến đường cùng, chỉ vì để có tiền làm ma cho con, chủ sở hữu phải dứt ruột bán cây khèn ấy.

Khi những linh vật, báu vật biến mất khỏi không gian văn hóa tộc người thì chuyện gì sẽ xảy ra? Đương nhiên là nếp sống của sắc tộc bị xáo trộn. Những chậu, xô nhựa lớn nhỏ, đủ các màu, những cái thìa kim loại, những ghế đỏ, bát sứ, nồi nhôm… được mang về từ miền xuôi trở nên vô hồn, trơ khấc, ngượng nghịu như kẻ vào lạc nhà. Đêm không có bờ rào đá che chắn, gió thốc từ thung lũng lên, lùa vào căn nhà trống trải, người ta lạnh không ngủ được. Hắn như con bù nhìn sau vụ gặt, chơ vơ trên thang ruộng. Cả đêm hắn thức, nghe hồn vía đàn trâu gõ móng lộp cộp vì rét trên nền chuồng cũ.

Đến với Hồn xưa lưu lạc, người đọc được đắm mình trải nghiệm không gian đậm đặc văn hóa vùng cao. Ngoài những báu vật, linh vật lưu cữu hồn vía tộc người đã kể, còn là hội chơi núi (hội gầu tào), tục kéo vợ, là sinh hoạt lao động vẽ sáp, đi nương đi ruộng, nhuộm vải, trồng lanh, xe sợi, thêu thùa, khâu vá, xay ngô, nấu rượu, nướng thịt... Chua chát đắng nghẹn bao nhiêu trước những đặc sản văn hóa, những “hồn xưa” sắc tộc bị “lưu lạc”, “chảy máu” đến những “bảo tàng” nơi miền xuôi, đến tận America, tận đẩu đâu nữa nhằm thỏa mãn lòng tham của những kẻ trục lợi, nhằm mua vui, thỏa mãn hiếu kì của một bộ phận người.

Xuất hiện với tần số cao trong truyện là những hình ảnh so sánh liên tưởng mới lạ, độc đáo, nhiều sức gợi. Tháng giêng năm ấy ngắn củn như cái chuôi dao; Nhiều mái nhà lợp gỗ ván đã cũ, bị gió tốc ngược lên rồi hất sạch xuống suối, dễ như lúc gió sàm sỡ nghịch áo đàn bà đang ngược dốc; Hắn cầm năm triệu trong tay mà như cầm một bắp ngô; Đoàn người xếp hàng dài cõng ngói về bản trắng lóa như kiến cõng trứng chạy bão; Con Si mình lẳn như củ khoai. Chồng mới của Si không giấu ánh mắt nhìn vợ như thằng đói nhìn củ khoai nướng nóng bỏng, thơm lừng; Đàn bà đẹp như bông hoa chỉ có sắc. Mà hắn lại thích bông hoa thơm, chỉ có hoa thơm mới khiến người ta ngây ngất, choáng váng; Ánh mắt hắn bám trộm vào bắp chân trần không cuốn xà cạp của con Si như hai con vắt xanh; Con Si như bông hoa thuốc phiện. Bông hoa có tội, cái tội quyến rũ, hấp dẫn; Những ngón tay của vợ hắn khẽ động đậy, chúng từ từ bóp chặt lấy tờ tiền như bóp đầu một con rắn độc... Cái “đắt” của thủ pháp so sánh quen thuộc ở đây là, tất cả đối tượng được chọn làm cái so sánh đều mang đến bất ngờ thú vị, đều gần gũi, thân thuộc với cuộc sống lao động, sinh hoạt của đồng bào vùng cao, đều đẫm trĩu thần thái, linh hồn xứ sở.

Hình ảnh ông khách miền xuôi sau cuộc mua bán mãn nguyện ra về với Tiếng xe nổ giòn giã, khói phụt đen ngỏm cả con dốc đá dài chênh vênh. Khói nhuộm đen cả những chùm mây trắng nõn đang dùng dằng dắt nhau lên núi Rồng vừa là hình ảnh thực, vừa là hình ảnh biểu tượng. Văn hóa miền xuôi, văn hóa ngoại quốc như một con ác thú khổng lồ đang tấn công, phụt cái nọc độc của nó phá hủy, làm vẩn đục bầu sinh quyển hoang sơ, thuần khiết của văn hóa tộc người. Lâu nay, ở đâu đó có sự đánh đồng, đánh tráo khái niệm. Người ta cứ tưởng hàm lượng văn hóa nơi một vùng miền mặc nhiên tỉ lệ thuận với chỉ số kinh tế của vùng miền đó. Văn hóa sẽ cười nhạo những ai ngớ ngẩn định vị đẳng cấp cao thấp, sang hèn, tân thời lạc hậu cho nó. Nó chỉ đơn giản là nó, là dung môi sinh tồn, là cốt cách tinh thần của một cộng đồng. Mọi vật dụng, nhỏ như cái thìa gỗ và lớn như cái thùng đập lúa, mọi con vật, đồ vật, hoa màu thân thiết đều gắn bó máu thịt, đều nồng nực mùi mồ hôi của bao thế hệ gia đình, đều nhuốm phủ hồn vía tiên tổ giống nòi. Chúng thuộc về các cộng đồng sắc tộc nhỏ bé nhưng tài hoa, có đời sống tinh thần trường tồn, bất diệt. Vừa được cải thiện, nâng cao đời sống kinh tế, vừa được bảo lưu bản sắc văn hóa tộc người, đang là khát vọng mãnh liệt của đồng bào vùng cao.

Hồn xưa lưu lạc được kiến dệt bằng một kĩ thuật tự sự khá nhuần nhuyễn, điêu luyện. Tình huống truyện sáng tạo, độc đáo. Không khí truyện quánh đặc phong vị vùng cao; chi tiết chọn lọc, giàu sức dung chứa; hệ thống tình tiết được bài trí, dẫn dắt hợp lí, giàu kịch tính; cảnh được dựng, tả giàu chất “xi-nê”; tâm lí nhân vật được miêu tả tinh tế, có sự dịch chuyển điểm nhìn bên ngoài - bên trong, phối hợp ngôn ngữ gián tiếp - nửa trực tiếp linh hoạt... Đây là truyện ngắn thành công về đề tài dân tộc miền núi



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo