Lực lượng vũ trang tỉnh Ninh Thuận: Tiếp tục giữ vững “Ổn định về chính trị, vững về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh”

Thứ bảy - 23/09/2017 14:56
lxp
Đại tá Lưu Xuân Phương
Nhắc đến Ninh Thuận, chúng ta luôn hình dung về một vùng đất cực Nam Trung Bộ bốn mùa nắng nóng, khô cằn. Ở nơi ấy, những cơn mưa ít ỏi được ví như lộc trời và lượng nước ngầm thấp nhất toàn quốc luôn khiến cho cuộc sống của người dân gặp muôn vàn khó khăn, thử thách. Trong những ngày hạn hán gió như phang và nắng như rang mấy năm về trước, tôi tình cờ được xem một đoạn phim tài liệu về những giọt nước ân tình mà lực lượng vũ trang (LLVT) Ninh Thuận vận chuyển đến tận tay cứu khát cho người dân. Hình ảnh ấy cứ thôi thúc tôi phải viết một cái gì đó về các anh, những người lính không quản ngại khó khăn vất vả, chắt chiu từng giọt nước ngọt lành giúp dân qua cơn hoạn nạn. Và đó chính là khởi đầu của câu chuyện giữa chúng tôi với Đại tá Lưu Xuân Phương - Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự (CHQS) tỉnh Ninh Thuận.
 


PV: Thưa đồng chí Chính ủy, trong suy nghĩ của tôi, Ninh Thuận không chỉ là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, mà trước tiên là vùng đất mang đậm bản sắc văn hóa Sa Huỳnh cổ xưa với những hệ thống tháp Chăm đặc sắc. Bạn đọc Văn nghệ Quân đội muốn đồng chí Chính ủy chia sẻ đôi nét khái quát nhất về lịch sử mảnh đất, con người rất riêng của cực Nam Trung Bộ?
Đại tá Lưu Xuân Phương: Trước hết, xin thay mặt cán bộ chiến sĩ LLVT Ninh Thuận cảm ơn Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã dành sự quan tâm đến chúng tôi và tổ chức cuộc đối thoại này. Đúng như các anh đã hình dung, Ninh Thuận trước hết là vùng đất có văn hóa đặc sắc của Nam Trung Bộ. Các nhà khảo cổ trong nước và quốc tế đã từng phát hiện ở Nhơn Hải của Ninh Thuận các mộ cổ chôn cùng với đồ đá, đồ sắt thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh cách đây khoảng 2500 năm. Ninh Thuận còn là nơi gìn giữ được nhiều di sản quý báu của nền văn hóa Chăm pa bao gồm chữ viết, dân ca và nghệ thuật múa, trang phục, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc... Toàn tỉnh có hơn 20 làng người Chăm, trong đó có những làng vẫn duy trì các tập quán của chế độ mẫu hệ, tôn giáo chính là Bàlamôn và Hồi giáo. Ninh Thuận gần như còn nguyên vẹn hệ thống tháp Chăm xây dựng trong nhiều thế kỉ trước, tiêu biểu là cụm tháp Hòa Lai xây dựng từ thế kỉ thứ IX, cụm tháp Po Klong Garai xây dựng từ thế kỉ XIII và cụm tháp Po Rome xây dựng từ thế kỉ XVII. Người Chăm và các dân tộc thiểu số ở miền núi đã sinh sống lâu đời trên đất Ninh Thuận. Người Kinh có ở đây vào khoảng cuối thế kỉ XVII. Đó là những người không chịu áp bức bóc lột của chế độ phong kiến đương quyền đã đi về phương Nam tìm kế sinh nhai trên miền đất mới. Khi thực dân Pháp khai thác thuộc địa mở các đồn điền, xưởng máy trên đất Ninh Thuận lại tăng thêm số người làm phu từ các tỉnh phía Bắc vào. Ngoài ra còn một số làng chài theo đường biển vào làm ăn định cư. Từ đặc điểm trên đã tạo nên văn hóa và nếp sống của người dân Ninh Thuận thêm đa dạng, phong phú, phong tục tập quán cũng có nhiều nét riêng biệt. Tuy nhiên trong quá trình cùng chung sức đấu tranh chống kẻ thù, chống thiên tai địch họa đã tạo nên sự đoàn kết, thân ái, gắn kết họ lại thành một cộng đồng xã hội các dân tộc Ninh Thuận một cách bền vững và ngày càng phát triển.

PV: Và bên cạnh mảng trầm tích văn hóa đặc trưng ấy, Ninh Thuận còn được biết đến với những trang sử thấm đẫm chất anh hùng ca về một đội du kích người rừng trong kháng chiến. Xin đồng chí Chính ủy giới thiệu thêm về điều này?
Đại tá Lưu Xuân Phương: Vâng. Ninh Thuận là một tỉnh duyên hải địa hình đa dạng phong phú với những dãy núi bao bọc tạo ba mặt ôm lấy vùng đồng bằng và kéo dài đến biển tạo nên nhiều chướng ngại khúc khuỷu tự nhiên rất có lợi thế dụng binh. Đội du kích người rừng mà các anh vừa nhắc đến chính là đội quân của anh hùng Pinăng Tắc. Ông chiến đấu dũng cảm, bảo vệ cán bộ an toàn, thương yêu, giúp đỡ nhân dân và được đồng bào Bác Ái hết mực tin yêu. Vào năm 1961, ông đã tổ chức một trận địa phục kích bằng bẫy đá tại triền núi Gia Túc, xã Phước Bình. Dựa vào địa hình hiểm trở một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực sông sâu, ông cho lập 17 chiếc bẫy đá liên hoàn trên đoạn đường dài khoảng 500m. Phía dưới đoạn đường ông triển khai cho đội du kích cắm chông, đặt bẫy và cung tên tẩm độc. Trận đánh ngoạn mục bằng bẫy đá là điển hình của nghệ thuật sử dụng vũ khí thô sơ trong thế trận chiến tranh nhân dân. Với thắng lợi vang dội của trận đánh, Pinăng Tắc, người con của dân tộc Raglai anh hùng đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Bẫy đá Pinăng Tắc đã đi vào lịch sử như một huyền thoại chống giặc ngoại xâm của dân tộc Raglai và nay đã trở thành di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia. Đó là những điều mà hậu thế chúng tôi - những người sinh ra giữa thời bình qua sử sách, rất đỗi tự hào về người con kiên trung của núi rừng, người anh hùng của nhân dân tỉnh Ninh Thuận nói chung, đồng bào Raglai Bác Ái nói riêng.

PV: Phát huy truyền thống quê hương với một bề dày lịch sử truyền thống như thế, quân và dân Ninh Thuận đã bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ vô cùng hào hùng. Đồng chí hãy chia sẻ những chiến công vang dội của thế hệ cha anh khi giáo dục lịch sử cho các chiến sĩ trẻ?
Đại tá Lưu Xuân Phương: Sau Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Nam Bộ, thực hiện âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa. Cuối tháng 1/1946 quân Pháp tái chiếm Ninh Thuận. Trước tình hình đó, trên cơ sở các đơn vị lực lượng vũ trang đã được thành lập, Đảng bộ tỉnh có chủ trương: Nhanh chóng tiếp tục xây dựng, phát triển lực lượng quân giải phóng (vệ quốc đoàn), lực lượng dân quân du kích, thành lập các lò, xưởng chế tạo vũ khí, tìm những hình thức đấu tranh, cách đánh phù hợp, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận, phá vỡ âm mưu càn quét gom dân bình định của địch. Đến giữa năm 1953, khi thời cơ chung của cả nước tác động, lực lượng vũ trang tỉnh liên tiếp tấn công địch: Ngày 7/7/1953, Đại đội 210 chặn đánh hai Tiểu đoàn Com-măng-đô do Trung tá tỉnh trưởng Hoàng Phúc Hải trực tiếp chỉ huy càn vào Hóc-Ron, ta diệt 68 tên thu nhiều vũ khí. Ngày 28/9/1953, Đại đội 210 chặn đánh Tiểu đoàn Ngự lâm quân từ Đà Lạt tràn xuống Hóc-Ron, ta tiêu diệt 173 tên, thu 100 súng. Tiếp đến ngày 15/5/1954, Đại đội 210 tấn công Tiểu khu Ninh Chữ là một trong ba tiểu khu của địch ở Ninh Thuận được trang bị hoả lực mạnh, ta diệt và bắt 180 tên thu 120 súng, trận đánh đã làm cho địch hoang mang, dao động và gây tiếng vang lớn. Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 6/1954, thực hiện nhiệm vụ phối hợp với chiến trường chính của Liên khu 5, quân và dân trong tỉnh đồng loạt đánh địch 35 trận, diệt 6 cứ điểm, 9 tháp canh, bức rút 26 cứ điểm và tháp canh, loại khỏi vòng chiến đấu 1.050 tên địch (trong đó diệt 260 tên, thu trên 100 súng các loại), giải phóng hầu hết vùng nông thôn ở đồng bằng, địch rút về cố thủ Phan Rang.
Suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trải qua cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ địch, LLVT Ninh Thuận đã cùng với nhân dân trong tỉnh bám trụ kiên cường, đánh tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận, phá âm mưu càn quét, gom dân bình định của địch. Từ thế bị động, cầm cự ban đầu, LLVT tỉnh vừa chiến đấu, vừa huấn luyện, xây dựng đơn vị từng bước lớn mạnh tiến tới giành thế chủ động, liên tục tiến công địch. Đặc biệt, trong chiến dịch Xuân - Hè năm 1954, thực hiện nhiệm vụ phối hợp chiến trường chung của cả nước, LLVT Ninh Thuận đã cùng nhân dân trong tỉnh đồng loạt mở các đợt tiến công địch, làm thất bại âm mưu của chúng, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Ninh Thuận là chiến trường ác liệt. Địch chọn nơi đây để lập tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn từ xa. Từ năm 1961 đến năm 1965, LLVT tỉnh đẩy mạnh các hoạt động phá ấp, diệt tề, tiêu hao tiêu diệt một bộ phận chủ lực của địch, phá banh nhiều ấp chiến lược, góp phần làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ - Nguỵ. Năm 1965-1968, Mĩ buộc phải leo thang chiến tranh, tiến hành “chiến tranh cục bộ” bằng âm mưu thâm độc và thủ đoạn rất dã man. Với tinh thần chiến đấu anh dũng, LLVT tỉnh luôn kiên cường bám trụ, cùng với quân và dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) đánh thẳng vào các khu quân sự, kinh tế, chính trị của địch trên địa bàn như: sân bay Thành Sơn, cảng Ninh Chữ, trung tâm thị xã Phan Rang - Tháp Chàm... buộc đế quốc Mĩ phải thay đổi chiến lược chiến tranh. Từ năm 1969 - 1972, với ý chí kiên cường và truyền thống đấu tranh bất khuất, LLVT tỉnh tiếp tục đánh bại âm mưu “bình định” lấn chiếm của địch; căn cứ sân bay Thành Sơn (Mĩ - Nguỵ cho là bất khả xâm phạm) đã nhiều lần bị bộ đội đặc công của tỉnh đánh phá gây nhiều thiệt hại nặng nề. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, quân và dân trong tỉnh đã cùng bộ đội chủ lực tiến công mãnh liệt đập tan “lá chắn thép Phan Rang” giải phóng quê hương Ninh Thuận (16/4/1975), góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

PV: Hiểu biết sâu sắc truyền thống để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ luôn là một nét đẹp văn hóa của người chiến sĩ, trong đó có người chiến sĩ Ninh Thuận. Đồng chí Chính ủy hãy cho biết quân và dân tỉnh nhà có những thuận lợi và khó khăn gì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quân sự địa phương?
Đại tá Lưu Xuân Phương: Ninh Thuận là tỉnh có truyền thống cách mạng, anh dũng kiên cường trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, cần cù trong lao động sản xuất, vinh dự được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Hiểu biết sâu sắc truyền thống để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ luôn là một nét đẹp văn hóa của người chiến sĩ, trong đó có người chiến sĩ Ninh Thuận. Tuy nhiên khó khăn còn nhiều lắm chứ. Trong những năm qua, kinh tế tỉnh nhà tuy có phát triển nhưng việc tạo việc làm tại chỗ còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu lao động của địa phương, nên một số lượng lớn thanh niên đi làm ăn xa, khó khăn cho việc tổ chức xây dựng lực lượng tại cơ sở. Tình hình hạn hán, mưa lũ diễn biến thất thường, gây thiệt hại tới đời sống nhân dân. Tôi còn nhớ, có những khi vào mùa khô cao điểm, bà con lam lũ tìm đủ mọi cách kiếm nguồn nước phục vụ tưới tiêu và sinh hoạt nhưng kết quả chẳng đáng là bao. Nhìn những cánh đồng nứt nẻ, dê cừu ngơ ngác nhai cỏ khô mà đau lòng lắm. Bằng sự nỗ lực của LLVT Quân khu và cán bộ chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh, chúng tôi đã cố gắng mức cao nhất vận chuyển nước ngọt hỗ trợ bà con. Nhưng đó chỉ là ngắn hạn. Còn về lâu dài, vẫn cần có những giải pháp căn cơ từ các cấp ngành chức năng. Song qua đó, tình cảm quân dân ngày càng gắn bó. Hình ảnh mà các anh vừa đề cập chính là một trong những hoạt động thiết thực nhất trong công tác xây dựng lực lượng, công tác tuyên truyền giáo dục trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quân sự địa phương.

 
Huấn luyện dân quân tự vệ
Huấn luyện dân quân tự vệ - Ảnh: TL

PV: Ninh Thuận là một tỉnh không những đa dạng về địa hình mà còn đa dạng về tôn giáo, dân tộc. Đồng chí hãy cho biết đặc điểm trên có tác động như thế nào đến công tác tuyên truyền giáo dục và xây dựng LLVT tỉnh nhà?
Đại tá Lưu Xuân Phương: Ninh Thuận là tỉnh duyên hải miền Trung nằm ở cực Nam Trung bộ, trung tâm của tỉnh là thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, là một trong những địa bàn sinh sống của người Việt cổ. Trên địa bàn có sự đa dạng vê tôn giáo như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, đạo Baha’I, Hồi giáo Islam, Hồi giáo Bàni, Bàlamôn trong đồng bào Chăm.
Ngoài các giá trị vật thể, văn hóa phi vật thể của người Chăm ở Ninh Thuận cũng phong phú với hơn 100 lễ hội diễn ra quanh năm, trong đó tiêu biểu phải kể đến là lễ hội Ka-tê tổ chức ở tháp Chăm vào tháng 7 lịch Chăm hàng năm và lễ hội Ra-mư-wan. Đây là lễ hội dân gian đặc sắc nhất trong kho tàng văn hoá của người Chăm, phản ánh sinh hoạt của cộng đồng người địa phương.
Từ đặc điểm trên có thể thấy rằng những nét văn hóa đặc sắc của nền văn hóa Chăm có sự ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyên  truyền, giáo dục và xây dựng LLVT tỉnh nhà. Trong thời gian qua, Đảng ủy và Bộ CHQS tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác dân vận, vận động quần chúng ở vùng đồng bào dân tộc Chăm. Trong các dịp tết Ra-mư-wan của đồng bào Chăm theo đạo Hồi giáo Bàni, Islam và lễ hội Ka-tê của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn, Bộ CHQS tỉnh đều tổ chức các đoàn thăm hỏi, tặng quà các địa phương và các chức sắc, chức việc, góp phần thắt chặt mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa đồng bào Chăm với LLVT tỉnh. Trên cơ sở đó căn cứ vào các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp và tình hình, nhiệm vụ cụ thể của địa phương, đơn vị; Đảng uỷ và Bộ CHQS tỉnh đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong LLVT tỉnh tổ chức triển khai thực hiện tốt công tác dân tộc ở địa phương. Tổ chức 17 lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các chức sắc, chức việc các tôn giáo với 957 lượt người tham gia. Đây là nét mới và chỉ có riêng ở Ninh Thuận mới triển khai hiệu quả nội dung này. Đồng thời cấp ủy, chỉ huy cơ quan chính trị các cấp và cán bộ chính trị trong LLVT tỉnh đã phát huy tốt vai trò, chức năng chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể địa phương phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các lực lượng trên địa bàn, tổ chức triển khai thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, nhất là ở các vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sống đã đem lại nhiều kết quả thiết thực. Qua đó đã tạo được sự thống nhất trong nhận thức và đề cao trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, cơ quan chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh trong tiến hành công tác dân tộc, nhất là đối với đồng bào Chăm. Cấp uỷ, chỉ huy các cấp đã luôn bám sát hướng dẫn của trên, chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, vận dụng linh hoạt các biện pháp phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương và cơ quan, đơn vị tiến hành có hiệu quả công tác dân tộc, tôn giáo, góp phần tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo tiến hành “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế thù địch; đồng thời kiên quyết đấu tranh với mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân và sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; phối hợp với các cơ quan, lực lượng chức năng kịp thời ngăn chặn những hành vi truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng dân tộc, tôn giáo để mua chuộc, lôi kéo nhân dân, gây mất an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
 Bên cạnh đó, Đảng uỷ - Bộ CHQS tỉnh đã có sự quan tâm đặc biệt đối với cán bộ, chiến sĩ là người dân tộc thiểu số. Hàng năm, ngay từ khâu tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ, Hội đồng nghĩa vụ quân sự các cấp và các cơ quan chuyên môn đã tuyển chọn trên 2.500 thanh niên đồng bào dân tộc tham gia nghĩa vụ quân sự. Đảng ủy - Bộ CHQS tỉnh thường xuyên đặc biệt quan tâm, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ người dân tộc; thường xuyên tổ chức thăm hỏi, động viên, tặng quà gia đình có hoàn cảnh khó khăn, tạo mọi điều kiện thuận lợi để học tập, phấn đấu, trưởng thành trong môi trường quân đội. Cán bộ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng là người dân tộc trong LLVT tỉnh hiện nay dân tộc chăm 12 đồng chí, hầu hết các đồng chí phát huy được tinh thần trách nhiệm trong công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên từng cương vị được giao.

PV: Để vun đắp cho bề dày truyền thống của tỉnh nhà, đã có lớp lớp người cống hiến xương máu của mình trong những năm tháng chiến tranh, LLVT tỉnh Ninh Thuận đã làm gì?
Đại tá Lưu Xuân Phương: Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, Ninh Thuận là một chiến trường ác liệt, có nhiều căn cứ kháng chiến như: huyện Bác Ái Đông, huyện Bác Ái Tây, huyện Anh Dũng và các chiến khu CK7, CK19, CK22, CK25, CK35, tạo nên một căn cứ địa cách mạng vững chắc ở chiến trường Nam Trung Bộ. Quân và dân Ninh Thuận đã đóng góp công sức rất lớn cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước. Sau ngày 30/4/1975, phát huy truyền thống quê hương, tiếp bước cha anh, nhiều thế hệ thanh niên đã tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế và truy quét Fulro, nhiều đồng chí đã anh dũng hi sinh và cống hiến một phần xương máu của mình cho sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Toàn tỉnh có 4.228 liệt sĩ, 1.502 đồng chí là thương binh, bệnh binh có 1899 đồng chí, 442 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (hiện còn sống 15 mẹ), 31 tập thể và 12 cá nhân được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (hiện 1 đồng chí còn sống).
Trong những năm qua, thấm nhuần đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”, với tình cảm sâu sắc, nghĩa tình trách nhiệm, cán bộ, chiến sĩ trong LLVT tỉnh đã cùng cấp ủy, chính quyền, ban ngành đoàn thể và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, bằng những việc làm thiết thực đã có những đóng góp tích cực trong thực hiện chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” tại địa phương. Đặc biệt là từ khi tái lập tỉnh đến nay đã tích cực tập trung giải quyết các tồn đọng về chính sách sau các cuộc chiến tranh như: Khảo sát, cất bốc, quy tập được 2.956 mộ liệt sĩ đưa về nghĩa trang liệt sĩ tỉnh, các đơn vị trong LLVT tỉnh nhận phụng dưỡng suốt đời 13 Mẹ Việt Nam Anh hùng (đến nay còn 2 mẹ). Giải quyết chế độ chính sách cho đối tượng theo Quyết định số 47/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được 331 trường hợp với tổng số tiền 804.060.000đ; Quyết định số 290,188,142,38/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 5.110 trường hợp với số tiền 15.615.300.000đ (trong đó Quyết định 142/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ 536 trường hợp với số tiền 1.731.700.000đ); Thẩm định và báo cáo quân khu theo Quyết định số 62/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được 3.085 hồ sơ (có quyết định hưởng 2.831 đối tượng với số tiền 10.785.300.000đ). Tổ chức xây dựng trao tặng 61 nhà tình nghĩa và 26 nhà đồng đội bằng tình cảm và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ đã đóng góp “Quỹ đền ơn đáp nghĩa” của Bộ Quốc phòng, Quân khu và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh với số tiền trên hơn 2 tỉ đồng để xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đồng đội tặng các đối tượng chính sách, quân nhân, thân nhân liệt sĩ có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở. 
Hàng năm nhân các ngày lễ, tết, ngày thương binh liệt sĩ 27/7... Bộ CHQS tỉnh tổ chức thăm tặng quà thương binh, thân nhân liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí tham gia kháng chiến qua các thời kì, cán bộ quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo với số tiền gần 200 triệu đồng/năm.
Trong những năm qua, Ninh Thuận luôn là tỉnh có tỉ lệ quân số trúng tuyển cao với chất lượng tốt trong địa bàn Quân khu. Để đạt được kết quả đó, Bộ CHQS tỉnh đã tăng cường công tác tuyên truyền Luật Nghĩa vụ quân sự đến mọi tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của công dân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  Tổ chức kiện toàn Hội đồng Nghĩa vụ quân sự đúng thành phần, phát huy tinh thần trách nhiệm của từng thành viên; chủ động phối hợp giữa cơ quan quân sự với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể làm tốt công tác tham mưu giúp ủy ban nhân dân tổ chức thực hiện. Quán triệt chủ trương tuyển người nào chắc người đó, không tiến hành bù đổi. Chú trọng nâng cao chất lượng của thanh niên nhập ngũ thông qua “3 gặp 4 biết”. Để động viên khích lệ công dân nhập ngũ, các địa phương thường xuyên làm tốt chính sách hậu phương quân đội, có kế hoạch tạo nguồn bồi dưỡng cán bộ cơ sở và xây dựng lực lượng dự bị động viên. Tiến hành chu đáo việc tổ chức giới thiệu, tư vấn ngành nghề cho bộ đội xuất ngũ.
Phát huy truyền thống quê hương cách mạng, tinh thần đoàn kết trên dưới một lòng, LLVT Ninh Thuận quyết tâm xây dựng đơn vị vững mạnh, thực sự là đội quân chiến đấu trung thành, tin cậy, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền và nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
PV: Xin cảm ơn đồng chí Chính ủy về cuộc trò chuyện này!

PV
 
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo