Họa sĩ Lê Thiết Cương: Hà Nội là cái tâm hút những tinh hoa của mọi miền về phía nó

Thứ sáu - 15/12/2017 12:13
logochuan - Tôi ngồi với họa sĩ Lê Thiết Cương tại 39 Lý Quốc Sư, ngay sau đêm diễn ra lễ kỉ niệm sinh nhật lần thứ 12 của Gallery 39. Đây là phòng tranh duy nhất ở Việt Nam cho tới nay hoạt động phi lợi nhuận. Trong 12 năm qua, khó ai có thể hình dung anh đã tổ chức tới 60 sự kiện tại đây. Đáng nói nữa, 60 sự kiện ấy chỉ có một phần là sự kiện cá nhân hoặc anh có tham gia, còn lại là anh dành cho bè bạn: Triển lãm tranh, ra mắt sách… Lê  Thiết Cương nói, đấy là cách anh “chơi”. “Chơi” là cái thú của anh. Nhưng “chơi” như thế nào thì là một câu chuyện dài…
 
PV:
Nhân khi chúng ta bắt đầu câu chuyện bằng việc “chơi”, tôi rất tò mò, là nó bắt nguồn từ đâu?

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Để tôi kể bạn nghe chuyện này. Cách đây mấy hôm, trên báo Tuổi trẻ có đăng một bài viết, giới thiệu cuốn hồi kí của bà Hoàng Thị Thế mới được tái bản. Bà Hoàng Thị Thế là con gái cụ Hoàng Hoa Thám. Sở dĩ tôi nhắc đến cuốn hồi kí này là bởi tôi đã từng được gặp bà cách đây hơn nửa thế kỉ, khi đó bà mới từ Pháp về. Bà là bạn của ông nội tôi. Nhà tôi lúc đó ở phố Hàng Thùng. Nhà ba tầng, có một cái ban công to, trồng rất nhiều hoa. Bà đi xích lô từ khu Văn Chương lên chơi với ông nội tôi. Hai người ngồi ngắm hoa quỳnh, bình về Đường Thi, Tống Thi. Và bà kí tặng ông cuốn hồi kí đó, giờ tôi vẫn giữ. Cái thời ấy nghèo. Thực sự là rất nghèo. Và họ vẫn vui với nhau trong cái nghèo ấy. Ông tôi có thói quen uống rượu với bạn thời Pháp. Và để giữ thói quen ấy, ông mua một quả gấc về, xong ủ thế nào đó cho lên men, rồi chắt ra và gọi đó là rượu mà ông nói là để “đón bà Thế đến chơi”. Tức là, vật chất thì không còn nhưng tinh thần sang trọng thì còn nguyên. Sự sang trọng như vậy không phải nằm ở vật chất. Đấy chính là tinh thần mà tôi học được từ ông nội tôi, mặc dù ông chẳng dạy tôi ngày nào. Các cụ ngày xưa chơi rất cầu kì, ví như cái thú ngắm hoa quỳnh, bình thơ, ví như chơi đồ cổ. Nhưng có những thú chơi như đồ cổ, muốn chơi thì phải hiểu, phải có tri thức. Cũng từ đấy, mà thấy cái sự sang trọng trong việc “chơi”...

PV: Anh nói, ông anh không dạy anh, tôi thấy hơi khó hình dung...

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Không dạy, nhưng rèn. Từ rèn mà thành người. Nhà ông nội tôi ở Hàng Thùng, rộng lắm. Trong nhà đầy đồ cổ, sập gụ tủ chè, hoành phi câu đối, rồi bể cá, rồi giường tủ bàn ghế chạm trổ… Trong cái không gian âm âm u u ấy, ông không dạy nhưng từng chút một cứ từ từ ngấm vào, rồi lớn mới thấy là mình thích những thứ mà ông đã thích trước đó hàng thế kỉ, rồi tôi lại học mĩ thuật nữa. Anh em chúng tôi đông. Lũ trẻ con hư là bị ông phạt bằng cách bắt dùng đũa, quấn giẻ vào và lau cho bằng sạch từng nếp khắc hình rồng phượng trên cái tràng kỉ. Ông có cái xe điếu bằng trúc, lúc nào nó cũng sạch bóng. Và cái việc lau thông hàng ngày ấy, bọn trẻ con cũng đều phải thay nhau làm.

Tôi hay được theo bà nội đi chợ. Cái chợ mà tôi ấn tượng nhất là chợ Hàng Bè. Chợ duy nhất có ba đầu: Hàng Bè, Cầu Gỗ, Đinh Liệt. Cho đến tận bây giờ, ba đầu chợ bao giờ cũng đương nhiên là ba hàng hoa, hàng lá. Hàng lá không bao giờ nằm giữa chợ. Đấy, những chi tiết như thế tự mình nhận thấy chứ cũng không cần bà phải dạy, phải chỉ. Hoặc là bà tôi hay mua dưa cà ở một hàng trong chợ. Cho đến tận bây giờ họ vẫn bán dưa cà. Bạn tưởng tượng xem, một cái nhà mặt tiền bốn mét, mà chỉ bán mỗi dưa cà. Đấy chính là “logo” cho một cái chợ cổ của Hà Nội. Một cái chợ nằm ở trung tâm của phố Hàng, một cái chợ dành cho những người sành ăn sành uống bậc nhất, thì nhất định đến quả cà muối cũng phải mua ở đúng một địa chỉ đó. Kì lạ không? Đến cả dưa cà cũng phải gia truyền, chứ đừng nói phở nhé. Cái hàng dưa cà đó, đến giờ chắc cũng thế hệ thứ ba thứ tư đứng bán rồi. Nhưng vẫn chỉ bán dưa cà, không bán cái gì khác, mặc kệ cho trời đất biến thiên.

PV: Nhân anh nói đến chợ Hàng Bè, có phải là cái chợ ở vùng đất nào thì nó sẽ phản ánh hình ảnh của vùng đất đó, văn hóa, hương vị của vùng đất đó rõ nhất không?

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Chính xác là thế đấy. Chợ là khuôn mặt của cư dân ở địa phương, là chân dung chính xác nhất của vùng đất đó. Mặc dù nhìn cái chợ nào cũng nhếch nhác như chợ nào, rau củ thịt cá, đi lại lép nhép nhưng nó vẫn rất rõ ràng ra chân dung một vùng đất. Chợ cổ ở Hà Nội thể hiện một Hà Nội cũ rất rõ. Ví dụ trong chợ Hàng Bè, có rất nhiều hàng giò chả, nhưng chỉ có một hàng luôn luôn đông khách. Hoặc là có rất nhiều hàng mắm tép chưng thịt, nhưng người ta lại chỉ nhăm nhăm đi tìm hàng mắm tép chưng thịt của bà Boong. Nó là cái thói quen kĩ tính của người Hà Nội. Lớp người mà tôi gọi là người Hà Nội cũ. Gọi thế để phân biệt với lớp người Hà Nội mới sinh sống ở đây chừng vài thập kỉ.

PV: Theo như tôi hình dung thì ông bà anh cũng từng thuộc vào lớp người khá giả ở Hà Nội…

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Ông nội tôi là một nhà tư sản gỗ. Nói dễ hiểu thì ông buôn và chế biến gỗ. Ông có một cái nhà máy chế biến gỗ ngoài đê sông Hồng. Vì ngày xưa phương tiện vận chuyển gỗ từ miền núi về không có, hầu hết chỉ là đóng bè theo sông. Vì thế mà nhà máy thì ở ngoài đê. Còn trong phố thì ông có đến cả chục cái cửa hiệu, nhà xưởng. Ông tôi chính là người làm cái đình Hàng Thùng còn đến bây giờ.

PV: Vậy trong gia đình anh, trước anh, có ai theo mĩ thuật không?

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Không có. Chỉ có mỗi mình tôi. Ngày xưa, các cụ thưởng thức nghệ thuật theo như tôi nhớ thì chỉ có nghe hát cô đầu, hoặc ngồi với nhau bình thơ bình văn. Thế nên, tôi thấy bây giờ tôi chơi còn được nhiều hơn các cụ.

PV: Anh này, khi nghĩ về Hà Nội, về người Hà Nội, tôi cảm thấy cái hồn cốt của người Hà Nội nằm ở bóng dáng người phụ nữ rất rõ…

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Bạn nói đúng đấy. Một trong những dấu vết của Hà Nội chính là nằm ở nét ăn, ở cái mà chúng ta gọi cầu kì văn hóa ẩm thực. Mẹ tôi là một người phụ nữ Hà Nội điển hình. Bà là dâu trưởng, và được mẹ chồng, chị chồng rèn rất kĩ, đặc biệt là trong việc bếp núc. Sau này, em gái tôi cũng được mẹ rèn kĩ lưỡng như thế. Bác tôi có nói với tôi, bác dạy nấu ăn cho mẹ mày, phải dạy nấu cơm và nấu cỗ. Có người nấu cỗ rất ngon nhưng không biết nấu cơm. Đấy, từ bữa ăn hàng ngày cũng đều phải kĩ lưỡng vô cùng. Mẹ tôi có thể nấu rất nhiều món mà giờ có khi nhắc đến nhiều người còn chưa nghe tên bao giờ, bà cũng có thể làm rất nhiều loại bánh trái. Nấu ăn với bà là niềm vui, là hứng thú, là thứ để tiêu khiển nên chẳng bao giờ bà ngồi không mà luôn chân luôn tay.

PV: Nói đến chuyện ăn, ai cũng nói người Hà Nội khó tính, khó chiều…

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Tôi hình dung thế này: Hà Nội là cái tâm, hút những tinh hoa của mọi miền về phía nó. Chứ bản thân nó là “zero”. Nó không có gì hết. Và chính vì không có gì nên nó mới dung chứa được tinh hoa của mọi miền. Nhưng cái đáng nói là gì? Khi về đến Hà Nội, thì những tinh hoa ấy được người Hà Nội thêm vào các “vi chất”, để nó trở thành riêng có, thành không giống bất kì nơi nào khác. Tôi lấy ví dụ thế này. Ai cũng biết Hải Dương là “thủ phủ” của rươi, với vô số những món chế biến từ rươi, rươi là đặc sản Hải Dương. Nhưng chỉ khi về Hà Nội thì món chả rươi mới có thêm một thành phần là vỏ quýt hôi. Đấy, cái việc thêm vỏ quýt hôi vào món chả rươi ấy, tôi nghĩ có thể xem chính là một thứ “vi chất”. Hoặc món mắm tép chẳng hạn. Hà Nội thì không có tép, mắm tép không phải là món của Hà Nội. Nhưng tại sao nó lại trở thành đặc sản của Hà Nội tới nỗi mà cho dù đi ra nước ngoài người ta vẫn thèm, vẫn nhớ?

Hôm vừa rồi, tôi mời vợ chồng anh Bá Chung (nhà văn - dịch giả Nguyễn Bá Chung, hiện sống và viết tại Mĩ - PV) tới nhà ăn cơm. Anh Chung nói anh chỉ muốn ăn một bữa cơm bình thường, với những món hết sức bình thường của Hà Nội thôi. Tôi nói với mẹ tôi. Mẹ tôi làm món ốc hấp lá gừng. Và bạn biết không, để làm nước chấm, thì bà phải tự ủ mẻ bằng cơm nếp, rồi xay nhuyễn ra, lọc lấy nước làm nước chấm...

PV: Tôi hiểu, các món ăn mà có nước chấm thì hơn nhau nhiều khi chỉ ở nước chấm mà thôi. Lại nói sang món ăn, có phải mọi thứ nó đều còn nguyên như xưa không? Những món gắn liền với Hà Nội mà ai đến cũng tìm ấy?

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Lâu rồi tôi không ăn phở Bát Đàn. Vì sao? Vì phở ấy bây giờ phục vụ khách du lịch là chính, và họ đã làm cho nó quá ngọt. Cái gì làm nhiều cũng không thể ngon được. Muốn ngon phải làm kĩ, mà làm kĩ thì chỉ có thể làm vừa phải thôi. Nhiều món nổi tiếng của Hà Nội xưa đã không còn nguyên vẹn là nó nữa.

PV: Vẫn chủ đề món ăn, tôi cũng thấy Hà Nội có những món mà chắc là chẳng ở đâu trên trái đất này có, ví dụ như cháo đậu cà muối chẳng hạn. Tôi phải thú thật là dù đã làm dâu một gia đình ba bốn thế hệ ở Hà Nội nhưng tôi cũng không thể nào theo mấy bà chị chồng ra chợ Hôm để thưởng thức món đó được.

Họa sĩ Lê Thiết Cương: À, cái đó thì tôi thấy thế này. Đôi khi chúng ta ăn món gì đó, không hẳn vì nó ngon đâu. Mà là chúng ta ăn kí ức đấy. Tôi nhớ hồi xưa người Hà Nội hay ăn phở với cơm nguội chẳng hạn. Hoặc tôi thỉnh thoảng rất nhớ món mắm tép ăn với một bát cơm nóng. Duy nhất mắm tép, không có thêm cái gì, ăn với cơm nóng. Đến giờ tôi vẫn nhớ món đó, và vẫn hình dung là nó ngon. Nhưng tôi chắc là chúng ta ăn kí ức đấy. Kí ức của những năm tháng nghèo khó.

 
IMG 3310 copy
Họa sĩ Lê Thiết Cương tại Gallery 39A Lý Quốc Sư, Hà Nội - Ảnh: TL

PV: Tôi luôn cảm thấy vẫn có một dòng chảy ngầm của văn hóa Hà Nội, văn hóa phố cổ. Nó có thể xê dịch, có thể mai một, nhưng tôi vẫn cảm thấy nó…

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Xã hội nào con người ấy. Với xã hội như hôm nay, với những xô bồ mà chúng ta đang nhìn thấy, và cái phần xô bồ thiếu tinh tế ấy lại rất đông, lại đa số thì tôi dám chắc cái mà bạn đang cảm thấy nó sẽ càng lúc càng cùn mòn đi. Chúng ta đã phải thay đổi thói quen rồi. Cho dù là thay đổi bằng cách từ chối ăn một bát phở ở hàng quen đã mấy chục năm.

Lại nói phở. Hôm rồi tôi dẫn một người bạn đi ăn phở Tư Lùn,  Ấu Triệu. Cháu ông Tư Lùn chứ ông ấy mất lâu rồi. Phở ở đây có đặc điểm là nước dùng rất đục. Nó chống lại toàn bộ lí thuyết nước dùng trong, mà nó vẫn tồn tại được, chứng tỏ nó phải có cái gì đấy hấp dẫn. Ăn ở đây, so với thời bao cấp thì thiếu đúng một chi tiết thôi. Đó là bây giờ họ để sẵn một cái bát đựng thịt thái sẵn, rồi cứ thế nhặt vào bát phở, chan nước dùng. Làm thế thì như tôi, sẽ không được nghe tiếng người bán hàng thái miếng thịt bò trên thớt, xong lấy cái sống dao đập cạch cạch cạch rồi dùng chính cái lưỡi dao ấy, tách miếng thịt, hất nhẹ vào bát phở. Đấy, chính là vì khách đến ăn đông quá, người ta chỉ chỉ có thể thái sẵn từ đêm, từ sáng sớm, để kịp phục vụ, mà những chi tiết đầy hình ảnh, đầy âm thanh kia nó buộc phải biến mất. Hoặc tôi nhớ hàng phở Pha ở Sinh Từ. Họ cất gầu bò trong ngăn kéo. Khi có khách đến gọi phở gầu thì họ kéo cái ngăn ra, lấy miếng gầu, đặt lên thớt. Dao thái gầu phải cực sắc. Họ chỉ cần miết một cái, miếng gầu mỏng dính, trong như tờ pơ luya, mép hơi cong lên, rơi ra... Trông rất đẹp mắt.

PV: Anh thuộc lớp người Hà Nội cũ, theo cách gọi của anh. Vậy mai kia lớp người cũ mà đi hết rồi thì Hà Nội còn gì?

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Câu này khó (cười). Tại vì đến đời con tôi chúng đã không quan tâm nữa rồi, sống kiểu khác rồi, không hiểu nó còn ở đâu. Những gì mà tôi thấy rất quý giá, tôi nâng niu, gìn giữ thì các con tôi lại chẳng thấy có giá trị gì. Đấy, mất đi từ ngay trong nhà mình ấy chứ.
Thôi, không hi vọng đâu bạn ạ.

PV: Tôi thì mới sống ở Hà Nội đến nay là tròn 20 năm, chính là thuộc lớp người Hà Nội mới như anh liệt kê đấy (cười), nhưng tôi đã rất yêu Hà Nội. Và tôi nghĩ, yêu cũng phải biết cách. Cái cách mà tôi chọn ấy là né ra khỏi những thứ hỗn tạp, những thứ khó chịu… mà ai đến Hà Nội cũng kêu ca than vãn. Ví dụ, khi tôi ở xa trung tâm, đi làm, tôi chọn đi sớm hơn mọi người 10 phút, thế là tôi sẽ không bao giờ phải chịu khói bụi, tắc đường. Hoặc tôi chẳng dại gì mà xếp hàng để đợi được ăn một bát phở hay bát cháo, rồi còn nghe chửi nữa. Tôi ăn tạm một cái bánh mì cho xong. Đại khái thế. Còn anh, anh đang sống như thế nào trong tất cả những bừa bộn ấy?

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Tinh hoa của bao miền nó đọng lại ở phố cổ Hà Nội, nó đọng lại ở tất cả những cái sơn son thiếp vàng, ở tượng, ở đồ gốm, ở hoành phi câu đối... mà bạn có thể nhìn thấy đây.  Đấy đều là thầy của tôi cả. Qua hàng nghìn năm cô đọng lại và tôi chỉ có việc hưởng thụ nó thôi. Và hàng ngày tôi sống, tôi ở trong nó, hít thở nó, tôi tận hưởng nó. Tôi đang sống như thế đấy. Biết làm việc, và biết hưởng thụ. Mắt tôi hàng ngày được mài thường xuyên trong những tinh hoa của văn minh Bắc Bộ, của văn hóa Hà Nội, nên tự khắc nó tinh ra. Đồng thời, mặc dù do nhiều yếu tố, nhưng người làm mĩ thuật thì nhu cầu thẩm mĩ cao hơn người khác. Tuy nhiên, tôi cũng chỉ mạnh về thẩm mĩ thôi, chứ nếu bạn bảo tôi đi chọn giúp bạn cái xe máy chẳng hạn, thì tôi có khi chỉ nhìn thấy cái xe này màu đẹp, hoặc cái xe kia có cái gương trông rất hay, thế là vứt đi rồi. Bù lại, ông giời cho tôi thưởng thức mọi vẻ đẹp, dù chỉ là một vệt nắng.

PV: Vâng, nhưng tôi nghĩ muốn tinh, muốn mài thì phải có điều kiện…

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Tất nhiên. Thế nhưng sao bạn không nói luôn, có đầy người có điều kiện, giàu bằng mấy tôi ấy chứ, họ có mài đâu.

PV: Nhưng trước khi anh mài thì anh phải chuẩn bị điều kiện chứ? Tôi hỏi tò mò chút, anh chuẩn bị thế nào vậy? 

Họa sĩ Lê Thiết Cương: À, những ngày đầu tiên tôi bán được tranh là từ tháng 5 năm 1991, thì tôi đã đi mua những thứ tí xíu rồi. Những cái lọ gốm, có khi nó bị vỡ người ta bán rẻ, tôi đã để dành tiền bán tranh để đi mua về. Vì tôi mê gốm lắm. Từ đó, cứ làm được đồng nào là để dành mua gốm, mua đồ gỗ, đồ cổ...

PV: Thế nhưng nếu anh không vẽ tranh, không kiếm được (nhiều) tiền từ tranh, thì anh sẽ chơi bằng cách nào?

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Tôi nói với bạn thế này, có những thú chơi không hề tốn tiền, vấn đề là bạn có tri thức hay không. Cách đây hai mươi năm, khi ngư dân trục vớt đồ cổ trong cái tàu đắm ở Cửa Đại và bạn biết không, khi ấy họ mang bán bằng cân. Có ai biết là nó có giá trị đâu. Thì tôi và vài người bạn đã mua rồi, rẻ lắm. Đấy, tôi chứng minh với bạn là không phải lúc nào cũng cần thật nhiều tiền mới chơi được. Cái quan trọng là sự hiểu biết, là tri thức. Chứ nếu tôi kiếm được tiền nhưng tôi lại không chơi gốm, không chơi bàn ghế giường tủ mà tôi đi buôn đất chẳng hạn, thì đến giờ cũng... chẳng biết thế nào.

PV: Sinh ra, lớn lên ở Hà Nội, cũng nhìn thấy những biến động của Hà Nội, những mất đi của Hà Nội, thậm chí phần nào đoán định được tương lai của văn hóa phố cổ, vậy có khi nào anh nghĩ anh sẽ xê dịch tới một vùng đất khác đế sống không?

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Không bao giờ. Tôi thích đi nhiều nơi, thích Sài Gòn, thích Hội An, nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ mình sẽ sống ở những nơi đó.

PV: Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện thú vị này!

ĐỖ BÍCH THÚY thực hiện
 
 
 
 
 
 
 
 

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo