Vững vàng thế trận quốc phòng nơi cực Tây Nam Bộ

Thứ năm - 01/09/2016 13:58
Đại tá Đàm Kiến Thức
Đại tá Đàm Kiến Thức
Kiên Giang được nhiều người biết đến là vùng đất văn hoá và du lịch nổi tiếng ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, là quê hương của thi sĩ Đông Hồ, là nơi phát tích của Tao Đàn Chiêu Anh Các vang bóng một thời. Cảnh đẹp của Kiên Giang thuở xưa từng được ca ngợi qua Hà Tiên thập vịnh và đến ngày nay Kiên Giang vẫn là nơi du khách thập phương tìm về với những danh lam thắng cảnh như: Hòn Phụ Tử, đảo Phú Quốc, núi Hà Tiên… Tham gia vào phát triển kinh tế du lịch trọng điểm của mảnh đất cực Tây Tổ quốc, vừa là niềm tự hào cũng là trách nhiệm nặng nề của những người lính thuộc Lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh Kiên Giang. Tạp chí Văn nghệ Quân đội vừa có cuộc trò chuyện với đồng chí Đại tá Đàm Kiến Thức, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự (BCHQS) Tỉnh.
 
PV: Kính thưa đồng chí Chỉ huy trưởng! Kiên Giang là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, cũng là mảnh đất có bề dày lịch sử văn hóa và là điểm đến của du khách thập phương. Để mở đầu cuộc trao đổi hôm nay xin đồng chí cho bạn đọc Văn nghệ Quân đội được biết những nét đặc trưng nhất trong lịch sử xây dựng, chiến đấu qua các thời kì của LLVT tỉnh Kiên Giang?
Đại tá Đàm Kiến Thức: Đúng như các anh đã hình dung, Kiên Giang là vùng đất có bề dày truyền thống cách mạng từ những ngày đầu kháng chiến. Nhưng cũng xin cung cấp thêm, ngay sau khi triều đình Huế kí hòa ước 1862, Kiên Giang đã từng là mật khu của anh hùng Nguyễn Trung Trực thời chống Pháp. Trong cuộc tấn công quân Pháp ấy, nghĩa quân đã chiếm được đồn, tiêu diệt được 5 viên sĩ quan Pháp, 67 lính, thu trên 100 khẩu súng cùng nhiều đạn dược và làm chủ tình hình được 5 ngày liền. Đây là lần đầu tiên lực lượng nghĩa quân đánh đối phương ngay tại trung tâm đầu não của tỉnh và giành chiến thắng vang dội. Cách mạng tháng Tám thành công, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Khu ủy Khu 9, Hà Tiên và Rạch Giá, mỗi tỉnh tổ chức một Đại đội Cộng hòa vệ binh, với quân số gần 100 người chuẩn bị lực lượng vũ trang bảo vệ chính quyền và thành quả cách mạng. Ngay sau khi được thành lập, ngày 10/9/1945, Đại đội Cộng hòa vệ binh tỉnh Rạch Giá ra quân đánh trận đầu đã giành được thắng lợi lớn: xóa sổ đồn lính Nhật, bắt sống và tiêu diệt 27 tên, thu toàn bộ vũ khí, trang bị. Với sự kiện này, ngày 10/9/1945 đã được chọn và được công nhận là ngày thành lập và cũng là ngày truyền thống của LLVT tỉnh Kiên Giang.

PV: Với một bề dày lịch sử truyền thống như thế, quân và dân Kiên Giang đã bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ vô cùng hào hùng. Hẳn đồng chí Chỉ huy trưởng không thể không xúc động trước những chiến công vang dội của thế hệ cha anh?
Đại tá Đàm Kiến Thức: Vâng! Đúng như vậy. Xuyên suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, LLVT Kiên Giang đã đoàn kết sát cánh cùng nhân dân, đẩy mạnh các hình thức chiến tranh du kích, đồng thời phối hợp với các đơn vị của Quân khu tổ chức các trận đánh lớn, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Tiêu biểu như các trận: Ngã ba Di Hạn (Gò Quao) ngày 27/02/1946, Cây Bàng (U Minh Thượng) ngày 13/6/1946, Cờ Trắng (Hà Tiên) ngày 10/4/1947, Sóc Xoài (Hòn Đất) ngày 4/8/1948... Giai đoạn 1953 - 1954, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, LLVT Kiên Giang đã phối hợp tiến công, bao vây tiêu diệt nhiều đồn, bốt địch. Nổi bật là chiến thắng Bàu Môn và chiến thắng Xẻo Rô trong tháng 3/1954, giải phóng hoàn toàn quận An Biên. Đây cũng là quận đầu tiên ở Phân liên khu miền Tây được giải phóng, đồng thời phối hợp xây dựng và bảo vệ vững chắc căn cứ kháng chiến của Khu 9.
Hơn 20 năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Kiên Giang là chiến trường hết sức ác liệt. Địch ra sức bình định lấn chiếm hòng tiêu diệt căn cứ U Minh và ngăn chặn tuyến đường vận chuyển chiến lược của ta (Đường 1C). Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, LLVT tỉnh tiếp tục được xây dựng lớn mạnh cả về tổ chức và quy mô, trang bị và cách đánh. Vừa hỗ trợ đấu tranh chính trị của nhân dân, vừa tổ chức các trận đánh tiêu diệt địch, giữ vững và mở rộng vùng căn cứ U Minh. Sự ra đời của Tiểu đoàn 207 ngày 20/7/1960 và tiếp sau là Tiểu đoàn 519 ngày 19/5/1972 đã thể hiện rõ ý chí, quyết tâm chính trị của Đảng bộ, quân và dân Kiên Giang trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Những chiến thắng oanh liệt như trận Xẻo Rô (An Biên) ngày 30/10/1959, Kè Một (Vĩnh Thuận) ngày 24/5/1962, Cái Đuốc (Giồng Riềng) ngày 27/10/1963… là niềm tự hào của quân và dân Kiên Giang và là nỗi ám ảnh, khiếp sợ của kẻ thù. Đặc biệt, trận đánh 78 ngày đêm phá vây Ba Hòn (Hòn Đất) có ý nghĩa lịch sử hào hùng và từng đi vào văn học với tiểu thuyết Hòn Đất của Nhà văn Anh Đức. Trải qua bao gian khổ, hi sinh, LLVT Kiên Giang đã cùng với nhân dân lần lượt đánh bại các âm mưu “bình định lấn chiếm”, gom dân lập “Ấp chiến lược”, chiến dịch “nhổ cỏ U Minh”… góp phần cùng cả nước đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mĩ - Ngụy, làm nên Đại thắng mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

 
Hình 2
Huấn luyện dân quân tự vệ ở huyện đảo Phú Quốc-Ảnh: Huỳnh Thúc Đình

PV: Có thể thấy Kiên Giang là một trong những địa phương có lực lượng tham gia trên khắp các chiến trường. Với mấy chục năm chiến tranh liên miên như thế, có lẽ hậu quả của thời khói lửa vẫn còn rất nặng nề và đó cũng là một phần trách nhiệm và nghĩa vụ của những người lính LLVT tỉnh hôm nay với lịch sử, với các thế hệ đi trước?
Đại tá Đàm Kiến Thức: Vâng! Con số này không ai muốn tổng kết nhưng những mất mát hi sinh của đồng chí đồng bào luôn là nỗi đau không ai được phép lãng quên. Sau chiến tranh, Kiên Giang có hơn 80.000 người thuộc đối tượng chính sách và gia đình có công với cách mạng. Trong đó có hơn 14.000 liệt sĩ, hơn 9.000 thương binh, bệnh binh và còn rất nhiều liệt sĩ nằm lại chiến trường vẫn chưa tìm được phần mộ. Chính vì vậy, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội để đền đáp sự cống hiến, hi sinh của các thế hệ cha anh đi trước luôn được xác định là trách nhiệm, là nghĩa vụ thiêng liêng và là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi cán bộ, chiến sĩ LLVT Kiên Giang hôm nay. Chấp hành quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, năm 2001 - Đội chuyên trách tìm kiếm, cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ (Đội K92) thuộc BCHQS tỉnh được thành lập và đi vào hoạt động. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao độ, Đội K92 đã có nhiều nỗ lực, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thiêng liêng được Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao cho. Qua hơn 10 năm thực hiện nhiệm vụ, bước chân tìm đồng đội của cán bộ, chiến sĩ Đội K92 đã đi qua hơn 150 xã thuộc 21 huyện, thành phố trên địa bàn 4 tỉnh Kampot, Kep, Kohkong và Sihanoukville - vương quốc Campuchia. Đội K92 đã tìm kiếm, cất bốc, quy tập, hồi hương an táng 2.171 hài cốt liệt sĩ hi sinh trên đất bạn. Cùng với đó, công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ hi sinh trên địa bàn tỉnh trong những năm qua cũng thu được kết quả quan trọng. Qua các đợt tìm kiếm tại Trại giam Phú Quốc, rừng tràm Ban Biện Phú huyện Vĩnh Thuận, địa bàn huyện Kiên Lương, Châu Thành, thị xã Hà Tiên… đã cất bốc và quy tập được 1.760 hài cốt liệt sĩ, nâng tổng số quy tập trong và ngoài nước thời gian qua lên đến 3.931 mộ liệt sĩ.
Mặt khác, công tác giải quyết chính sách cho các đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến đã được triển khai thực hiện hiệu quả. Theo đó, cơ quan quân sự các cấp trong tỉnh đã xác lập, thẩm định, báo cáo hồ sơ và tiếp nhận, tổ chức chi trả trợ cấp cho 22.151 đối tượng chính sách với tổng số tiền trên 100 tỉ đồng. Trong thời gian qua, LLVT tỉnh cũng đã tập trung thực hiện tốt phong trào Đền ơn đáp nghĩa ở địa phương do Bộ Tư lệnh Quân khu 9 phát động. Từ năm 2007 đến nay, các cơ quan, đơn vị LLVT tỉnh đã tranh thủ sự ủng hộ của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh, đồng thời vận động trong cán bộ, chiến sĩ và trích từ nguồn quỹ tăng gia sản xuất của đơn vị được hơn 46 tỉ đồng. Với nguồn vốn trên, LLVT tỉnh đã xây dựng 1.088 Nhà tình nghĩa, Nhà đồng đội và Nhà đại đoàn kết tặng các gia đình chính sách, gia đình cán bộ, chiến sĩ LLVT qua các thời kì chiến tranh và cán bộ quân đội tại ngũ gặp khó khăn về nhà ở. Các Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh nặng được chính quyền và nhân dân chăm lo, phụng dưỡng.

PV: Hiểu biết sâu sắc truyền thống để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ luôn là một nét đẹp văn hóa của người chiến sĩ, trong đó có người chiến sĩ Kiên Giang. Với đặc điểm là một tỉnh cực Tây Nam Bộ, LLVT Kiên Giang có thuận lợi và khó khăn gì trong công tác quân sự địa phương, thưa đồng chí?
Đại tá Đàm Kiến Thức: Kiên Giang là tỉnh biên giới cực Nam của Tổ quốc, địa hình đa dạng, phức tạp, vừa có đồng bằng vừa có rừng núi và biển đảo. Trên vùng biển của tỉnh Kiên Giang có 143 hòn đảo lớn nhỏ thuộc 5 quần đảo: Hải Tặc, Bà Lụa, Nam Du, Thổ Chu, An Thới, trong đó 43 đảo có dân sinh sống. Xuất phát từ vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên mang tính đặc thù, nên tỉnh Kiên Giang được xem như một nước Việt Nam thu nhỏ. Do vậy, Kiên Giang giữ vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng như cả nước. Lịch sử tỉnh Kiên Giang gắn liền với lịch sử phát triển vùng đất Nam Bộ và lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc. Người dân Kiên Giang chân chất, hiền hòa, khí chất hào sảng, có truyền thống yêu nước nồng nàn với những danh nhân đã đi vào lịch sử như Mạc Cửu, Nguyễn Trung Trực, Chị Sứ… Kiên Giang cũng là địa phương giàu truyền thống văn hóa, với những tên đất, tên làng thấm đẫm thi ca như Hà Tiên, Ba Hòn, Miệt Thứ, U Minh Thượng… trong đó, U Minh Thượng là vùng căn cứ của Quân khu 9 trước đây và là quê hương của cố nhà văn Sơn Nam, người được mệnh danh là “nhà Nam Bộ học”. Từ đặc thù ấy, chúng tôi luôn xác định phải khơi dậy, giữ vững và bồi đắp không ngừng tố chất tốt đẹp của quê hương, đặc biệt là những tố chất, đặc trưng về tinh thần quả cảm, đấu tranh trong kháng chiến. Điều đó giúp mỗi con người trong đó có người chiến sĩ trưởng thành hơn trong cuộc sống và cũng là những thuận lợi cơ bản hôm nay. Tuy nhiên, là tỉnh biên giới, biển đảo, địa bàn rộng, dễ chia cắt nên yêu cầu nhiệm vụ quân sự - quốc phòng đặt ra cho LLVT tỉnh sẽ nặng nề, khó khăn và phức tạp hơn. Với 2 cửa khẩu (1 quốc tế, 1 quốc gia) trên địa bàn, ngoài thế mạnh phát triển kinh tế thì tình hình tội phạm trên các tuyến biên giới cũng ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự. Là lực lượng quân sự nơi tuyến đầu Tổ quốc, chúng tôi luôn xác định tình huống tác chiến có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Trong những năm qua, BCHQS đã tham mưu cho Tỉnh thực hiện tốt công tác quốc phòng, an ninh, xây dựng tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc.

PV: Là một tỉnh vừa có biên giới trên bộ, vừa có biên giới biển và tiếp giáp với nhiều quốc gia trong khu vực, vậy công tác đối ngoại quân sự của LLVT Kiên Giang có gì đặc biệt, thưa đồng chí?
Đại tá Đàm Kiến Thức: Kiên Giang có đường biên giới chung với vương quốc Campuchia dài 56km, bờ biển dài trên 200km tiếp giáp với vùng biển các nước Campuchia, Thailand và Malaysia. Trước đây, trong thời gian làm nhiệm vụ quốc tế cao cả (1979 - 1989), LLVT Kiên Giang đã cùng quân và dân Campuchia đoàn kết chiến đấu, đẩy lùi và tiến tới tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng tỉnh Kampot. Sau ngày hòa bình, phát huy tinh thần đoàn kết gắn bó giữa hai dân tộc, BCHQS Kiên Giang đã tổ chức kết nghĩa với 4 tỉnh bạn là Kampot, Kep, Kohkong, Sihanoukville và các lực lượng vũ trang khác, góp phần củng cố, xây dựng chính quyền, đoàn thể, phát triển kinh tế và giữ vững trật tự xã hội. Trong những năm qua, BCHQS tỉnh đã thường xuyên tổ chức giao ban biên giới với tỉnh Kampot - Campuchia, cấp huyện mỗi quý một lần, cấp xã mỗi tháng một lần để nắm bắt, trao đổi tình hình giữa ta và bạn. Ngoài ra chúng tôi còn thiết lập đường dây nóng với tỉnh bạn để cập nhật thông tin, góp phần giữ vững an ninh trật tự khu vực biên giới. Trong năm 2015 vừa qua, BCHQS đã tham mưu cho UBND tỉnh hỗ trợ lực lượng vũ trang bạn sửa chữa doanh trại với số tiền trên 1.5 tỉ đồng. Các ngày lễ, tết của hai nước chúng tôi đều tổ chức thăm viếng lẫn nhau và phối hợp tạo điều kiện cho bà con Việt kiều qua lại, thăm thân nhân. Qua đó tăng cường tình đoàn kết, gắn bó giữa chính quyền và nhân dân hai tỉnh, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

PV: Chúng ta luôn nói đến việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng gắn với việc phát triển toàn diện, bền vững của địa phương. Với Kiên Giang, vấn đề này được đặt ra và giải quyết như thế nào?
Đại tá Đàm Kiến Thức: Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của LLVT Kiên Giang. Hàng năm, bằng nhiều giải pháp, Kiên Giang luôn tập trung nâng cao chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh. Đảng ủy - BCHQS tỉnh đã làm tốt vai trò tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án quy hoạch xây dựng khu vực phòng thủ giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; đồng thời xây dựng, triển khai đồng bộ hệ thống các đề án thuộc lĩnh vực quân sự - quốc phòng, trong đó trọng tâm là Đề án bảo đảm quốc phòng giai đoạn 2015 - 2020, định hướng đến năm 2030 và Đề án xây dựng các điểm dân cư tập trung, bố trí việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới đến năm 2020. Tập trung mọi nỗ lực đầu tư xây dựng các công trình chiến đấu trên các hướng, địa bàn trọng điểm, đảm bảo thế trận quân sự liên hoàn, vững chắc, hiểm hóc và có chiều sâu. Phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng đẩy mạnh các hoạt động tuần tra truy quét tội phạm, giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Công tác bồi dưỡng, giáo dục, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng tiếp tục đi vào nền nếp, hoàn thành 100% chỉ tiêu kế hoạch. Qua đó, đã từng bước nâng cao nhận thức, kiến thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức và nhân dân tỉnh nhà đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

PV: Và những giải pháp căn cơ trong công tác tuyển chọn công dân nhập ngũ, công tác huấn luyện của địa phương được tiến hành cụ thể ra sao, thưa đồng chí?
Đại tá Đàm Kiến Thức: Hàng năm, Đảng ủy - BCHQS tỉnh đã tham mưu và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hoàn thành tốt chỉ tiêu tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ. Năm 2015 vừa qua, Kiên Giang đã đưa 1.300 thanh niên ưu tú lên đường nhập ngũ, chất lượng đảng viên, phẩm chất chính trị, trình độ văn hoá và sức khoẻ của thanh niên trúng tuyển nghĩa vụ quân sự đều được nâng lên. BCHQS tỉnh tiếp tục chỉ đạo điều chỉnh, kiện toàn tổ chức biên chế lực lượng thường trực theo hướng ưu tiên cho các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị làm nhiệm vụ trên các địa bàn trọng yếu và đảm bảo quân số, trang bị kĩ thuật cho việc thành lập Đoàn Kinh tế Quốc phòng 915 đi vào hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ. Lực lượng dự bị động viên được phúc tra, đăng kí, quản lí chặt chẽ, gọn địa bàn, tiện động viên. Lực lượng dân quân tự vệ trong toàn tỉnh được xây dựng, điều chỉnh phù hợp với tình hình địa bàn và yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu phòng thủ.
Đi đôi với việc điều chỉnh, kiện toàn lực lượng, BCHQS tỉnh tập trung chỉ đạo huấn luyện theo hướng đồng bộ và chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu và nhiệm vụ của từng đơn vị, phù hợp với đặc điểm địa bàn và đối tượng tác chiến. Kết quả huấn luyện các đối tượng đảm bảo 100% đạt yêu cầu, trong đó tỉ lệ khá giỏi chiếm 79,39%. Công tác diễn tập tiếp tục được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, có nhiều chuyển biến tiến bộ.

PV: Có thể khẳng định, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, LLVT Kiên Giang ngày càng trưởng thành vững chắc một cách toàn diện, góp phần thiết thực giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng quê hương. Trong những ngày tháng Tám mùa thu lịch sử này, ôn lại truyền thống hào hùng, hẳn đồng chí Chỉ huy trưởng tâm đắc với nhiều việc đã, đang, và sẽ làm trên chặng đường mới hôm nay?
Đại tá Đàm Kiến Thức: Hơn 70 năm trôi qua, với chặng đường nhiều khó khăn thử thách nhưng cũng rất vẻ vang, LLVT Kiên Giang luôn nhận thức rõ trách nhiệm của mình, phấn đấu lập nhiều thành tích, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Với những chiến công oanh liệt trong kháng chiến, ngày 2/10/2000 LLVT tỉnh Kiên Giang đã vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là nguồn cổ vũ, động viên các thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT Kiên Giang hôm nay và mai sau không ngừng nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, để luôn xứng đáng với thế hệ đi trước, xứng đáng với truyền thống “Trung thành, đoàn kết, sáng tạo, quyết chiến, quyết thắng”.

 
PHẠM VĂN ĐẢNG ghi
 
 

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo