Nơi nâng cánh cho tâm hồn người lính

Thứ tư - 18/01/2017 02:26
.NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

Có lẽ chưa một tạp chí nào lại có nhiều lần đổi khổ như Văn nghệ Quân đội, đổi khổ để phù hợp với sự vận chuyển vào chiến trường, để làm sao cho tiện lợi, gọn gàng đối với người lính. Cái cao đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ một phần được khơi gợi, được duy trì, nuôi dưỡng là nhờ những trang văn nồng đượm tinh thần nhân ái giữa con người với con người. Đó chính là điểm cốt yếu khiến cho tạp chí Văn nghệ Quân đội trở thành một nét văn hóa quân sự độc đáo vô tiền khoáng hậu. Nhưng sâu hơn, với nhiệm vụ cốt lõi, cơ bản, đúng với tính chất của lĩnh vực văn nghệ, tạp chí đã hoàn thành và hoàn thành xuất sắc việc bồi đắp, nâng cánh cho tâm hồn người lính trong chiến tranh, gieo vào họ tình yêu quê hương đất nước, gieo vào họ tính nhân văn và lòng quả cảm.
 
Cam nhan ve hoa dao

Tháng 1 năm 1957, sau một thời gian dài chuẩn bị với sự chỉ đạo sát sao của Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, tạp chí Văn nghệ Quân đội chính thức phát hành công khai ra với bạn đọc trong cả nước. Và từ bấy đến nay tạp chí đã trở thành diễn đàn văn nghệ quan trọng số một trong lực lượng vũ trang và không chỉ trong lực lượng vũ trang.

Chủ nhiệm đầu tiên của tạp chí là Văn Phác, thư kí tòa soạn là Thanh Tịnh, phần văn xuôi do Từ Bích Hoàng phụ trách, Vũ Cao đảm nhận phần thơ. Đặc điểm đầu tiên và quan trọng đặt nền móng cho hướng phát triển của tạp chí Văn nghệ Quân đội là hầu hết những người được điều động về làm tạp chí đều trưởng thành từ các đơn vị quân đội. Qua thời gian, tạp chí đã hình thành và tập hợp được một đội ngũ những tên tuổi lớn, có uy tín đó là: Phùng Quán, Mai Văn Hiến, Đỗ Nhuận, Minh Giang, Tạ Hữu Thiện, Xuân Thiêm, Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyễn Khải, Mai Ngữ, Nguyên Ngọc, Lưu Trùng Dương, Hải Hồ, Nguyễn Trọng Oánh, Vũ Sắc, Xuân Thiêm, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Thu Bồn, Xuân Sách, Xuân Thiều, Nguyễn Chí Trung, Nam Hà, Dũng Hà, Nhị Ca, Ngô Thảo, Duy Khán, Ngô Văn Phú, Nguyễn Xuân Khánh, Triệu Bôn, Hữu Thỉnh, Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Anh Ngọc, Hồng Diệu, Nguyễn Thị Như Trang, Chu Lai, Lê Lựu, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Khắc Trường, Khuất Quang Thụy, Trần Đăng Khoa…

Lấy sáng tác văn học là chính. Phải bằng những sáng tác tốt mà phục vụ nhiệm vụ chính trị của quân đội, góp phần xây dựng tư tưởng, tình cảm lành mạnh, xây dựng con người mới trong quân đội. Ngoài sáng tác văn, thơ là chính, tạp chí vẫn dành phần cần thiết cho các ngành nghệ thuật khác như âm nhạc, mĩ thuật, nhiếp ảnh và không coi nhẹ phần nghiên cứu phê bình… Với tiêu chí như vậy, luôn bám sát và phản ánh đời sống của người lính cùng với hậu phương của họ, tập trung xây dựng tư tưởng, tình cảm lành mạnh, xây dựng con người mới trong quân đội, tạp chí Văn nghệ Quân đội đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt và trở thành bạn đồng hành của người lính ngay từ những số đầu tiên.

Nhà văn Hữu Mai nhớ lại: Công việc viết văn của chúng tôi gắn liền với những chuyến đi. Thường là trở lại đơn vị cũ, những chiến trường mình đã sống. Chúng tôi đi vào những nơi đang diễn ra những công cuộc cải tạo, xây dựng trong thời bình. Mỗi chuyến đi là một lần gặt hái. Chính vì xuất phát từ thực tiễn, bám sát, phản ánh thực tiễn, tất nhiên là qua lăng kính của văn học nghệ thuật, mà tạp chí đã thu hút được sự quan tâm, chú ý đặc biệt của người đọc. Những sáng tác đăng tải ở giai đoạn từ 1954 đến 1964 mặc dù đề tài chống Pháp vẫn được coi trọng, nhưng đề tài xây dựng bộ đội trong hòa bình và đấu tranh thống nhất đất nước được đặc biệt chú ý.

Cuộc kháng chiến chống Mĩ bước vào giai đoạn cam go, nhiều chiến trường đã được mở và các nhà văn của Văn nghệ Quân đội đã không quản ngại gian khổ khó khăn, ác liệt, cũng balô, dép cao su, gậy Trường Sơn thâm nhập vào chiến trường để có những trang viết phản ánh kịp thời tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân và dân ta. Đợt đi đầu tiên có Nguyên Ngọc, Nguyễn Ngọc Tấn vào khu V, Trúc Hà vào khu VI, sau đó Nguyễn Trọng Oánh vào B3 Tây Nguyên rồi từ đó tiến tới B2 Nam Bộ, sau đó nữa là hàng loạt các chuyến thâm nhập vào chiến trường của các nhà văn. Trong những cuộc ra đi vào chiến trường, không phải ai cũng trở về lại ngôi nhà số 4. Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi đã nằm lại vĩnh viễn ở miền Nam trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968. Ông ngã xuống trước cửa ngõ Sài Sòn khi trong tay đang cầm súng và trong balô là những trang bản thảo truyện kí viết dở. Những nhà văn - chiến sĩ của tạp chí Văn nghệ Quân đội đã hi sinh cả tính mạng mình như thế, cho sự nghiệp giải phóng thống nhất đất nước. Nhưng sự hi sinh của họ không phải là vô ích. Từ trong lửa đạn tơi bời ấy, những bài viết, những tác phẩm tươi rói thực tế ra đời và chúng có sức cổ vũ, động viên rất lớn đối với những người đang trực tiếp cầm súng chiến đấu và không chỉ có thế, chúng còn là nguồn động viên với cả người đang ở hậu phương. Do tính chất bảo đảm bí mật, thậm chí tên nhà văn cũng phải được giấu kín và cũng từ đó ra đời những bút danh Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc), Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn), Thu Bồn (Hà Đức Trọng), Nam Hà (Trúc Hà), Nguyễn Thành Vân (Nguyễn Trọng Oánh), Trần Mai Nam (Hữu Mai), Lê Hoài Đăng (Xuân Sách), Ngô Bằng Vũ (Ngô Văn Phú), Vũ Ngàn Chi (Phạm Ngọc Cảnh)... cùng hàng loạt tác phẩm như Đường chúng ta đi, Đất Quảng của Nguyên Ngọc, Bức thư làng Mực của Nguyễn Chí Trung, Bài ca chim Chrao của Thu Bồn, Người mẹ cầm súng, Ở xã Trung Nghĩa, Trăng sáng, Đôi bạn của Nguyễn Thi, Họ sống và chiến đấu của Nguyễn Khải, Dải đất hẹp của Trần Mai Nam, Cuộc chiến đấu trên mặt đường của Xuân Thiều… Những bút danh đó, những tác phẩm đó sẽ trở thành cái nền vững chắc cho mảng văn học về đề tài chiến tranh cách mạng và dòng văn học nghệ thuật xã hội chủ nghĩa sau này.

Có lẽ chưa một tạp chí nào lại có nhiều lần đổi khổ như Văn nghệ Quân đội, đổi khổ để phù hợp với sự vận chuyển vào chiến trường, để làm sao cho tiện lợi, gọn gàng đối với người lính. Theo khảo sát của một người sưu tầm kỉ vật chiến tranh, trong sổ tay ghi chép và nhật kí, với gần 200 cuốn, thì có tới trên 100 cuốn nhắc tới tạp chí Văn nghệ Quân đội với ý nghĩa rằng họ tìm thấy ở đó những triết lí sống, những hi vọng, những vẻ đẹp, những an ủi động viên, thúc giục họ. Trong số những cuốn tạp chí Văn nghệ Quân đội được lưu giữ ở bộ sưu tập cá nhân đó, thì có 7 cuốn mang dấu vết của lửa đạn, 3 cuốn bị cháy sém phân nửa, 2 cuốn có vết đạn bắn xuyên thủng và loang dấu máu. Đó là bằng chứng linh thiêng nhất về “tình bạn” giữa những người lính, những chiến binh dũng mãnh của thời đại Hồ Chí Minh, với một tạp chí văn học nghệ thuật, tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Trong balô của người lính thời ấy, gần như không thể thiếu được cuốn tạp chí Văn nghệ Quân đội. Họ đọc nó giữa hai trận đánh, giữa những ngày, những giờ phấp phỏng chờ lệnh hành quân. Và những trang viết chân thực, trong sáng, lành mạnh trở thành trụ đỡ vô hình mà vững chãi trong lúc lòng dạ con người xốn xang nhất vì sự phân vân lựa chọn giữa nỗi sợ và lòng quả cảm. Những thời khắc cam go ấy, tạp chí Văn nghệ Quân đội đã có mặt, khích lệ tinh thần xả thân vì Tổ quốc nhưng không kích động thú tính bản năng giết chóc, mà trái lại, gia cố thêm nhân tính cho người lính. Cái cao đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ một phần được khơi gợi, được duy trì, nuôi dưỡng là nhờ những trang văn nồng đượm tinh thần nhân ái giữa con người với con người. Đó chính là điểm cốt yếu khiến cho tạp chí Văn nghệ Quân đội trở thành một nét văn hóa quân sự độc đáo vô tiền khoáng hậu.

Với những người lính đã từng kinh qua chiến tranh, khi ôn lại kỉ niệm, hầu hết đều nhắc tới tạp chí Văn nghệ Quân đội với một tình cảm quý mến, và họ dành cho tạp chí một vị trí khá trang trọng trong kí ức của mình. Điều lạ lùng là ở chỗ ấy, ở chỗ một cuốn tạp chí văn học có thể đứng vững chãi cùng kí ức về lửa đạn chiến tranh và nó không bị cố gắng quên đi, bị loại ra khỏi trí nhớ như một sự ám ảnh hãi hùng, mà trái lại được gìn giữ trân trọng trong tâm trí mỗi người lính. So với người lính của các quốc gia khác, anh lính Cụ Hồ đi vào chiến trường mang theo tạp chí văn nghệ quả là một câu chuyện lãng mạn gần như thần kì. Không thể chối bỏ được một sự thật là tinh thần lành mạnh bao giờ cũng giành chiến thắng. Bởi vì lòng dũng cảm không đến từ những tâm hồn thác loạn, không đến từ sự chán chường, mà mọc lên từ tình yêu, chữ Tình Yêu viết hoa, thứ tình yêu mà trong đó yếu tố lạc quan là không thể loại bỏ. Cũng chính vì vừa đánh giặc vừa làm thơ, vừa đánh giặc vừa đọc thơ mà hình ảnh người lính Cụ Hồ và anh lính Bắc Việt bỗng trở nên có chiều sâu, có tính nhân văn cao cả và tạo được lòng tin cho dân, cả ở bờ Bắc lẫn bờ Nam, cả ở Nam Bộ tấp nập ghe thuyền lên vùng Tây Nguyên rừng núi hoang sơ. Xét về phương diện tuyên truyền, có thể nói tạp chí Văn nghệ Quân đội đã làm tròn nhiệm vụ một cách xuất sắc với việc kịp thời động viên cán bộ chiến sĩ trong chiến đấu và trong chịu đựng hi sinh gian khổ. Nhưng sâu hơn, với nhiệm vụ cốt lõi, cơ bản, đúng với tính chất của lĩnh vực văn nghệ, tạp chí đã hoàn thành và hoàn thành xuất sắc việc bồi đắp, nâng cánh cho tâm hồn người lính trong chiến tranh, gieo vào họ tình yêu quê hương đất nước, gieo vào họ tính nhân văn và lòng quả cảm. Không chỉ dừng ở đó, những trang viết của tạp chí còn ấp ủ, còn ươm mầm tương lai cho những chiến sĩ đang trực diện với cái chết. Giá trị ấy không thể đo đếm được, nhưng có thể thấy được qua tinh thần lạc quan phơi phới của những người đang băng qua lửa đạn.

Giai đoạn sau 1975, khi đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, là giai đoạn mà những “chi nhánh”, những người ra đi hội tụ trở lại ngôi nhà số 4 cùng với vốn thực tế ăm ắp. Đây có lẽ là giai đoạn mà nghệ thuật văn chương hứa hẹn sẽ đạt đến độ sâu sắc và nhuần nhụy nhất định. Và thực tế là những tác phẩm đăng tải trên tạp chí thời gian này bắt đầu có những trăn trở, những suy tư, chiêm nghiệm về đời sống, về con đường tiếp theo của dân tộc sau khi đạn bom đã tạnh ráo. Biết bao dự định của một thế hệ với khát vọng sáng tác ra những tác phẩm lớn, xứng với tầm vóc lịch sử dân tộc đã manh nha hình thành với suy nghĩ sau chiến tranh là khoảng lặng để sáng tác. Xin trích dẫn một đoạn của đại tá, nhà văn Nguyễn Minh Châu, một trong số những nhà văn viết hay nhất về chiến tranh cho tới giờ phút này, và tôi tin rằng đây cũng là suy nghĩ của cả một thế hệ những nhà văn tài ba lặn lội dọc ngang trong chiến tranh: Vạt áo nhà văn làm sao đựng hết chữ nghĩa trong cái lẽ sống quên mình mà bộ đội ta đã viết nên trong các cánh rừng Trường Sơn trước đây và cả các miền rừng Tây Nam và biên giới phía Bắc bây giờ? Mỗi lúc nhớ đến đời sống của bộ đội ta trong chiến tranh, tôi lại suy nghĩ đến ở đâu đó trên chặng đường miền Tây Trường Sơn. Sau một trận bom, chúng tôi đi qua một cánh rừng toàn cây cà boong, một loại cây có dầu, đang cháy rừng rực giữa trưa nắng, và trong nắng, lửa và khói cứ bay cuộn lên những tờ giấy trắng. Hình như bom địch vừa đánh trúng một kho giấy giữa rừng. Chúng tôi đi qua khu rừng cháy, mãi đến xẩm chiều ngày hôm sau, vẫn thấy những tờ giấy như đang bay đuổi theo, có những tờ đã bị cháy mất nửa. Những tờ giấy phơi cái mặt trắng giữa trời xanh hoặc đang nằm lẫn trong cỏ, trên nền rừng. Tất cả các tờ giấy ấy chỉ nằm chờ chúng tôi, những nhà văn viết về chiến tranh đến nhặt lấy. Tiếc thay, những “tờ giấy” chờ khai sinh cho những tác phẩm lớn, xứng tầm với sự hiển hách của thời đại đành phải gác lại. Đất nước lâm vào tình thế “lưỡng đầu thọ địch”. Đội ngũ những nhà văn - chiến sĩ của tạp chí Văn nghệ Quân đội chưa kịp viết hết những gì mình chiêm nghiệm trong cuộc chiến chống Mĩ lại khoác balô theo chân những người lính đi bảo vệ biên giới Tây Nam, và sau đó lại bươn bả lên biên giới phía Bắc. Những anh bộ đội yêu hòa bình của thời đại Hồ Chí Minh một lần nữa vừa nằm chốt vừa đọc tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Không chỉ theo sát động viên, tạp chí Văn nghệ Quân đội còn có nhiệm vụ ghi lại chính xác hình ảnh người lính để lưu dấu với lịch sử dân tộc. Tạp chí trở thành tấm gương tinh lọc, chỉ giữ lại những nét căn bản nhất, nhưng cũng thẳm sâu nhất, về hình ảnh của người lính và cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Người chiến sĩ được khắc họa giản dị, gần gũi mà vô cùng tinh tế, sâu sắc. Nếu cần tìm chân dung người lính Cụ Hồ sát thực nhất, sống động nhất thì có lẽ không đâu hơn là tìm ở những trang viết trên Văn nghệ Quân đội. Từ hình ảnh mộc mạc chất phác nhưng không kém vẻ hào hoa lãng mạn của anh lính vệ quốc đoàn, áo trấn thủ với “đầu súng trăng treo” tới hình ảnh uy nghi, lẫm liệt “máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng” của người lính giải phóng quân miền Nam và anh lính miền Bắc xã hội chủ nghĩa, thảy đều hành quân qua những trang sáng tác của các nhà văn quân đội đăng tải trên Văn nghệ Quân đội.

Ngày nay, tạp chí Văn nghệ Quân đội đã và đang bước vào giai đoạn mới. Để theo kịp sự phát triển của thời đại tạp chí đã có những cải tiến cả về hình thức lẫn nội dung. Ngoài việc có thêm tờ Văn nghệ Quân đội điện tử, với số lượng truy cập lên tới hàng triệu độc giả, tạp chí vẫn duy trì được một tháng hai kì báo in. Số lượng bạn đọc của tạp chí in hầu như không suy giảm, mặc dù nền kinh tế thị trường với sự đua nở của hàng ngàn tờ báo và tạp chí ra đời với nhiều sự hấp dẫn mang tính thời thượng. Đội ngũ những nhà văn hiện nay đều trẻ cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề, nhưng bù lại, họ có trình độ học vấn cao, được đào tạo bài bản, có kĩ năng làm báo, biên tập và điều quan trọng nhất, họ đều là những tài năng văn chương của quân đội, hầu như trăm phần trăm đều có những sáng tác gắn với đề tài người lính. Bên cạnh những sáng tác thâm túy, sâu sắc về đề tài chiến tranh, thì hình ảnh và sinh hoạt của người lính thời bình cũng được phản ánh một cách sinh động, sát thực và chúng gần gũi với người đọc, nhất là những chiến sĩ trẻ ở đơn vị. Những bài thơ, bản nhạc, truyện ngắn, bút kí đều bám sát đời sống của người lính và nhận được sự đón nhận, cổ vũ nhiệt tình của chính đối tượng được phản ánh. Qua những trang viết của mình, tạp chí Văn nghệ Quân đội phần nào trở thành cầu nối giữa người lính với xã hội, cho họ thấy những gì đang diễn ra, không qua các sự kiện, mà qua những vấn đề lớn. Nó kéo họ lại gần với đời sống xã hội bên ngoài, trang bị cho họ kiến thức, chuẩn bị tinh thần cho họ khỏi lạc lõng khi xuất ngũ trở về địa phương. Trên thao trường, tạp chí Văn nghệ Quân đội vẫn có mặt, dù không chiếm vị trí độc quyền như trước nữa, nhưng sự có mặt của tạp chí vẫn có nghĩa đó là sự có mặt của cái tinh túy, cái cao cả, cái đoan trang, những phẩm chất căn cốt của văn học nghệ thuật.

Trải qua mấy chục năm trưởng thành và phát triển, tạp chí Văn nghệ Quân đội luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và đã cống hiến cho Đảng, cho Tổ quốc, cho Quân đội và bạn đọc những tài năng văn học xuất chúng. Hàng chục nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Bộ Quốc phòng và các giải thưởng quốc tế như giải Bông Sen, giải Asean, giải Sông Mêkông. Có nhà văn được phong anh hùng và có những nhà văn đã được đặt tên phố, tên trường như Thanh Tịnh, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Thu Bồn, Xuân Thiều. Đặc biệt, năm 2007 Văn nghệ Quân đội trở thành tạp chí văn học nghệ thuật đầu tiên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang. Đây là phần thưởng xứng đáng cho sự cống hiến của biết bao thế hệ, biết bao tài năng văn chương trong quân đội.  Nhân dịp tròn 60 năm ngày Văn nghệ Quân đội ra số đầu tiên, Đảng, Nhà nước đã quyết định tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba cho tạp chí. Phần thưởng này là sự ghi nhận và khích lệ những đóng góp của Văn nghệ Quân đội vào sự nghiệp phát triển văn học trong thời kì mới của đất nước.

Một nhà văn từng công tác tại tạp chí đã tổng kết rằng có lẽ trong đời sống văn học ở ta hiếm có một tạp chí nào như Văn nghệ Quân đội. Mấy chục năm trước, sau một cuộc chiến tranh dài chín năm, nó là nơi hội tụ đầu tiên của một thế hệ cầm bút mới, là con đẻ của cách mạng và chiến tranh, đến khi cuộc chiến tranh thứ hai bùng nổ, từ đó lại tỏa đi các chiến trường những “chi nhánh” độc đáo, sinh động của nó, để rồi khi hòa bình thống nhất toàn vẹn cuối cùng trở lại, nó lại là nơi tụ hội của những thế hệ nối tiếp nhau nữa của văn học, mới mẻ nhưng dạn dày trưởng thành. Ý kiến tổng kết đó hoàn toàn xác đáng. Từ khi ra đời cho tới hôm nay, và chắc chắn cả sau này nữa, Văn nghệ Quân đội luôn luôn đóng một vai trò đặc biệt đối với đời sống tinh thần của người lính và đó thực sự là bạn đồng hành thủy chung, sắt son của những chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

 N.B.P

Xem thêm: 
Giải thưởng cuộc thi Thơ 2015 - 2016 trên Văn nghệ Quân đội
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

 

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo