Tháng Bảy trên “tuyến lửa” năm xưa

Thứ bảy - 22/07/2017 13:43
IMG 3635
Trung tướng Võ Văn Việt
Tháng 7, tháng tưởng niệm, tri ân những người đã hi sinh, cống hiến máu xương cho Tổ quốc. Tháng 7 năm 2017, càng có ý nghĩa đặc biệt khi cả nước kỉ niệm 70 năm Ngày thương binh, liệt sĩ. Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã tổ chức một chuyến đi vào Quân khu 4, nơi có những địa danh nổi tiếng được coi như biểu tượng của lòng dũng cảm, ý chí bất khuất và sự hi sinh to lớn của chiến sĩ và nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước như Truông Bồn, Ngã ba Đồng Lộc, Hang Tám cô, Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Đường Chín, Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Thành cổ Quảng Trị…
 
Trên chặng đường đến với các địa chỉ đỏ đó, chúng tôi đã tới thăm Bảo tàng Quân khu 4 và hết sức xúc động khi bước vào không gian Nhà trưng bày các di vật của liệt sĩ. Không thể diễn tả hết cảm xúc của những người cầm bút mang áo lính khi đứng trước các hiện vật bình dị của nhiều người lính ra đi từ mái tranh nghèo như lời bài hát Màu hoa đỏ (Thuận Yến - Nguyễn Đức Mậu) đã được đem về từ hành trình Đi tìm đồng đội hết sức gian nan của cán bộ, chiến sĩ ta sau chiến tranh.

Đó là một không gian chẳng mấy bao la mà chứa đựng cả trời - đất, âm - dương, sống - chết. Một nửa là bầu trời, một nửa là lòng đất. Một nửa là cõi âm, một nửa là dương thế. Một nửa là sự sống, một nửa là cái chết. Chiến tranh đi qua đã mấy mươi năm rồi mà dư âm của nó vẫn còn rền rã trong lòng dân tộc với những cung bậc đầy nhạy cảm, chỉ cần chạm khẽ vào hồi ức kỉ vật của một thời máu lửa là ngân rung thăm thẳm. Và, người lính, với muôn vàn số phận khác nhau đi qua cuộc chiến tàn khốc lâu dài ấy hình như chưa muốn khuất lấp trong lớp bụi thời gian vô cảm dày đặc mà vẫn còn muốn trò chuyện với cuộc sống hôm nay.

Một cuộc trò chuyện trong lặng im giữa bầu trời còn ám khét khói bom với lòng đất tối đen lạnh lẽo, giữa quá khứ họ đã từng sống với hiện tại họ đã chết, và quan trọng hơn là giữa những người lính đã anh dũng hi sinh vì Tổ quốc với chúng ta… Thực lòng, tôi không muốn diễn đạt rắc rối sự việc như vậy mà chỉ muốn được giãi bày một chút cảm nhận của mình trong cái không gian đầy chất tưởng niệm này. Trước mắt tôi bây giờ là những giọt nước mắt của mẹ chảy từ trời xuống. Ngọn lửa bất tử rừng rực cháy khôn nguôi. Những bông hồng đặt chéo trên những nấm mộ chiến sĩ tượng trưng.

Mỗi di vật, hiện vật ở đây đều gắn với cuộc đời gian nan và những mất - còn của người lính. Phần lớn nó được đào lên từ lòng đất ẩm ướt hay cỗi cằn của những chiến trường xưa cùng với hài cốt chiến sĩ. Vì thế mà nó trở nên thiêng liêng như linh hồn người lính trận.

Nỗi rưng rưng ấy đã được kéo dài, nhân lên trong cuộc chuyện trò của chúng tôi với Trung tướng Võ Văn Việt, Chính ủy Quân khu 4.

PV: Thưa đồng chí Trung tướng Chính ủy Quân khu 4. Trước khi trở lại đây để trò chuyện với đồng chí, chúng tôi đã đến viếng và thắp hương ở mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các liệt sĩ chúng ta ở Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Đường Chín, Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Thành cổ Quảng Trị…, thả hoa ở bến sông Thạch Hãn. Ở đâu chúng tôi cũng được chứng kiến tình cảm sâu nặng của nhân dân ta dành cho các liệt sĩ. Chưa đến ngày 27 tháng 7 nhưng nhiều đoàn đã đến viếng, thắp hương cho liệt sĩ. Tôi nghĩ, tình cảm thiêng liêng này đã có từ lâu, suốt bảy mươi năm qua và cho đến bây giờ vẫn sâu sắc, khôn nguôi. Vùng miền nào, cán bộ và nhân dân ta đều dành cho các liệt sĩ thương binh nhiều tình cảm. Tuy nhiên, với Quân khu 4, qua các nguồn thông tin chúng tôi được biết các đồng chí làm rất tốt công tác đền ơn đáp nghĩa. Có phải, đây vừa là nghĩa vụ trách nhiệm vừa là tình cảm rất sâu nặng của cán bộ chiến sĩ Quân khu…
Trung tướng Võ Văn Việt: Trước khi bàn về chuyện đền ơn đáp nghĩa với các liệt sĩ, thương binh của cán bộ, chiến sĩ Quân khu 4 tôi xin kể lại một kỉ niệm dù bản thân rất ngại nói về mình. Đó là, trong buổi bảo vệ luận văn về quy tập hài cốt liệt sĩ ở Lào về nước của tôi tại Học viên Chính trị Quân sự, tôi đã xúc động rơi nước mắt nhiều lần. Bởi cứ nghĩ đến sự hi sinh của chiến sĩ và nhân dân ta trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm tôi lại trào dâng cảm xúc. Càng tự hào bao nhiêu với tinh thần yêu nước của dân tộc ta càng xót xa bấy nhiêu trước sự mất mát hi sinh không kể xiết của nhiều thế hệ. Đúng là, Cuộc sinh nở nào đau đớn vậy/ Rất tự hào mà, mà xót tận trong da…như nhà thơ Tố Hữu đã viết. Tôi lại nghĩ tới anh em của mình, những người không quản gian khổ hiểm nguy, đêm ngày vượt núi băng sông đi tìm đồng đội. Sau chiến tranh, rất nhiều hài cốt liệt sĩ còn nằm đâu đó trên các vùng miền trong nước và ở Lào, Campuchia mà chúng ta dù rất cố gắng vẫn chưa thể quy tập hết. Buổi bảo vệ luận văn đã bị ngắt quãng nhiều lần bởi không ít lần tôi đã nghẹn ngào khi nói về những điều như vậy.
Quân khu 4, như các anh đã biết, đấy là vùng đất thiên tai khắc nghiệt, hạn hán, bão lũ nối nhau hoành hành, bị sự tàn phá nặng nề của hai cuộc chiến tranh do thực dân Pháp và đế quốc Mĩ gây nên. Vùng đất Bắc miền Trung này trong chiến tranh chống Mĩ vừa là hậu phương, vừa là tiền tuyến; vừa là phía sau vừa là phía trước; vừa làm nhiệm vụ gián tiếp vừa trực tiếp chiến đấu; vừa làm nhiệm vụ trong nước vừa thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả do Đảng và Quân đội giao phó. Đây chính là nơi trung chuyển con người, hàng hóa, vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam, là cái gạch nối thiêng liêng giữa hậu phương lớn với tiền tuyến lớn. Bởi thế, chúng ta không lấy làm lạ là trong cuộc chiến tranh phá hoại của Mĩ ở miền Bắc thì Quân khu 4 bị oanh tạc, phá hoại nặng nề nhất. Cũng như do vị trí địa chính trị đặc biệt mà Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế trở thành những chiến trường rất ác liệt, vô cùng tàn khốc trong chiến tranh chống Mĩ. Thời đó, Quân khu 4 gánh trên vai nhiệm vụ rất nặng nề và đa dạng. Sự hi sinh mất mát của chiến sĩ và nhân dân ta trong các cuộc kháng chiến là vô cùng to lớn, nếu không muốn nói là không kể xiết. Mỗi gia đình, từng thôn xóm… ở đâu cũng có người hi sinh, nơi nào cũng chịu hậu quả do chiến tranh để lại. Chúng tôi nhìn thấy, cảm nhận được sự hi sinh của các thế hệ đi trước bằng hiện thực sinh động trên mảnh đất này. Không có nơi nào mà số nghĩa trang liệt sĩ lại nhiều như ở Quân khu 4. Chỉ tính riêng Quảng Trị đã có 72 nghĩa trang liệt sĩ, trong đó có 2 nghĩa trang cấp quốc gia là Trường Sơn và Đường Chín cùng khu di tích lịch sử đặc biệt Thành Cổ với hàng chục nghìn bia mộ. Tình cảm đền ơn đáp nghĩa của cán bộ, chiến sĩ Quân khu 4 xuất phát từ hiện thực đó. Trong công tác đền ơn đáp nghĩa nếu nói nghĩa vụ, trách nhiệm là chưa đủ, chẳng bao giờ đủ mà phải gắn với tình cảm sâu sắc của mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đối với các thương binh, liệt sĩ. Chúng tôi thấm thía điều đó và xem đây là một điều kiện thuận lợi để giáo dục cán bộ, chiến sĩ, luôn biết ơn những người đã hi sinh, dâng hiến máu xương cho độc lập tự do của dân tộc, cho hòa bình thống nhất đất nước. Từ nhận thức biến thành hành động, cán bộ chiến sĩ Quân khu đã làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa trong mấy chục năm qua.

 
anh 7 1
Bộ Tư lệnh Quân khu thả vòng hoa tưởng niệm các liệt sĩ trên sông Thạch Hãn - Ảnh: PV

PV: Nếu tôi không nhầm thì câu nói Đi tìm đồng đội khởi phát từ mảnh đất Quân khu 4 này. Cũng như thời chống Mĩ, câu Xe chưa qua nhà không tiếc cũng bắt đầu từ đây. Khi chiến tranh vừa kết thúc, giữa bộn bề ngổn ngang của cuộc sống với muôn vàn khó khăn thiếu thốn, Quân khu 4 đã có những đội quy tập hài cốt liệt sĩ. Họ, những người lính thời bình, ba lô trên vai, cuốc xẻng trong tay và không bao giờ quên mang theo những nén hương vượt núi băng rừng sang nước bạn đi tìm đồng đội. Nhờ thế, nhiều đồng đội đã được quy tụ về các nghĩa trang liệt sĩ trong nước. Một việc làm đầy nhân văn nhưng cũng không kém phần gian nan nguy hiểm…
Trung tướng Võ Văn Việt: Quy tập hài cốt liệt sĩ sau chiến tranh là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Với Quân khu 4, từ năm 1981 chúng tôi đã tổ chức các đội quy tập hài cốt liệt sĩ. Trên địa bàn Quân khu và nước bạn Lào còn rất nhiều hài cốt liệt sĩ chưa tìm thấy. Đây là một thử thách rất lớn đối với cán bộ chiến sĩ chúng tôi, đặc biệt là những đồng chí trực tiếp làm nhiệm vụ đi tìm đồng đội.
Khó khăn lớn nhất của công tác quy tập liệt sĩ là thông tin ít, thiếu và nhiều khi độ tin cậy không cao. Ở Lào, số hài cốt liệt sĩ chúng ta tìm thấy thường nhiều hơn thông tin nắm được. Lí do, nguồn thông tin cung cấp là một, hoặc một số liệt sĩ, nhưng thực tế khi tìm kiếm thì phát hiện được cả mộ tập thể, có hang núi nhiều liệt sĩ hi sinh và khu an táng nhiều liệt sĩ của các đơn vị khác nhau. Hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mĩ qua lâu rồi nên địa hình, cảnh vật nơi chôn cất liệt sĩ đã thay đổi nhiều. Có một trường hợp cảm động thế này. Theo thông tin từ đồng đội cũ, liệt sĩ khi hi sinh được chôn cất tại một vùng đất ở Lào và được đánh dấu bằng cách trồng một gốc tre bên cạnh. Đội tìm hài cốt liệt sĩ hành quân đến vị trí đó thì thấy cả một rừng tre bạt ngàn. Địa danh, địa hình không đổi thay mấy chỉ có rừng tre là khác. Hóa ra, gốc tre trồng gần mộ liệt sĩ sau mấy chục năm dằng dặc, mưa nắng nối nhau đã phát triển thành rừng tre rậm rạp. May mắn là chuyến đi ấy, tuy phải lần tìm vất vả, anh em ta cũng lấy được hài cốt của liệt sĩ. Cái khó nữa, là nhân chứng ngày càng ít đi và theo tuổi tác ngày càng cao trí nhớ cũng kém phần minh mẫn. Có trường hợp, bộ đội ta phải võng theo cả nhân chứng vì các ông, các cụ đã già yếu. Mà phần lớn mộ liệt sĩ ta ở Lào chủ yếu nằm ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao hoang vu, đi lại rất khó khăn. Đó là chưa nói tới sự cản trở của kẻ xấu và những khó khăn khác như thời tiết, điều kiện ăn uống, sinh hoạt. Từng loại thực phẩm khi mua, kể cả nguồn nước uống cũng phải được kiểm tra cẩn thận.

PV: Qua lời kể của đồng chí Chính ủy, chúng tôi đã hình dung ra được những khó khăn mà anh em ta phải chịu đựng, phải vượt qua khi đi tìm hài cốt liệt sĩ. Nếu chỉ đọc mấy con số khô khan về số hài cốt liệt sĩ được tìm thấy và quy tập về trên báo cáo hay báo chí chắc chúng ta không thấm thía hết những gian lao của những người đi tìm đồng đội. Trong hành trình đi tìm và quy tập hài cốt liệt sĩ của bộ đội ta, có những trường hợp nào làm đồng chí Chính ủy phải day dứt, trăn trở nhiều nhất?
Trung tướng Võ Văn Việt: Như trên tôi đã nói, công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đã được thực hiện bởi tình cảm và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ Quân khu 4. Mà không tình cảm và trách nhiệm sao được khi ta được chứng kiến sự hi sinh của cha anh trong chiến tranh. Tôi không cầm được nước mắt khi nghe thông tin về những ngôi mộ liệt sĩ tập thể ở Cam Lộ, Quảng Trị… Một đơn vị bộ đội đánh vào trận địa pháo của địch ở gần Tân Lâm (Cam Lộ) bị hi sinh nhiều đồng chí. Địch đã dùng máy ủi đào hào rồi kéo xác anh em ta xuống đó lấp lại. Năm 2009, bằng nhiều nguồn thông tin trong đó có thông tin của các cựu chiến binh Mĩ chúng ta đã tìm ra và khai quật ngôi mộ tập thể này. Tết Mậu Thân năm 1968, bộ đội ta đánh vào Chi khu quân sự Cam Lộ cũng hi sinh nhiều (theo số liệu là 108 đồng chí). Nhân dân trong vùng kể lại, địch cũng dùng máy ủi đào một con hào vừa sâu, vừa rộng kéo xác anh em ta xuống đó, tưới xăng đốt, rồi lấp lại. Chúng còn dùng tấm ri sắt rải lên trên làm bãi đáp máy bay trực thăng. Sau chiến tranh mười mấy năm, dân đào hố trồng cây phát hiện ra, báo cho Ban chỉ huy quân sự huyện Cam Lộ và tỉnh Quảng Trị. Hài cốt anh em ta đã được bốc lên và quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Đường Chín thành ngôi mộ tập thể. Điều xót xa nhất là chúng tôi không thể phân biệt được hài cốt của từng người.
Đấy là chuyện của quá khứ tuy chưa xa mấy. Còn bây giờ, công việc quy tập hài cốt liệt sĩ còn rất nặng nề. Theo đề án 1.237, thì ở Quân khu 4 có khoảng 3.000 hài cốt liệt sĩ ta chưa tìm thấy và quy tập được. Ở 10 tỉnh, thành phố của nước bạn Lào có khoảng 1000 hài cốt liệt sĩ ta chưa được quy tập về nước.
Còn điều này nữa, một số chiến sĩ chúng ta đã hi sinh và trở thành thương binh, bệnh binh khi đi làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ. Nơi chôn cất liệt sĩ thời chiến tranh thường là rừng sâu nước độc. Khí độc của rừng núi cộng với khí độc từ dưới lòng mộ bốc lên khi khai quật có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của anh em ta. Đó là điều khiến chúng tôi băn khoăn.

PV: Kỉ niệm 70 năm Ngày Thương binh liệt sĩ, cả nước ta đã có nhiều hoạt động thiết thực để đền ơn đáp nghĩa. Xin đồng chí Trung tướng, Chính ủy cho chúng tôi biết những việc làm và con số cụ thể của Quân khu 4 trong phong trào này.
Trung tướng Võ Văn Việt: Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Ngày Thương binh liệt sĩ và phong trào Đền ơn đáp nghĩa,  các cơ quan, đơn vị trong Quân khu cũng đã tổ chức phát động đợt thi đua cao điểm Uống nước nhớ nguồn, Đền ơn đáp nghĩa. Chúng tôi cũng đang tập trung tổ chức sưu tầm các kỉ vật về chiến tranh, kỉ vật về liệt sĩ trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Làm công tác chuẩn bị tổ chức trưng bày triển lãm kỉ vật, ảnh, sách về đề tài thương binh, liệt sĩ tiêu biểu. Đồng thời, đã triển khai các đơn vị tổ chức tuần phim hướng tới kỉ niệm 70 năm Ngày thương binh, liệt sĩ. Chúng tôi đã rà soát, xem xét, đề nghị các cấp ra Quyết định tặng 55 nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách (trong đó Bộ Quốc phòng đầu tư 8 nhà; Quân khu đầu tư 21 nhà; các cơ quan đơn vị đầu tư 26 nhà) đến nay đã khởi công xây dựng 41 nhà, còn 14 nhà sẽ bàn giao trong dịp 27/7. Chúng tôi cũng đề nghị các cấp ra quyết định tặng 8 Nhà đồng đội cho các đối tượng chính sách (Bộ cấp kinh phí 7 nhà; trích quỹ Vì người nghèo của Quân khu 1 nhà với mức 70.000.000/nhà). Hiện nay đã bàn giao 3 nhà, 6 nhà đang xây dựng, dự kiến bàn giao trước ngày 27/7; 3 nhà còn lại bàn giao sau ngày 27/7.
Triển khai xây dựng 9 Ngôi nhà 100 đồng (Ban Thanh niên Quân đội cấp kinh phí 5 nhà; Đơn vị bảo đảm kinh phí 4 nhà với mức tiền 60.000.000 đ/nhà). Hiện nay đã hoàn thành bàn giao 2 nhà, còn lại 7 nhà bàn giao sau tháng 7/2017. Xây dựng 2 Nhà mái ấm công đoàn, nghĩa tình đồng đội do Ban Công đoàn Quốc phòng cấp kinh phí. Dự kiến bàn giao sau tháng 7/2017. Tổng số nhà xây tặng các đối tượng chính sách là 74. Ngoài ra các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã đầu tư xây dựng 41 nhà tình nghĩa trên địa bàn Quân khu 4, dự kiến 100% sẽ được khánh thành, bàn giao trước ngày 27/7.
Ngoài ra chúng tôi cũng đã rà soát, đề nghị Bộ Tư lệnh Quân khu ra quyết định tặng 70 sổ tiết kiệm và 36 suất quà cho các đối tượng chính sách (trị giá 10 triệu đồng/sổ; suất quà trị giá 2.000.000 đ/suất). Chương trình  Áo lụa tặng mẹ cũng đã được triển khai thông suốt. Quân khu đã tổ chức lấy số đo và báo cáo đề nghị BQP tặng áo lụa cho 88 Bà mẹ Việt Nam anh hùng do Quân đội phụng dưỡng trên địa bàn Quân khu. Đã tiến hành lấy số đo và đặt may áo lụa để tặng 15 Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn, trị giá 2 triệu đồng/ bộ.
Theo kế hoạch đã được phê duyệt, Bệnh viện Quân Y 4 và Bệnh viện 268 tổ chức khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho các đối tượng chính sách tại 4 xã, tổng số tiền trên 341.680.000 đồng (Quân khu bảo đảm 50% kinh phí). Hiện nay các cơ quan, đơn vị đã tiến hành khám chữa bệnh cấp thuốc miễn phí kết hợp với làm công tác dân vận cho hơn 2.000 đối tượng, số tiền gần 500 triệu đồng. Phối hợp với một số bệnh viện quân đội tổ chức khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách trên địa bàn Quân khu.
Đây là những việc làm và con số cụ thể về công tác quy tập hài cốt liệt sĩ, xin được cung cấp cho các đồng chí rõ. Các đơn vị triển khai thực hiện kế hoạch tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ mùa khô năm 2016-2017 đạt kết quả tốt, bảo đảm an toàn. Đã tìm kiếm, quy tập được 200 hài cốt liệt sĩ ở Lào (đạt 114% kế hoạch đề ra) có 3 hài cốt xác định được họ, tên trong đó có 1 hài cốt xác định được đầy đủ danh tính liệt sĩ và đã quy tập được 105 hài cốt và 1 mộ tập thể ở địa bàn trong nước.
Quân khu 4 phối hợp chặt chẽ với bạn Lào tổ chức bàn giao, đón nhận và an táng hài cốt liệt sĩ ở Lào về nghĩa trang liệt sĩ các địa phương đảm bảo chặt chẽ, chu đáo. Ban chỉ đạo 1237 của Quân khu đã họp thông qua kế hoạch khảo sát của các đơn vị bảo đảm chặt chẽ.

PV: Chúng tôi thực sự cảm kích trước tình cảm và những việc làm đầy ý nghĩa của cán bộ, chiến sĩ Quân khu 4 đối với các liệt sĩ, thương binh. Thay mặt Tạp chí Văn nghệ Quân đội, xin cảm ơn Trung tướng Chính ủy Võ Văn Việt về cuộc trò chuyện này.
                                PV
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo