Bộ đội Công binh đẹp cả trong chiến tranh và hòa bình

Chủ nhật - 16/04/2017 00:35
Sau khi đất nước giành được độc lập, trước yêu cầu phát triển của cách mạng, ngày 25/3/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh 34/SL quy định tổ chức Bộ Quốc phòng. Theo đó, Công chính giao thông Cục (tiền thân của Binh chủng Công binh Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay) được thành lập và trở thành lực lượng “mở đường” trong các cuộc chiến tranh để quân đội giành hết chiến thắng này đến chiến thắng khác. Và hiện nay, những người lính công binh ngoài nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu lại đang tham gia tích cực vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
 
Nhằm giúp độc giả có một cái nhìn sâu hơn về một lực lượng đặc biệt, đoàn nhà văn Tạp chí Văn nghệ Quân đội có cuộc đối thoại với Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn, Tư lệnh Binh chủng Công binh.
 
Bộ đội công binh tham gia diễn tập cứu hộ cứu nạn hiệp đồng quân binh chủng - Ảnh: tư liệu
 
PV: Thưa đồng chí Tư lệnh! Có lẽ xin bắt đầu câu chuyện từ thời chống Pháp. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội công binh chỉ với những dụng cụ thô sơ là búa chim và cuốc xẻng nhưng đã tạo ra một hệ thống giao thông hào được ví như những chiếc thòng lọng dần dần xiết chặt các cứ điểm. Đặc biệt tại Đồi A1, công binh đã đào một đường hầm dài để đưa 1000kg thuốc nổ TNT vào giữa lòng đồi, tạo ra một vụ nổ long trời lở đất ngay dưới sở chỉ huy địch khiến quân Pháp táng đởm kinh hồn, mất ý chí kháng cự, dẫn đến tan rã dây chuyền cả một tập đoàn cứ điểm…
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Hệ thống giao thông hào trong Chiến dịch Điện Biên nói chung và vụ nổ trên Đồi A1 có thể được coi là biểu tượng của tính sáng tạo, lòng can đảm và ý chí tiến công của bộ đội công binh. Tuy nhiên, chúng ta cần quay lại những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, cả nước nhất tề đứng lên chống thực dân Pháp. Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt ở Hà Nội và nhiều thành phố, thị xã. Phong trào phá hoại đường sá, cầu cống, sân bay, nhà cửa và các căn cứ của địch được tiến hành rộng khắp trên các chiến trường. Các đơn vị công binh vừa mới ra đời đã trở thành lực lượng xung kích cùng cả nước thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, ngăn chặn bước tiến của địch. Suốt chín năm kháng chiến trường kì, bộ đội công binh luôn là lực lượng đi đầu trong mọi chiến dịch với nhiệm vụ mở đường, làm cầu, đào hầm, xây dựng sở chỉ huy… Và trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ đội Công binh đã có vai trò cực kì quan trọng khi hoàn thành một mạng lưới giao thông dài tới 500 km trong điều kiện đèo cao vực sâu, thời tiết mưa gió, máy bay địch oanh kích ngày đêm, đảm bảo cho các đại đoàn chủ lực với nhiều vũ khí, khí tài, trang bị nặng đến được vị trí an toàn, bí mật tuyệt đối. Kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Chỉ huy đã ghi nhận: “Đội công binh mở đường thắng lợi, suốt mùa hè không nghỉ, giữ vững giao thông, không có con đường ấy, không có chiến dịch này.” Đó cũng chính là điều khiến các nhà quân sự thế giới kinh ngạc. Ngay cả những tướng lĩnh quân đội Pháp cũng phải thú nhận họ không hiểu nổi là làm sao chúng ta lại có thể mở được những tuyến đường thần kì, đưa được những cỗ pháo hạng nặng vào sát Điện Biên Phủ để dội sấm sét lên đầu họ, làm nên chiến thắng “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.”
 
PV: Vậy là truyền thống “Mở đường thắng lợi” của bộ đội công binh được định vị trong Chiến dịch Điện Biên Phủ và tiếp tục phát triển suốt cuộc kháng chiến chống Mĩ. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, bộ đội công binh được giao nhiệm vụ làm một con đường để xe tăng ta có thể bí mật, bất ngờ xung kích đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Và các chiến sĩ công binh đã có một ý tưởng tuyệt vời: Mở một con đường mới qua một rừng cây. Những thân cây được đánh dấu và chỉ cưa sát gốc một nửa nên vẫn sống xanh tốt khiến máy bay trinh sát của địch không thể nào phát hiện. Và khi có lệnh xuất kích, xe tăng ta đã băng băng húc đổ những cây rừng đã được cưa, dũng mãnh tiến vào thị xã khiến địch trở tay không kịp. Đây là một sáng tạo có lẽ độc nhất vô nhị trên thế giới?
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Sáng tạo của bộ đội công binh thì viết cả cuốn sách dày không hết. Có thể nói, ở mọi mặt trận, ở mọi trận đánh đều xuất hiện những sáng tạo. Nhưng sự sáng tạo tuyệt vời nhất, đỉnh cao nhất đó chính là những sáng tạo của bộ đội công binh khi mở con đường Trường Sơn.
Hẳn chúng ta đều nhớ, sau khi đại bại ở Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải kí Hiệp định Genève tôn trọng quyền độc lập thống nhất của Việt Nam. Nhưng thực tế đã không diễn ra như thế. Đất nước tạm thời bị chia cắt, đợi ngày tổng tuyển cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn rõ âm mưu đen tối của các nước lớn nên đã có chủ trương xây dựng miền Bắc thành hậu phương xã hội chủ nghĩa vững chắc, tạo thế cho cách mạng miền Nam. Bởi vậy bộ đội công binh được giao nhiệm vụ ngoài tham gia xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, cầu đường… còn phải bắt tay ngay vào xây dựng những công trình phòng thủ quan trọng. Trước tình hình Mĩ - Diệm tuyên bố phá bỏ Hiệp định, đồng thời tiến hành chiến dịch tố Cộng, diệt Cộng nhằm chia cắt đất nước lâu dài; Trung ương Đảng đã nêu quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước với quyết định quan trọng là mở đường Trường Sơn. Các đơn vị công binh được lệnh tham gia cùng Đoàn vận tải quân sự 559 làm con đường này. Ròng rã hàng chục năm trời, các trung đoàn công binh cùng với các đơn vị bạn và lực lượng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến đã mở hàng chục ngàn kilômét đường, tạo nên một mạng đường cơ động chiến lược nối liền hậu phương miền Bắc với chiến trường miền Nam, chiến trường Lào, Campuchia…, trong đó nổi bật là tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử. Từ những con đường mòn men theo vách đá cheo leo, bộ đội phải chống gậy trèo đèo lội suối mất từ ba đến bốn tháng mới vào đến mặt trận đã biến thành con đường xe có thể chạy hai chiều, bộ đội chỉ mất hơn một tuần đã có thể đến các mặt trận xa xôi. Mạng đường chiến dịch nối liền hai trục đường Trường Sơn tỏa đi khắp nơi tạo thế chủ động để quân ta sẵn sàng áp đảo kẻ thù. Để có được hệ thống đường Trường Sơn, đã có biết bao nhiêu sáng tạo tuyệt vời trong nhiệm vụ phá đá mở đường, phá thủy lôi, bom từ trường, bom nổ chậm… trên các bến phà, cung cầu đường, ngầm trọng điểm và cũng đã có rất nhiều cán bộ chiến sĩ công binh đã dũng cảm hi sinh để giữ cho tuyến đường huyết mạch này thông suốt dưới mưa bom bão đạn.
 
PV: Có thể nói đường Trường Sơn là một câu chuyện huyền thoại được viết trong thế kỉ XX. Nhờ con đường này mà đế quốc Mĩ, mặc dù có đủ loại vũ khí tối tân nhưng cũng không thể nào ngăn được những đoàn quân giải phóng tiến vào các mặt trận phía Nam, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đồng chí Tư lệnh có thể cho độc giả Văn nghệ Quân đội biết vai trò của bộ đội công binh trong chiến dịch này thế nào?
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Chiến dịch Hồ Chí Minh là một cuộc tổng tiến công, huy động một lực lượng khổng lồ về người và vũ khí trang bị, cơ động cả đường không, đường thủy và đường bộ. Vì thế, lần đầu tiên trong lịch sử, một lực lượng lớn công binh gồm 2 sư đoàn, 3 lữ đoàn, 20 trung đoàn, 30 tiểu đoàn được tham gia làm nhiệm vụ đảm bảo cho các quân đoàn chủ lực với binh khí kĩ thuật và hàng vạn xe pháo các loại, cơ động hàng nghìn kilômét vào giải phóng Sài Gòn. Cuộc hành quân thần tốc diễn ra trong gần một tháng, và lực lượng công binh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tạo điều kiện cho các binh đoàn thọc sâu trên các hướng. Các công việc làm cầu, gỡ mìn, bảo đảm vượt sông… đã được khẩn trương thực hiện theo đúng kế hoạch, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung.
 
PVĐọc lịch sử chúng tôi thấy rằng, với những kinh nghiệm quý báu được đúc rút từ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, bộ đội công binh đã phát huy rất tốt truyền thống của mình trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Từ bắc cầu phà cho bộ đội và xe pháo cơ động vượt sông suối hay xây dựng công sự phòng thủ kiên cố cho các đơn vị chốt…, lực lượng công binh đều thể hiện rõ sứ mệnh quan trọng của mình. Và bây giờ đề nghị đồng chí Tư lệnh nói về vai trò của bộ đội công binh trong thời bình!
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Nhiệm vụ đầu tiên của bộ đội công binh sau ngày chiến tranh kết thúc đó là rà phá bom mìn. Trải qua mấy cuộc chiến tranh, khắp đất nước còn hàng triệu quả bom mìn chưa nổ, đe dọa đến tính mạng của người dân và cản trở công việc xây dựng, tái thiết. Phải “làm sạch đất”, đó là nhiệm vụ được giao cho bộ đội công binh. Đây là công việc cực kì phức tạp. Quán triệt sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ, xác định tốt trách nhiệm, cán bộ chiến sĩ công binh đã lặng thầm chiến đấu, đối diện với hiểm nguy, môi trường độc hại. Mỗi năm bộ đội công binh đã xử lí hàng nghìn tấn bom mìn, vật liệu nổ, giải phóng hàng vạn héc ta đất đai phục vụ công việc sản xuất của nhân dân và công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
 
PV: Trong nhiệm vụ rà phá bom mìn của bộ đội công binh, đồng chí Tư lệnh có ấn tượng với địa bàn nào nhất?
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Đó là địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Vì đó là nơi còn hơn 2000 bộ hài cốt liệt sĩ nằm lại giữa chiến trường dày đặc mìn. Phải rò gỡ sạch mìn để tìm đưa anh em về quê hương bản quán, đó là mệnh lệnh đồng thời là trách nhiệm tình cảm thiêng liêng. Và Bộ đội Công binh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này. Tuy nhiên, đã có nhiều cán bộ chiến sĩ công binh hi sinh và bị thương…
 
PV: Vậy là với bộ đội công binh, thời bình cũng vất vả hiểm nguy như thời chiến? 
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Đúng thế! Chúng tôi vẫn đang ở trong cuộc chiến, cuộc chiến với bom mìn. Vừa rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh đã phát biểu: “Việt Nam phấn đấu để không có gia đình nào tan nát vì bom mìn. Không có học sinh nào phải bỏ học vì bom mìn…” Để đạt được mục tiêu ấy, bộ đội công binh đã và đang có mặt ở khắp mọi nơi, từ nông thông đến thành thị, từ miền sông nước đến nơi núi rừng… để xử lí bom mìn. Vì thế kinh nghiệm, trình độ của Công binh Việt Nam trong lĩnh vực này là rất cao. Vừa rồi tôi có tham gia một hội thao xử lí bom mìn quốc tế, tổ chức ở Ý. Khi chứng kiến tôi nằm sát mặt đất, dùng tay không tháo kíp nổ những quả mìn, các tuyển thủ châu Âu thắc mắc, vì sao không đào một cái hố cạnh quả mìn, sau đó dùng dụng cụ điều khiển từ xa hất quả mìn vào hố rồi kích nổ? Tôi trả lời họ rằng, cách đó chỉ áp dụng được ở địa bàn trống trải. Ở nước chúng tôi, nhiều quả mìn nằm cạnh nhà dân, cạnh những công trình quan trọng trong thành phố nên lính công binh Việt Nam vẫn phải dùng cách thủ công này. Nghe thế họ “lắc đầu lè lưỡi”.
 
PV: Ngoài nhiệm vụ dò gỡ bom mìn, chúng tôi biết những người lính công binh vẫn được giao nhiệm vụ làm những công trình phòng thủ, cả trên đất liền và ngoài biển đảo. Khi đi Trường Sa, các nhà văn quân đội rất ấn tượng với những nhà giàn DK trên biển do bộ đội công binh làm. DK có phải là viết tắt của hai chữ “dầu khí” không?
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Không riêng gì các nhà văn, mà có rất nhiều người nghĩ DK là “dầu khí”. Đó là một sự nhầm lẫn.
Nhưng trước khi giải thích DK là gì, chúng ta cần quay về những năm 80 thế kỉ trước. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc tạm lắng, bộ đội công binh đã được giao nhiệm vụ xây dựng hệ thống phòng thủ lâu bền trên các tuyến biên giới, ven biển, hải đảo, ngoài biển khơi. Và các chiến sĩ công binh lập tức có mặt trên các công trình này không chỉ với tư cách là người lính xây dựng, mà là những chiến sĩ chiến đấu thực thụ. Hẳn mọi người không thể nào quên ngày 14 tháng 3 năm 1988, khi địch tấn công đảo Gạc Ma, các chiến sĩ công binh đang xây dựng đảo đã nắm tay nhau tạo thành một vòng tròn bất tử. Khi địch nổ súng, đồng chí Trần Văn Phương, người đang giữ cờ Tổ quốc hi sinh, đồng chí Nguyễn Văn Lanh thuộc Trung đoàn Công binh 83 Hải quân đã lao tới quấn chặt lá cờ vào thân mình, không cho địch cướp. Sau trận ấy, Trần Văn Phương và Nguyễn Văn Lanh được truy tặng và tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.
Còn về cái tên DK có nguồn gốc thế này. Năm 1988, Đảng và Nhà nước ta có chủ trương xây dựng các công trình quốc phòng kinh tế trên biển, và Bộ Tư lệnh Công binh được giao nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế các trạm dịch vụ kinh tế - khoa học kĩ thuật trên các đảo san hô chìm có độ sâu từ 5 đến 25 m tại thềm lục địa phía Nam cách đất liền từ 450 đến 700 km. Cái tên DK là viết tắt của hai cụm từ “Dịch vụ” và “Khoa học”.
 
PV: Năm 2008 tôi đi Trường Sa, và khi ghé thăm nhà giàn DK1, tâm trạng tôi lúc đó rất khó tả. Vừa xúc động tự hào khi thấy cái nhà giàn hiện diện trên biển như một cột mốc chủ quyền thiêng liêng, nhưng cũng vừa băn khoăn lo lắng cho những người lính sống và làm nhiệm vụ trên đó. Cái nhà giàn thật quá chênh vênh. Chúng tôi rất muốn được leo lên nhà giàn, nhưng sóng to quá, xuồng không thể ghé vào, đành đứng ngoài tàu vẫy tay. Và những ca sĩ đã hát qua bộ đàm cho các chiến sĩ trên nhà giàn nghe. Vừa hát vừa khóc…
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, những nhà giàn trước đây được thiết kế và thi công gấp nên độ vững chãi chưa cao. Thế nên cảnh lính nhà giàn “nhận hàng qua dây, nghe hát qua loa” như các nhà văn vừa kể là rất phổ biến. Nhưng từ năm 2000, những nhà giàn đã được gia cố và nâng cấp. Vừa rồi tôi  tham gia đoàn công tác cùng Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Chiêm ra thăm và nghiệm thu cụm nhà giàn. Chúng tôi đi bằng trực thăng, đậu thẳng xuống nhà giàn. Các nhà giàn hiện đã được lắp đặt những hệ thống di chuyển và trang thiết bị tiên tiến giúp việc lên xuống nhà giàn dễ dàng, an toàn. Hệ thống trữ nước và các máy lọc cung cấp đủ nước ngọt cho bộ đội sinh hoạt quanh năm và còn đủ để tưới cây, trồng rau... Từ trên nhà giàn bộ đội có thể dùng kính viễn vọng quan sát xa tới vài chục kilômét, phân biệt chính xác chủng loại, quốc tịch của những tàu thuyền đi qua vùng biển. Đặc biệt nhà giàn nào cũng được trang bị xuồng rút quân khẩn cấp trên dưới 15 đồng chí, tính năng rất hiện đại, khi gặp sự cố bộ đội chỉ cần ngồi vào xuồng bấm nút là tất cả phóng xuống biển. Trên xuồng có đủ lương thực, thuốc men cho sinh hoạt từ 5 - 7 ngày trên biển.
 
PV: Vậy là bộ đội công binh đã có những đóng góp to lớn vào nhiệm vụ giữ gìn chủ quyền biển đảo. Còn trên đất liền thì sao?
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Trên đất liền, bộ đội công binh có mặt khắp mọi miền đất nước, không chỉ xây dựng những công trình quốc phòng, mà còn tham gia xây dựng những công trình kinh tế kết hợp quốc phòng, công trình trọng điểm Nhà nước. Đường điện cao thế Bắc - Nam, thủy điện Đa Mi Hàm Thuận, A Vương, đường Hồ Chí Minh, đường Trường Sơn Đông… Mỗi công trình là dựng xây được kết tinh không chỉ bằng mồ hôi, công sức, mà còn có cả xương máu của cán bộ chiến sĩ công binh.
 
PV: Thưa đồng chí Tư lệnh! Độc giả Văn nghệ Quân đội rất muốn biết về tuyến đường tuần tra biên giới mà lực lượng công binh tham gia xây dựng.
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Đường tuần tra biên giới trên đất liền là một công trình rất quan trọng, nhằm tăng cường tuần tra, kiểm soát, quản lí, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, củng cố an ninh quốc phòng, góp phần phát triển kinh tế văn hóa xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân khu vực biên giới. Lực lượng công binh tham gia công trình này với vai trò đột phá ở những khâu trọng yếu. Thi công ở địa hình hiểm trở, đường cơ động chưa có hoặc rất xấu, thời tiết khắc nghiệt, nhiều khu vực chưa được rà phá bom mìn… nhưng bộ đội công binh luôn chủ động khắc phục khó khăn, “mở đường” với quyết tâm cao nhất. Nhiều cung đường đi qua nơi hoang vu, rắn rết và thú dữ nhiều. Ở Sốp Cộp (Sơn La), một đơn vị đang thi công thì voi rừng lao ra tấn công, ủi phá máy móc, lán trại…, bộ đội phải tạm lánh chờ voi bỏ đi lại tiếp tục công việc… Từ năm 2005 đến năm 2014, bộ đội công binh đã góp phần lớn công sức vào việc hoàn thành 1.280 km đường bê tông xi măng chạy suốt 25 tỉnh biên giới từ Quảng Ninh vào tới Kiên Giang. Và trong giai đoạn hai của Công trình đường tuần tra biên giới (2014 - 2020), bộ đội công binh tiếp tục được giao nhiệm vụ tham gia thi công ở những hạng mục có thể gọi là… “xương” nhất!
 
PV: Quân đội ta đang được xây dựng theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, vậy công tác đào tạo, huấn luyện và giáo dục của Binh chủng Công binh như thế nào?
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Trường Sĩ quan Công binh hiện là một địa chỉ rất hấp dẫn các thí sinh, bởi thế điểm chuẩn trúng tuyển rất cao, đều trên 22 điểm. Đó là cơ sở để Binh chủng tuyển chọn, đào tạo nguồn cán bộ chất lượng cao. Cán bộ công binh đều có bằng cử nhân, bằng kĩ sư ở các chuyên ngành, nhiều đồng chí lãnh đạo chỉ huy có trình độ trên đại học. Về huấn luyện, chúng tôi theo phương châm “Cơ bản - Thiết thực - Vững chắc” và đặt ra những tiêu chí cụ thể để mỗi cán bộ chiến sĩ công binh đều hội tụ được những phẩm chất cần có. Đó là kiến thức, sức khỏe, trách nhiệm và lòng nhiệt tình, có thể nhận và hoàn thành nhiệm vụ trong bất cứ hoàn cảnh nào.
 
PV: Thưa đồng chí Tư lệnh! Ngày trước, khi nghĩ đến lính công binh là mọi người nghĩ ngay tới… cuốc, xẻng, búa chim. Nhưng ngày nay công binh đã được trang bị nhiều máy móc, trang thiết bị tiên tiến, vậy những hình ảnh thô sơ được lấy làm biểu tượng gắn trên phù hiệu của Binh chủng Công binh có còn phù hợp?
Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn: Đây là một câu hỏi thú vị! Đúng là ngày nay Binh chủng Công binh đã phát triển lớn mạnh, tương đối hiện đại. Nhưng không vì thế mà những trang bị thô sơ đã lỗi thời. Phù hiệu của Binh chủng tôi cho là rất đẹp về mặt thẩm mĩ, rất sâu sắc về mặt nội dung. Một bánh xe tượng trưng cho khoa học kĩ thuật kết hợp với búa, xẻng là những dụng cụ thủ công, đó chính là thực tế đặc thù của bộ đội công binh hiện nay. Mọi người có thể thấy người lính công binh gắn với máy tính, với những cỗ máy khoan máy xúc thuộc hàng hiện đại nhất thế giới trong nhiệm vụ mở đường, làm cầu, xây dựng các công trình phòng thủ…, nhưng cũng thấy những người lính công binh dùng xà beng, cuốc, xẻng đào hầm giải cứu nạn nhân trong vụ sập cầu Cần Thơ năm 2007, sập hầm thủy điện Đạ Dâng (Lâm Đồng) năm 2014... Người lính công binh có thể điều khiển xuồng cao tốc lướt như bay trên mặt nước cứu dân trong nhiều trận lũ lụt ở các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Gia Lai, Kon Tum..., nhưng cũng thấy bộ đội công binh lặng lẽ trong đêm dùng những chiếc thuyền nhỏ chèo tay phối hợp với máy đẩy vớt cá “chết” làm sạch môi trường trên Hồ Tây - Hà Nội năm 2016… Thế nên tôi nghĩ, hình ảnh bộ đội công binh gắn với trang thiết bị nào chưa quan trọng bằng  gắn với nhiệm vụ gì. Suốt 70 năm qua, hình ảnh đẹp nhất, thiêng liêng nhất của bộ đội công binh chính là luôn đồng hành với các lực lượng trong nhiệm vụ chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn gắn bó mật thiết với đời sống của nhân dân.
 
PV: Vâng, thay mặt cho độc giả Văn nghệ Quân đội, xin chúc bộ đội công binh luôn giữ được hình ảnh đẹp đẽ của mình!
 
PV ghi


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo