Hình ảnh gà trong văn hóa, ngôn ngữ Việt

Thứ bảy - 28/01/2017 20:04
 . NGUYỄN VĂN HÙNG
Là vật nuôi được thuần hóa từ lâu trong tự nhiên, gà gắn bó mật thiết với cuộc sống con người, trở thành loài vật linh thiêng trong các nền văn hóa, gắn chặt với nhiều hệ thống tín ngưỡng và thờ cúng tôn giáo. Trong thần thoại Hi Lạp, gà trống có mặt bên cạnh Léto, khi nữ thần này có mang với thần Zeus, sinh ra Apollon và Artémis. Vì thế nó được cung hiến cùng một lúc cho cả các vị nam thần ở thái dương (Zeus, Apollon) lẫn các vị nữ thần ở thái âm (Léto, Artémis). Mặc dù đã có lời khuyến dụ của Pythagore rằng “hãy nuôi gà trống và đừng giết nó bởi vì nó được cung hiến cho mặt trời và mặt trăng”, gà trống vẫn bị hiến tế cho Asclépios (thần y học). Có thể nhận thấy sứ mệnh dẫn dắt linh hồn của gà trống trong câu chuyện huyền thoại này, nó báo tin cho thế giới bên kia và dẫn dắt linh hồn người quá cố sang cõi ấy. Vai trò dẫn dắt linh hồn người chết về thế giới bên kia cũng được người La Mã trao cho gà trống khi chúng có mối liên hệ với thần Mercure, vị sứ giả đi ngược xuôi khắp ba cõi sinh tồn từ âm phủ lên thiên giới để đưa tin cho các vị thần. Bên cạnh ý nghĩa quan trọng về mặt tôn giáo ấy, người La Mã còn xem gà như một nhà tiên tri. Họ tin rằng, khi mở lồng cho gà ăn, nếu gà đập cánh hoặc bay đi thì là điềm xấu, còn nếu nó ăn ngấu nghiến thì là điềm tốt. Khác với tín ngưỡng người Hi Lạp - La Mã cổ đại, trong các nghi lễ thụ pháp và bói toán của một số bộ tộc châu Phi, vai trò sứ giả dẫn linh hồn người chết được một số bộ tộc ở đây giao cho gà mái. Với người Do Thái giáo chính thống, nghi lễ hiến tế gà hoặc cá (nghi thức kapparos) mang ý nghĩa vật hiến tế sẽ đem đi mọi tội lỗi của người làm lễ. Cái chết của vật hiến tế như một lời nhắc nhở những kẻ sám hối rằng mọi sinh mệnh của họ đều nằm cả trong tay Thượng đế. Gà trống, cùng với chó và ngựa, cũng là con vật dẫn hồn người chết được hiến sinh trong các tang lễ của người Đức cổ.

Gà trống với tiếng gáy dõng dạc, oai hùng báo hiệu mặt trời mọc của mình còn là biểu tượng cho trí minh tuệ, sự sáng suốt trong nhiều nền văn hóa. Trong đạo Hindu ở Ấn Độ, gà trống là vật hiệu của thần Skanda (thần chiến tranh), là hiện thân của năng lượng mặt trời. Trong Thánh Kinh, Giêsu mượn hình ảnh “gà mẹ túc con mình lại ấp trong cánh” để nói lên tình yêu thương đặc biệt Ngài dành cho dân Hebrew (Do Thái). Nhưng cũng chính Ngài thấy được ở gà trống biểu tượng của sự cảnh giác, sự phản bội và sự thức tỉnh. Ba lần chối mối quan hệ với Thầy của Phêrô đã được Giêsu tiên báo từ trước: “Thầy bảo thật anh, nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần” (kinh Tân Ước). Ba trong bốn cuốn sách Phúc âm trong Tân Ước viết về cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu đều đề cập chuyện gà trống đóng vai trò là hiện thân của Chúa. Vào thế kỉ VI, Giáo hoàng Grêgôriô I, vị giáo hoàng thứ 64 của Giáo hội Công giáo đã tuyên bố gà trống là biểu tượng của Kitô giáo. Đến thế kỉ IX, Giáo hoàng Nicôla I, vị giáo hoàng thứ 105 của Giáo hội Công giáo đã ra lệnh đặt hình gà trống lên tất cả các chóp tháp và tháp chuông nhà thờ. Vị trí trên đỉnh các thánh đường ấy có thể “gợi nhớ về sự ưu thế của tinh thần trong đời sống con người, về nguồn gốc từ trên trời của ánh sáng cứu rỗi, về sự cảnh tỉnh của tâm linh chăm chú nhận bắt trong bóng tối đang tan của đêm những tia sáng đầu tiên của tinh thần sẽ chiếu rọi khắp thế gian”. Bằng tiếng gáy của mình kêu gọi mọi người cầu nguyện khi đêm dần trở về sáng, gà trống được nhà tiên tri Mahammad ban cho những kích thước của vũ trụ. Trong đạo Hồi, so với các loài vật khác, nó nhận được một sự ngưỡng mộ vô song. Chính nhà tiên tri của đạo Hồi đã thừa nhận: “Gà trống trắng là bạn của ta; nó là kẻ thù của kẻ thù của Thượng đế… Tiếng gáy của nó chỉ báo sự có mặt của thiên thần”. Ở Nhật Bản, trong câu chuyện thần thoại Kojiki (Cổ sự kí), tiếng gáy của gà trống hòa quyện cùng tiếng hát của các vị thần đã khiến nữ thần Mặt trời Amaterasu phải rời khỏi Thiên Nham cung (hang trời) đem lại ánh sáng cho dương gian. Amaterasu là vị thần quan trọng nhất trong Thần đạo (Shinto). Sự xuất hiện của nữ thần ứng với việc mặt trời mọc và sự phát lộ ánh sáng. Điều này giải thích tại sao những con gà trống thiêng được nuôi dưỡng, đi lại tự do trong sân vườn các đền thờ lớn của đạo Shinto.

Trong kinh điển nhà Phật, gà là một trong thập nhị súc, hay còn gọi là mười hai thời thú, bắt nguồn từ Đại phương đẳng đại tập kinh, quyển 23 - Tịnh mục phẩm. Mười hai loài vật này là biến hiện của Bồ Tát độ hóa chúng sinh, một ngày một đêm có một con vật lên trời để giáo hóa chúng sinh, sau 12 ngày, có 10 con vật tu đức, được đầu thai. Phật điển thường dùng “kim kê” (gà vàng) để ví với tự tính thanh tịnh của chúng sinh. Gà cũng xuất hiện trong các trường từ vựng liên quan đến Phật giáo Thiền tông như “lấy gà làm phượng” ám chỉ sự không phân biệt được chính pháp và vọng tưởng, “chim gà đi trên tuyết” ví với sự khác biệt giữa chân lí và bình đẳng, “giả làm tiếng gà” hàm chỉ ý đồ lừa gạt.

Như vậy, từ Đông sang Tây, tự cổ chí kim, dù đậm nhạt khác nhau ở các nền văn hóa, gà đã trở thành một biểu tượng xuyên văn hóa, có sức mạnh biểu trưng phong phú, đa dạng cho những ý niệm đa chiều, đa diện và thâm sâu về vũ trụ, nhân sinh, nhân dạng, nhân tâm, nhân tính. Biểu tượng này làm nên độ sâu, sức nén, tiếng vang ngân trong sự tri nhận của mỗi tộc người gắn với mỗi đặc tính tư duy, mỗi nền văn hóa khác nhau.

 
ga me con 2
Hình tượng gà trong tranh Đông Hồ-Tranh: ST

Ở nước ta, sự hiện hữu của gà trong tín ngưỡng của người Việt góp phần quan trọng vào việc kiến tạo nên một biểu tượng văn hóa truyền thống. Cùng với những vật nuôi quen thuộc như trâu, lợn, chó, gà gắn với người nông dân trồng lúa nước như hình với bóng. Ngay từ những buổi sơ khai, gà đã đi vào đời sống vật chất và tinh thần người Việt. Không phải ngẫu nhiên gà (cùng với chim) là loài vật được thể hiện khá nhiều trên trống đồng Đông Sơn. Hình ảnh của nó cũng được lưu lại trong các câu chuyện thần thoại (Thần Sét, Cường Bạo đại vương) hay trong truyền thuyết về An Dương Vương, Sơn Tinh - Thủy Tinh…

Trong tín ngưỡng thờ cúng của người Việt, con gà có một vị trí đặc biệt quan trọng. Người Việt cúng tế thần linh, tổ tiên vào những dịp lễ, tết bằng gà trống. Điều này xuất phát từ quan niệm của người Việt xem con gà là loài tam sinh, đại diện cho trời, đất và nước: đầu giống rồng, mình giống công, đuôi giống tôm. Bởi là lễ vật giao cảm với thế giới linh thiêng, thần bí, được thần linh gửi gắm những điềm báo nên gà còn được dùng trong bói toán (bói chân gà). Người ta tin rằng, những “chỉ dấu” trên đôi chân gà là cách thần thánh “báo hiệu” cho con người về tương lai, số mệnh. Người Việt có hẳn những bài phú bói chân gà nhằm giải mã các lời tiên báo của thế giới thần bí.

Có thể thấy, gà không chỉ là vật nuôi gần gũi, thân thuộc mà còn là loài vật linh thiêng đối với người Việt từ khởi thủy đến nay. Do đó, gà đã đi vào lời ăn tiếng nói của dân tộc một cách tự nhiên, nhuần nhị. Dựa vào các bộ phận của gà, người Việt đã sáng tạo kho từ vựng phong phú liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống: cánh gà (màn che hai bên sân khấu), lưỡi gà (một bộ phận của kèn hơi), ruột gà (một bộ phận làm nóng trong ấm điện hoặc làm lạnh cho hơi nước ngưng đọng), cựa gà (chốt để giữ then cửa)… Với những đặc tính rất riêng, “gà” được sử dụng trong một số thuật ngữ chuyên môn của ngành y và thú y: cúm gà, ho gà, quáng gà, hóc xương gà, nổi da gà…

Hình ảnh gà cũng thường được ví von, liên tưởng, ám chỉ về con người. Về hình dáng có “mặt như gà mái”, “mặt đỏ như gà chọi”, “mặt tái như gà cắt tiết”, “da trắng như trứng gà bóc”, “da gà, tóc hạc”, “thư sinh trói gà không chặt”…; về hành vi - tâm trạng có “ngây ngô như gà mờ, lờ đờ như đom đóm đực”, “ngơ ngác như gà con lạc mẹ”, “nhớn nhác như gà con gặp quạ”, “dáo dác/te tái/rối như gà mắc đẻ”, “ủ rũ như gà rù/gà phi trời mưa”, “gà mở cửa mả”, “lúng túng như gà mắc tóc”, “lờ đờ như gà ban hôm”, “lép bép như gà mổ tép”, “lộp độp như gà mổ mo”, “chửi như mất gà”…; về đức tính - phẩm chất có “con rắn không chưng (chân) lượn năm rừng bảy rú/ con gà không vú nuôi đặng chín mười con”, “cuốc kêu réo rắt đầu non/ gà rừng táo tác gọi con tha mồi”, “gà khôn giấu đầu, chim khôn giấu mỏ”, “khách đến nhà không gà thì vịt”, “gà trống nuôi con”, “gà què bị chó đuổi”, “vạ vịt chưa qua, vạ gà đã đến”, “đuổi gà cho vợ”, “bìm bịp bắt gà trống thiến”, “gà ri mâm gạo”…

Dân gian đã tạo dựng kho kinh nghiệm sống liên quan đến con gà. Việc ăn uống có các câu: “gà ba tháng vừa ăn, ngựa ba tháng vừa cưỡi”, “gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm”, “gà độc thịt, vịt độc trứng”, “gà lấm lưng, chó sưng đồ”, “cau hoa gà giò”, “chó tháng ba, gà tháng bảy”, “con gà cục tác lá chanh”, “ếch tháng ba, gà tháng bảy”, “cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà nhảy ổ”, “gạo tám xoan, chim ra ràng, gái mãn tang, gan gà giò”, “đầu gà đít vịt”, “vịt già, gà tơ”. Chuyện chữa bệnh có câu “chó liền da, gà liền xương”. Chuyện chọn giống, chăn nuôi, buôn bán có các câu: “gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua/ gà trắng chân chì mua chi giống ấy”, “vịt rằn, gà cúp chớ nuôi”, “chuồng gà hướng đông cái lông chẳng còn”, “giàu lợn nái, lãi gà con”, “lợn nhà gà chợ”, “lợn thả, gà nhốt”, “gà ngày gió, chó ngày mưa”. Chuyện thời tiết có các câu: “chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”, “cỏ gà loang lổ trời đổ mưa ngay”, “ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa”, “ráng mỡ gà, ai có nhà thì chống”, “cỏ gà màu trắng, điềm nắng đã hết”…

Thông qua hình ảnh về con gà, dân gian cũng gửi gắm những bài học, triết lí nhân sinh sâu sắc, qua đó thể hiện nét văn hóa, lối sống, cách ứng xử mang đậm căn tính dân tộc. Đó là lời nhắn nhủ thận trọng, cân nhắc trước mỗi lời nói, việc làm của mình: “bút sa gà chết”, “gà ba lần vỗ cánh mới gáy, người ba lần ngẫm nghĩ mới nói”; lời khuyên nhủ phải biết yêu thương, đùm bọc, tránh gây xung đột, mâu thuẫn: “khôn ngoan đối đáp người ngoài/ gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”, “gà nhà bôi mặt đá nhau”, “chân gà lại bới ruột gà”, “gà nhà lại bươi bếp nhà”; lời cảnh báo về tâm lí ăn thua, ghen tị, nhỏ nhen, đua đòi, làm theo có thể gây những hậu quả khôn lường: “con gà tức nhau tiếng gáy”, “gà chết vì tiếng gáy”, “gà người gáy, gà ta cũng đập cánh/le te”. Đó còn là lời chê bai ai đó ỷ vào thế có lợi của mình mà hung hăng bắt nạt người khác: “chó ỷ thế nhà, gà ỷ thế vườn”, “chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”; chê trách những người kém cỏi, thiển cận, không biết nhìn xa trông rộng, không dám đi xa, chỉ quanh quẩn một nơi: “gà què ăn quẩn cối xay”, “giết gà lấy trứng”; phê phán kẻ hám lợi, keo kiệt, bủn xỉn: “gà béo bán bên Ngô, gà khô bán láng giềng”, “đãi cứt sáo lấy hạt đa, đãi cứt gà lấy hạt tấm”; phê bình kẻ có thói trăng hoa, không đứng đắn: “mèo mả gà đồng”; lên án hành động mang kẻ ác, kẻ nham hiểm đến làm hại người thân của mình, rộng hơn là hành động phản bội đồng bào, đưa giặc vào giày xéo tổ quốc: “cõng rắn cắn gà nhà”; châm biếm những việc làm không phù hợp, chẳng đi đến đâu, có khi lại phản tác dụng: “mổ gà dao trâu”, “học như gà đá vách”…

Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc, là hình ảnh trực tiếp của tư duy. Hình tượng gà ánh xạ trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của người Việt phần nào đã thể hiện nét văn hóa cũng như tâm hồn Việt qua cách nói, cách nghĩ, cách làm. Lắng nghe từ những điệu nói ấy, chúng ta sẽ nhận ra gương mặt, tiếng nói của dân tộc. Gần gũi, bình dị, có khi thông tục, suồng sã nhưng mỗi câu từ lại mang một chiều sâu của thứ triết học tự nhiên - văn hóa - nhân sinh sâu sắc.

Từ một biểu tượng xuyên văn hóa, gà đã in “dấu chân” trong tín ngưỡng, phong tục, văn hóa người Việt từ thuở xa xưa. Quá trình dịch chuyển, thẩm thấu từ “mẫu gốc” ấy đã thể hiện đặc trưng văn hóa, dân tộc trong cách nghĩ, lối nói của người Việt. Khám phá về biểu tượng gà trong văn hóa dân gian, trong ngôn ngữ và đời sống cũng là cách để chúng ta tiếp cận, khám phá và luận giải những biểu hiện đa diện, nhiều chiều, phức tạp của văn hóa, tâm thức, dân tộc tính - một dân tộc sống chan hòa với thiên nhiên, sống nghĩa tình với đồng loại, sống trách nhiệm với bản thân.
 
N.V.H

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)