Phát triển Tây Nguyên: Cần phải cân đối giữa kinh tế và quốc phòng

Thứ bảy - 11/03/2017 00:01
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng Tư lệnh binh đoàn 15
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng
Tây Nguyên ơi, ai một lần qua/ Suốt một đời hồ dễ đã quên nhau… Nhắc đến Tây Nguyên không thể không nhắc đến một không gian văn hóa dày và giàu bản sắc với âm vang cồng chiêng, đàn đá, các lễ hội ấn tượng, các trường ca giàu âm hưởng anh hùng ca. Nhắc đến Tây Nguyên cũng không thể không nói đến cà phê, ca cao, hồ tiêu, cao su… Nhưng Tây Nguyên cũng là một địa danh khó phai trong lòng của rất nhiều người cả Việt Nam và Mĩ, nhất là những người lính của những ngày tháng 4 năm 1975, bởi đó là nơi diễn ra chiến dịch đầu tiên, then chốt quyết định đến trận chiến cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Tây Nguyên văn hóa, kinh tế… nhưng Tây Nguyên cũng là một địa bàn chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng.
Để hiểu rõ hơn các vấn đề về phát triển kinh tế, văn hóa kết hợp với giữ vững địa bàn chiến lược Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay, phóng viên Tạp chí VNQĐ có cuộc trao đổi với Thiếu tướng Đặng Anh Dũng - Tư lệnh Binh đoàn 15 xung quanh vấn đề này.
 

PV: Thưa Tư lệnh, đồng chí có thể nói qua một chút về Binh đoàn 15 với mảnh đất Tây Nguyên.
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng: Đầu tiên tôi muốn nói đến vai trò của Tây Nguyên.
Tôi nhớ, trong một hội thảo đâu đó khoảng vài năm trước, nhân kỉ niệm chiến thắng Buôn Ma Thuột, các chuyên gia nghiên cứu chiến lược đã nói về vai trò của Tây Nguyên. Đại ý, đây là một vùng địa chiến lược, một yếu huyệt quan trọng của Việt Nam nên phải hết sức cẩn trọng, biết cân đối với Quốc phòng trong khai thác cho mục đích kinh tế.
Đó cũng chính là lí do mà Binh đoàn 15 ra đời và đứng chân trên mảnh đất này.

PV: Được biết Tư lệnh là một trong số ít những người đang công tác gắn bó với Binh đoàn ngay từ những ngày đầu gian khó…
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng: Năm 1986, tôi cùng Trung đoàn 674/Binh đoàn 11 được Bộ điều về trực thuộc Binh đoàn 15/Quân khu 5 (Khi đó Trung đoàn 674 đang ở bên nước bạn Lào), làm nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng an ninh ở Tây Nguyên. Những ngày đầu tiên, khu vực của Binh đoàn hết sức hoang vu. Những nơi gần đường và các căn cứ của Mĩ là cỏ Mĩ, còn lại là rừng và thú dữ. Ngày ấy, công nhân ở lán thưng bằng lồ ô, dán giấy báo, lợp tranh. Có hai thứ mà ai cũng sợ đó là sốt rét và mìn. Tôi vẫn nhớ, ngày ấy chúng tôi thường xuyên phải uống thuốc chống sốt rét “phòng ba” để phòng bệnh và uống quinine khi bị sốt. Tôi đã chứng kiến anh em nhặt được đạn M79 ghè đập mãi không nổ, đến khi ném vào một thân cây bên bờ suối, đạn văng trở lại thì phát nổ. Rồi anh Thành lái xe tải đè phải mìn chống tăng. Sau tiếng nổ kinh hoàng, tất cả tan nát hết, chẳng còn gì. Sau này gia đình có nguyện vọng tìm lại mộ anh mà không thể nào tìm được. Còn ăn uống thì kham khổ vô cùng. Lâu lâu được con cá, gỡ thịt ra để ăn còn đầu và xương cho vào giã nấu canh. Sau đó dần dần cũng ổn.

PV: Và việc tìm hướng đi để làm kinh tế của Binh đoàn được bắt đầu như thế nào?
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng: Sau khi giải phóng xong, ta phá các đồn điền cao su cũ của Trần Lệ Xuân để thực hiện chương trình 31 triệu tấn lương thực trồng mì, lúa khoai… Chỉ có ở khu vực của Công ti 72, Công ti 74 giữ lại được một số. Các nông trường trồng sắn, đậu, lúa, sau đó nhập vào kho bán theo giá bao cấp. Đột phá chuyển biến nhận thức xác định cây chiến lược là cao su bắt đầu từ cuối những năm đầu 80 của thế kỉ trước. Các công ti được Tổng cục Cao su Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam) đầu tư giống, vốn, kĩ thuật... tuyển dụng công nhân để phát triển. Giai đoạn 1995 - 1998, Tư lệnh Hà Thiệu gắt gao đẩy nhanh tốc độ, quyết tâm trồng 30 nghìn ha và đó cũng là giai đoạn trồng nhiều nhất để rồi đến những năm 2000 Binh đoàn bắt đầu gặt hái thành quả.

PV: Tầm quan trọng chiến lược của Tây Nguyên không có gì phải bàn cãi, vậy vấn đề thông qua việc vừa bảo đảm về phát triển kinh tế, vừa bảo đảm về quốc phòng an ninh có phải là một ý tưởng mới sau này của chúng ta?
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng: Cha ông ta rất có kinh nghiệm trong việc làm thế nào để xác lập chủ quyền bền vững đối với một vùng đất phên dậu. Vấn đề trị an biên giới, người mà tôi ngưỡng mộ và thường xuyên đọc chính là Nguyễn Hữu Cảnh. Ông là tướng thời nhà Nguyễn, người có tư tưởng cắm rễ dân cư dọc tuyến biên giới, từ đó hình thành các làng mới với mục đích xác lập chủ quyền. Những kế sách chiêu mộ lưu dân, khuyến khích khai hoang, ổn định dân tình tạo điều kiện cho họ an cư lạc nghiệp của ông đã tạo ra những vùng dân cư trù phú tiến dần về phương Nam. Khi vào Binh đoàn 15, tôi được điều về Nông trường 702 đóng ở Đức Cơ - nơi có khu vực rừng cao su biên giới của bà Trần Lệ Xuân. Ở đây, thậm chí có một khu mộ của những người phu làm cao su. Tôi nghĩ, vấn đề phát triển cây cao su để ổn định trị an vùng chiến lược Tây Nguyên, chế độ cũ có lẽ cũng có ý đó.
Hiện nay chúng tôi cũng vậy, bài toán kinh doanh phải luôn tính đến vấn đề lợi ích kinh tế kết hợp hài hòa với vấn đề quốc phòng mà cốt lõi của nó chính là vấn đề an sinh cho bà con các làng dọc biên giới.

PV: Vâng, “làng trên đường tuần tra biên giới”, tôi đã được tới một trong số những ngôi làng ấy ở Công ti 716 và bắt gặp những ngôi nhà bằng gỗ lợp tôn rất đẹp, những con người cần cù chịu khó, ngoài thời gian làm công nhân cao su là đi trồng lúa, mì, làm kinh tế hộ. Thu nhập của họ thậm chí khá hơn công nhân dưới xuôi… Họ là những cột mốc bền vững nhất cho biên giới Tây Nguyên. Vậy những ngôi làng ấy được hình thành thế nào?
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng: Bần cư trung thị vô nhân đáo/Phú tại sơn lâm hữu khách tầm, chúng tôi xác định, muốn làm gì thì làm, phải giữ được dân. Muốn giữ được dân họ phải giàu có. Trong quá trình phát triển, quy mô Binh đoàn mỗi ngày một mở rộng, mở đến đâu chúng tôi về các địa phương tuyển người đến đó. Vì trong rừng rú hết sức khó khăn nên cùng với mô hình các đội sản xuất, các trạm quân y, trường mầm non, tiểu học, phổ thông trung học cũng được xây dựng rải đều trên các địa bàn. Tiếng lành đồn xa, rất nhiều người ở khắp các địa phương trên cả nước, đông nhất là các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hà Tây đã về đây lập nghiệp. Chúng tôi chủ trương vườn cây đến đâu, dân cư đến đó. Từ chủ trương ấy, rất nhiều làng mới dọc biên giới của công nhân Binh đoàn đã hình thành. Hộ gia đình ở các làng mới được Binh đoàn tạo điều kiện ổn định cuộc sống lâu dài bằng cách quy hoạch các vườn cây đồng thời quy hoạch các khu dân cư đồng bộ (đất ở, đất sản xuất), hỗ trợ dân làm nhà. Binh đoàn kéo điện, làm đường, xây nhà trẻ, xây dựng các điểm trường để các cháu có thể học bán trú, tạo điều kiện để các hộ phát triển kinh tế hộ gia đình.
Chúng tôi luôn tâm niệm một điều, đó là phải quan tâm đến sự hòa hợp, đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc bản địa và công nhân mới. Muốn thế, phải làm sao để những người dưới xuôi lên đây lập nghiệp cảm thấy ấm cúng trên mảnh đất Tây Nguyên này, coi nó như quê hương thứ hai của mình. Còn đồng bào thiểu số bản địa thì tiếp thu những kĩ thuật canh tác của người dưới xuôi. Mô hình gắn kết hộ đã đáp ứng được điều ấy.

 
Hội thi cạo mủ cao su của Binh đoàn 15
Hội thi cạo mủ của Binh đoàn 15

PV: Vâng, duy trì cuộc sống yên ổn cho bà con, xây dựng mối đoàn kết giữa người mới lên và đồng bào bản địa là yếu tố quyết định đến trị an biên giới. Vừa rồi Tư lệnh có nhắc đến mô hình gắn kết hộ, cụ thể nó thế nào và ngoài nó ra còn có mô hình nào khác?
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng: “Gắn kết hộ” bắt đầu xuất phát từ Công ti 74. Đầu tiên là nhu cầu tự thân của các hộ dưới xuôi lên, họ không thể phát triển nếu không có sự đồng hành của bà con bản địa. Chẳng hạn như, việc những người mới đến muốn kết nghĩa với đồng bào bản địa để xin nhượng bán đất nhằm phát triển kinh tế hộ gia đình. Binh đoàn thấy nhu cầu “bán anh em xa, mua láng giềng gần” ấy là chính đáng, nhưng cũng cần hạn chế những mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực nên đã phát triển lên thành mô hình “Gắn kết hộ”. “Gắn kết hộ” chủ trương, mỗi hộ gia đình công nhân người Kinh gắn kết với một hộ đồng bào người dân tộc thiểu số. Hộ công nhân người Kinh giúp đỡ hộ đồng bào dân tộc thiểu số áp dụng khoa học kĩ thuật vào trồng lúa, hoa màu, nắm vững kĩ thuật trồng, chăm sóc, khai thác mủ cao su, bảo đảm thời gian giờ giấc làm việc, ăn ở hợp vệ sinh, giúp đỡ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn. Hộ đồng bào dân tộc thiểu số tạo điều kiện cho hộ công nhân người Kinh cùng sinh sống trên địa bàn, giúp bảo vệ vườn cây, không cho trâu bò vào phá, không để trộm vào lấy chén, mủ cao su và các tài sản khác của công ti. Hàng ngày, các hộ gắn kết thường xuyên thăm hỏi, động viên chia sẻ buồn vui, khó khăn, hoạn nạn như anh em một nhà, tạo thành động lực chung, mọi người đều được tôn trọng, cùng phát triển. Hàng năm, các cấp từ các công ti đến Binh đoàn đều tổng kết xây dựng nội dung mới mà thực tiễn đặt ra trong gắn kết lợi ích. Nhưng cái quan trọng nhất, thông qua gắn kết, chúng ta kéo được đồng bào bản địa về phía mình. Nếu như không kéo được bà con về mình, bà con không được tuyên truyền pháp luật thì vô hình trung, chúng ta đẩy bà con về phía kẻ xấu. Mà tuyên truyền tốt nhất, nắm tình hình tốt nhất, không gì bằng những người công nhân trong mô hình đó.
Mô hình “cánh đồng lúa nước” ở các công ti cũng phát huy hiệu quả. Các công ti khai hoang các khu vực có thể trồng lúa nước sau đó chia cho các hộ công nhân, cho bà con để họ canh tác. Hồi tôi làm giám đốc Công ti 72, cánh đồng lúa nước làng Tung do chúng tôi quản lí, mỗi năm thu được vài trăm tấn. Chúng tôi bàn giao cho địa phương, chia cho bà con mỗi người một mảnh, giao cho Đội 10 giúp mỗi người kèm một hộ trồng lúa nước. Rồi đi mua giống vốn, thậm chí làm giúp, gặt giúp. Tập quán của đồng bào thiểu số ở vùng này trước đây thường là ăn hết nhà này thì đến nhà khác và thói quen trông chờ sẵn ở thiên nhiên nên thời gian đầu, bà con không đi làm mà chỉ chờ đến vụ thu hoạch mang thóc về. Sau đó thông qua vận động trưởng thôn, già làng gương mẫu đi làm trước, vậy là cả làng đều theo. Đến giờ, họ đã tự mình quản lí, canh tác trên thửa ruộng đã được chia. Chúng tôi xác định, giúp dân chính là giúp mình.

PV: Giúp dân chính là giúp mình, tôi đã xuống làng Sa Loong 2 - ngôi làng trước đây hầu hết theo đạo Hà Mòn giờ đã bỏ hẳn, để tận mắt nhìn những chữ “xóm A Tâm” được viết lên các tường nhà, nghe họ kể về người con của buôn làng tên A Tâm… và A Tâm chính là một giám đốc Công ti của Binh đoàn 15…
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng: Chỉ có tà đạo là xấu, còn đạo chính thống thì chẳng có gì là xấu cả. Sở dĩ để xảy ra những việc đáng tiếc là do chúng ta chưa biết chia sẻ, chưa kiên nhẫn, chưa có phương pháp đúng để tiếp cận. Về tà đạo Hà Mòn ở Giăng Lố 2, xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi, Kon Tum, thời kì năm 2005, 2006, nó chưa chống phá quyết liệt nhưng âm ỉ cho đến thời gian gần đây mới bùng lên. Các biện pháp hành chính tỏ ra không hiệu quả, người theo đạo trốn vào rừng, người ở lại tiếp tế, dân mỗi lúc mỗi rời xa chính quyền. Đồng chí Trịnh Hà Tâm, người được bà con đổi tên thành A Tâm, hồi ấy là giám đốc Công ti 732, đơn vị đứng chân ở khu vực này. Anh Tâm đã xuống ăn ở với bà con, giúp bà con sửa nhà, làm đường bê tông, kéo điện... Và tấm lòng ấy đã được bà con ghi nhận. Nó là một trong những nguyên nhân giúp bà con bỏ đạo Hà Mòn. Một trường hợp nữa ở Công ti 72 dưới Đức Cơ trong vận động đồng bào theo đạo là đồng chí Vũ Bá Thiết. Khi Thiết đến gặp ông trùm đạo Tin Lành nhằm thông qua đó vận động bà con theo những chủ trương đúng đắn của nhà nước, năm lần bảy lượt đều không được ông tiếp. Biết không thể làm theo cách đó, Thiết liền tiếp cận con trai của ông trùm, rủ đi bẫy chim, bắt cá, lấy mật ong… rồi thông qua vợ con của ông để được gặp ông trùm, để ông hiểu bộ đội Binh đoàn 15. Đến Noel, khi chúng tôi mang quà đến tặng, dù đang làm lễ, ông trùm cũng dừng lại để tươi cười nhận và cảm ơn lời chúc giáng sinh an lành. Cứ như vậy, tình cảm giữa bộ đội và giáo dân mỗi ngày mỗi xích lại gần nhau. Vì bà con giáo dân cầu nguyện vào sáng sớm nên không cách nào vận động đi cạo mủ sớm, mà cao su thì không thể cạo mủ muộn được. Chỉ đến khi ông trùm sắp xếp thời gian, tổ chức cầu nguyện muộn sau khi bà con đi cạo mủ cao su về, vậy là “tốt đời, đẹp đạo”. Rồi cũng thông qua ông trùm, chúng tôi vận động bà con chiều thứ bảy cả làng vệ sinh để xây dựng nếp sống văn minh. Mấy tháng trước, Công ti 78 dù đang thừa biên chế, nhưng vẫn tuyển cô Y Vác, người dân tộc Rơ Mâm học cao đẳng nông nghiệp về lâm sinh vừa ra trường. Giám đốc công ti còn giao chỉ tiêu cho cho Phòng kĩ thuật - nơi Y Vác công tác, phải làm thế nào để cô gái tăng cân vì cô khi vào công ti khá gầy và thấp bé, vừa đào tạo bồi dưỡng chuyên môn cho Y Vác. Tháng đầu, quân y cân cô lên được hai cân.

PV: Sau mấy chục năm gắn bó với Binh đoàn, thăng trầm có, vui có, buồn có… Tư lệnh có thể chia sẻ những đau đáu, trăn trở của mình về những tháng ngày ấy?
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng: Quê tôi ở Phú Thọ, cũng là miền núi vùng cao, có đồng bào dân tộc thiểu số. Tôi nhập ngũ năm 1976, đi lên Việt Bắc ở Quân khu 1 tại Võ Nhai, Thái Nguyên. Năm bảy chín, tôi có ở biên giới phía Bắc nhưng là mặt trận Cao Bằng. Sau đó về Binh đoàn 11 rồi vào Đắk Nông, ra Quảng Bình. Sang Lào từ tháng 5/1984 đến tháng 10/1987 thì về nước và vào Binh đoàn 15. Cuộc đời tôi chủ yếu gắn bó với vùng cao, gắn bó với đồng bào dân tộc. Hết ở với người Tày, Nùng, Dao, Mèo phía Bắc đến Gia Rai, Ba Na, Ê Đê ở Tây Nguyên... Tôi tiếp xúc với bà con tôi biết, ở đâu cũng vậy, đồng bào dân tộc là người một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ. Có thể lúc này lúc khác họ phản ứng vì bức xúc bởi một lí do gì đó nhưng không bao giờ họ động đến ảnh Bác. Dù rất lam lũ, vất vả, khó khăn nhưng họ rất hồn nhiên, vô tư và tốt bụng. Trong chiến tranh, họ cũng không tiếc xương máu, của cải tham gia kháng chiến. Tôi đã từng ngồi nghe một ông già người dân tộc Gia Rai, già Lép ở làng Tung, say sưa kể chuyện về thời gian đánh Mĩ ở Ia Đrăng, về việc giúp từng quả chuối, bắp ngô... giúp vận tải cáng thương, cứu chữa cho bộ đội mình. Chiến thắng đã mấy chục năm, vậy mà bây giờ đời sống của bà con vẫn thế... rất nhiều khó khăn, khó khăn vô cùng. Trước đây không gian sinh tồn của họ rất rộng. Cá dưới suối, rau trên rừng, khi chúng ta xuất hiện, không gian sinh tồn bị thu hẹp lại, trong lúc kinh nghiệm canh tác của họ không có. Có nghĩa là, họ lâm vào cảnh ấy, cũng một phần lỗi ở chúng ta. Trách nhiệm của chúng ta đối lại với bà con phải thế nào chứ? Chúng ta bất chấp, bỏ mặc là có tội với đồng bào, với đất nước. Bần cùng hóa bà con cũng đồng nghĩa bần cùng hóa lòng tin của họ với chế độ. Bài toán kinh tế phải tính cả đến điều đó... Không thể bất chấp tất cả. Hàng năm chúng tôi vẫn duy tu hàng ngàn kilômét đường giao thông, hàng trăm điểm trường mầm non, hàng trăm kilômét đường điện, hàng năm khám điều trị cho mấy chục ngàn lượt bệnh nhân ở Tây Nguyên này. Tôi luôn dặn mọi người, tất cả va chạm gì với đồng bào, lỗi là thuộc về công nhân, cán bộ. Vì sao? Bởi chúng ta được Đảng và nhà nước đào tạo bồi dưỡng giáo dục, có trình độ văn hóa cao hơn, trình độ nhận thức lớn hơn mà mình để xảy ra chuyện đó thì lỗi thuộc về mình chứ! Để cho kẻ xấu lôi kéo đồng bào là do mình, trách nhiệm thuộc về mình chứ!
Điều mà tôi trăn trở đó là, thế giới đã ở cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư mà mình mãi ở đâu. Làm sao để thay đổi được, chuyển biến được cách tư duy, trước hết là cán bộ sau đó là người lao động rằng, thời thế này, nếu cứ làm theo tư duy manh mún ngày xưa, làm dối ăn thật thì càng ngày sẽ càng tụt hậu xa hơn... Cả thế giới là thị trường, không thể sản xuất giá thành cao rồi bán giá cao, mà phải biết ứng dụng khoa học công nghệ để hạ chi phí sản xuất, hạ giá thành để cạnh tranh. Các doanh nhân bỏ tư duy quan hệ, cả hệ thống phải vào cuộc. Đạt được hiệu quả kinh tế, từ đó sẽ có điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng, làm tốt công tác an sinh xã hội và tăng cường quốc phòng an ninh.

PV: Và bài toán kinh tế của Binh đoàn là…
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng: Đối với chúng tôi thức dậy phải nhớ: Phát triển kinh tế phải gắn với quốc phòng an ninh, phải bảo đảm đời sống tốt hơn cho công nhân, cho bà con dân tộc thiểu số. Phải tính đến hiệu quả cả kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng - an ninh... Không phân biệt ai to, ai bé, mà phải xác định lợi ích của đất nước là to nhất, là trên nhất. Xây dựng thế trận lòng dân. Muốn vậy, họ phải có một sự ổn định, phải được thụ hưởng đời sống cả vật chất lẫn tinh thần. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng xây dựng cơ chế phối hợp với công an, bộ đội biên phòng từ trên cơ quan Bộ Tư lệnh xuống các công ti theo phân cấp. Phối hợp đi cùng với biên phòng tuần tra. Người lạ đến, đồng bào báo cho đội, đội báo cho công an... Với Binh đoàn 15, chưa bao giờ chúng tôi quan tâm đào tạo cán bộ như bây giờ. Cả chính trị, khoa học kĩ thuật, kinh tế, quân sự đào tạo đồng bộ.
Về chiến lược phát triển trung và dài hạn của Binh đoàn, chúng tôi đã đề ra, đã in và gửi cho các đồng chí Thủ trưởng Bộ, Tư lệnh cũ để tham khảo ý kiến.

PV: Cảm ơn đồng chí Tư lệnh về cuộc trò chuyện thú vị này!

PV
 

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)