Ánh lửa từ trái tim người lính thợ

Thứ năm - 20/10/2016 13:30
IMGP1949
Đại tá Hồ Công Xuy
Nhà máy Z121 - Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng vốn được biết đến là đơn vị sản xuất pháo hoa duy nhất tại Việt Nam. Tuy nhiên, ngoài sản phẩm được biết đến rộng rãi, góp phần quảng bá thương hiệu ấy, Z121 còn là nơi duy nhất sản xuất hỏa cụ “trái tim của vũ khí”, phục vụ cho nền công nghiệp quốc phòng của đất nước. Trong chuyến về công tác, thâm nhập thực tế tại đây, chúng tôi nhận thấy, để thổi hồn cho từng quả đạn, mỗi cán bộ, công nhân Z121, vượt lên những âm thầm hiểm nguy mà họ vẫn hàng ngày hàng giờ phải đối mặt, vượt lên những khó khăn vất vả mà họ vẫn hàng ngày hàng giờ phải đồng hành là một trái tim đầy nhiệt huyết. Những trái tim ấy đã ánh lên ánh lửa của đam mê mà suốt 50 năm qua, những thế hệ cán bộ, công nhân viên, những thế hệ thợ quân giới của Z121 đã truyền cho nhau như một thứ tài sản vô hình. Câu chuyện với Đại tá Hồ Công Xuy - Chính ủy Nhà máy như  một lần nữa tô đậm thêm những suy nghĩ ấy của chúng tôi.
 
PV: Nhắc đến Z121 người ta thường nghĩ ngay đến đơn vị sản xuất pháo hoa duy nhất tại Việt Nam. Đồng chí Chính ủy có thể phác họa vài nét về hành trình làm nên thương hiệu này? Z121 bắt đầu sản xuất pháo hoa từ khi nào?
Đại tá Hồ Công Xuy: Nếu nói về duyên nợ với pháo hoa của Z121 thì phải kể đến dấu mốc đầu tiên sau khi chúng ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Nhà máy đã được giao kế hoạch đột xuất sản xuất 1.000 quả pháo hoa để bắn chào mừng chiến thắng vĩ đại của dân tộc giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, cũng là Kỉ niệm 30 năm Ngày Quốc khánh Việt Nam và khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong lúc cán bộ công nhân Nhà máy đang mày mò nghiên cứu tìm cách sản xuất pháo hoa thì nhận được tin Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô còn lưu giữ hơn 1.000 quả pháo hoa do Trung Quốc viện trợ cho ta, tuy nhiên số pháo hoa này đã quá hạn từ lâu, chất lượng rất kém, phần lớn thuốc đều bị ẩm. Nhà máy được giao nghiên cứu phục hồi số pháo hoa này để mừng Đại lễ. Sau đó, dù nhiệm vụ được giao đã hoàn thành nhưng Nhà máy vẫn tiếp tục tổ chức nghiên cứu để có thể tự sản xuất pháo hoa. Đến năm 1984, nhân dịp Kỉ niệm lần thứ 94 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo nhà máy quyết định tổ chức bắn thử nghiệm những mẫu chế thử pháo hoa đầu tiên bao gồm 15 mẫu sản phẩm. Mặc dù còn một số hạn chế như độ tán chưa rộng, độ cao không đều, có quả nổ ngay miệng nòng súng, có quả tịt, song đó là những kết quả ban đầu hết sức có ý nghĩa để Ban nghiên cứu kịp thời rút kinh nghiệm, bổ sung, khắc phục.
Ngày 2 tháng 7 năm 1984, sau khi nhận được báo cáo của Nhà máy Z121 về việc thành công trong việc nghiên cứu, chế thử pháo hoa, Chủ nhiệm Tổng cục Kĩ thuật đã giao cho Nhà máy sản xuất 1.000 quả pháo hoa để phục vụ Kỉ niệm 30 năm Ngày giải phóng Thủ đô. Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của nhiệm vụ chính trị đó, cán bộ kĩ thuật của Nhà máy và công nhân các phân xưởng ngày đêm miệt mài làm việc. Bộ phận được giao nhiệm vụ sản xuất pháo hoa khi đó trong một không khí đặc biệt. Mỗi quả pháo hoa đều có một mã số, trong đó có ghi tên người sản xuất từng chặng, cùng những thông số về ngày giờ sấy, tên kiểm nghiệm viên để thuận tiện cho quá trình nghiệm thu. Sau gần ba tháng, nhiệm vụ đã hoàn thành. Ngay sau đó, Nhà máy tiếp tục được giao nhiệm vụ sản xuất pháo hoa số lượng lớn phục vụ cho Kỉ niệm 10 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 20 tháng 4 năm 1985, bằng nỗ lực và quyết tâm cao độ, Nhà máy đã sản xuất được 12.500 quả pháo hoa, vượt kế hoạch được giao. Đặc biệt, Nhà máy đã chế thử thành công thêm 17 mẫu pháo hoa mới như: Bông sen Đồng Tháp, Cờ đỏ rợp trời, Mừng đại thắng, Hoa cúc vàng, Hoa sim tím, Đàn bướm, Hoa Chăm pa, Màu xanh hi vọng...
Hơi dài dòng và chi tiết như vậy, nhưng có thể nói, đó là những dấu mốc đầu tiên để chúng tôi hướng đến việc sản xuất pháo hoa bền vững sau này.

PV: Như vậy là mười năm sau thành lập, Nhà máy đã bước đầu làm quen với pháo hoa và phải mất chặng đường gần mười năm nữa mới trở thành đơn vị sản xuất mặt hàng đặc biệt này bên cạnh các sản phẩm quốc phòng khác. Và hình như việc tìm đường xuất ngoại cho các sản phẩm của Nhà máy khi đất nước mở cửa, tăng cường giao lưu hợp tác với nước ngoài cũng là từ pháo hoa? Chắc hẳn Chính ủy còn nhớ thời điểm mới bắt đầu?
Đại tá Hồ Công Xuy: Chuẩn bị cho dịp Kỉ niệm 50 năm thành lập Z121, chúng tôi đang tổ chức biên soạn cuốn biên niên sự kiện. Nếu lật cuốn sách này sẽ thấy chuyến công tác đầu tiên tìm đường đi cho pháo hoa của Nhà máy là vào năm 1997. Đoàn cán bộ của Nhà máy khi đó gồm các đồng chí Lê Đình Tuy, Giám đốc; đồng chí Nguyễn Trí Dũng, Trưởng phòng Kĩ thuật (nay là Giám đốc Nhà máy) và các đồng chí Phạm Trung Thông, Nguyễn Quốc Tuấn đã có chuyến đi Nhật Bản khảo sát, tìm hiểu tình hình sản xuất pháo hoa ở Nhật Bản. Chúng tôi muốn so sánh những điểm giống và khác nhau giữa pháo hoa Nhật Bản và Trung Quốc, bởi khi đó, Công ti Yamazaki của Nhật Bản muốn hợp tác với ta sản xuất pháo hoa xuất khẩu, nếu việc hợp tác thành công sẽ mở ra một cơ hội mới cho Nhà máy.
Pháo hoa khi ấy của Nhà máy là loại pháo hoa sản xuất theo mẫu của Trung Quốc, bắn trực tiếp theo kiểu bắn đạn cối. Sau sự cố mất an toàn trong cuộc bắn pháo hoa ở Huế vào năm 1995, Nhà máy được lệnh ngừng sản xuất và sử dụng pháo hoa. Tìm được cơ hội hợp tác với một công ti của Nhật thực sự là một hướng đi mới của Z121. Pháo hoa kiểu Nhật không bắn trực tiếp, mỗi quả lắp vào một khẩu súng, bắn bằng mồi lửa điện điều khiển từ xa... nên an toàn hơn. Ngày 9 tháng 12 năm 1997, sau khi kiểm tra và thử nghiệm số pháo hoa Nhà máy chế thử, đại diện Công ti Yamazaki của Nhật Bản đã chính thức kí hợp đồng với Nhà máy sản xuất lô hàng đầu tiên. Sự kiện này đánh dấu một hướng đi mới của Z121 là xuất khẩu sản phẩm. Và đúng như các anh nói, pháo hoa đã đi tiên phong trong xuất ngoại. Đến nay thì pháo hoa của chúng tôi đã xuất không chỉ sang Nhật mà còn sang Hoa Kì. Cùng với pháo hoa, sản phẩm thuốc nổ và phụ kiện nổ vốn là những nhóm có tỉ trọng lớn của Nhà máy cũng đang từng bước “theo chân” pháo hoa để tìm hướng đi mới.

 
Khởi công
Lễ khởi công xây dựng dây chuyền sản xuất pháo hoa mới của Nhà máy Z121

PV: Vâng, và nhìn ở góc độ một nhà máy đứng chân trong đội hình công nghiệp quốc phòng thì tất nhiên Z121 không chỉ sản xuất pháo hoa. Và theo chúng tôi được biết thì pháo hoa cũng chỉ là nhóm sản phẩm đứng thứ ba về doanh thu của nhà máy sau phụ kiện nổ và thuốc nổ. Mở rộng ra một chút, xin đồng chí Chính ủy cho một cái nhìn tổng quan hơn, để bạn đọc có thể hình dung về nhiệm vụ của Z121 hôm nay?
Đại tá Hồ Công Xuy: Nhà máy Z121 thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ sản xuất các loại hỏa cụ trang bị cho quân đội, phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Được thành lập ngày 7 tháng 9 năm 1966, quá trình hoạt động của Nhà máy đã bảo đảm cho quân và dân ta chiến đấu và chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cũng như trong sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, phát triển kinh tế đất nước. Hiện tại chúng tôi có 4 xí nghiệp, 2 phân xưởng trực thuộc. Ngoài sản xuất các loại hỏa cụ phục vụ cho quốc phòng, chúng tôi còn sản xuất một số mặt hàng lưỡng dụng khác như thuốc nổ công nghiệp, phụ kiện nổ, pháo hoa...
Là một trong những đơn vị đặc thù sản xuất vũ khí, độ nguy hiểm cao, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn, những người lính thợ Z121 chúng tôi luôn nêu cao tinh thần và ý chí của người lính trên mặt trận thầm lặng. Ngày 13 tháng 12 năm 1989, Nhà máy vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đúng 15 năm sau, ngày 22 tháng 12 năm 2004, Nhà máy tiếp tục vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kì Đổi mới. Nhà máy cũng là một trong những đơn vị luôn luôn dẫn đầu Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng về doanh thu và thu nhập của cán bộ công nhân viên.

PV: Sự lớn mạnh của mỗi tập thể đều được đánh dấu bằng những bước chuyển quan trọng, với Z121 thì đó là những dấu mốc nào?
Đại tá Hồ Công Xuy: Với một doanh nghiệp thì doanh thu rất quan trọng. Chúng tôi có ba mốc về doanh thu đáng chú ý. Trước những năm 2000, khi doanh thu đạt gần 100 tỉ đồng, thế hệ lãnh đạo khởi xướng việc đổi mới đã rất vất vả trong việc mày mò tìm đường đi nước bước. Thời gian những năm 2000 - 2008, mức doanh thu đạt tầm 700 tỉ đồng, đó là thời gian Nhà máy tập trung những nghiên cứu để đi vào sản xuất các sản phẩm quan trọng hơn là sản phẩm phổ thông. Từ năm 2011 đến nay chúng tôi đạt doanh thu từ 870 tỉ đồng lên trên 1.000 tỉ đồng, Nhà máy đã phát triển theo hướng nâng chiều rộng và chiều sâu, tăng hàm lượng tự động hóa.
Nhưng tôi nghĩ rằng, để có những dấu mốc trong biên niên sự kiện, để có một bản báo cáo thành tích, để có vài dòng vinh danh ở đâu đó luôn bắt đầu bằng một quá trình âm thầm, những cống hiến âm thầm từng ngày, từng giờ của cán bộ, công nhân viên Nhà máy. Bởi thế, lịch sử luôn là một dòng chảy liền mạch được đan dệt bằng cả những dấu mốc, sự kiện và bằng cả những đóng góp âm thầm ấy.

PV: Có thể tự hào rằng, Z121 là nơi ra đời của những sản phẩm quốc phòng giữ vị trí “trái tim của vũ khí”, mỗi đường đạn bay lên đều như mang theo tâm huyết của từng bàn tay khối óc người thợ. Chúng tôi có cảm giác, ngành nghề nào mà đạt tới độ tinh xảo của ngành nghề ấy thì ranh giới giữa người thợ và nghệ nhân gần như chẳng còn. Đồng chí Chính ủy nghĩ thế nào về điều này?
Đại tá Hồ Công Xuy: Các loại hỏa cụ được ví như “trái tim của vũ khí”, có vai trò hết sức quan trọng quyết định đến việc phát huy tính năng các loại vũ khí, nâng cao hiệu suất chiến đấu trên chiến trường. Đây là bộ phận phát hỏa mồi cháy ban đầu của viên đạn. Việc phát hỏa quyết định đến mồi cháy thuốc phóng, từ đó ảnh hưởng đến sơ tốc đầu đạn, dẫn đến ảnh hưởng độ chính xác, quyết định hiệu quả chiến đấu, tiêu diệt sinh lực địch. Để thiết kế, chế tạo nên sản phẩm nhạy cảm nhất của vũ khí, đội ngũ kĩ sư, công nhân kĩ thuật của chúng tôi phải thực sự là những nghệ nhân lành nghề. Thực tế cho thấy, suốt 50 năm xây dựng và phát triển, dù chúng tôi đã thường xuyên đổi mới, áp dụng mạnh mẽ chương trình cơ khí hóa, tự động hóa thì có những công đoạn nguy hiểm vẫn không thể không sử dụng đến bàn tay người thợ. Ngoài sự hiểu biết về chuyên môn, thao tác chính xác còn cần đến sự khéo léo, nhẹ nhàng. Các anh biết đấy, với thuốc nổ, chỉ một sơ suất nhỏ thôi hậu quả sẽ khôn lường. Bởi thế, có những phân xưởng, tổ sản xuất của chúng tôi, 100% công nhân là phụ nữ. Trong lịch sử, chúng tôi đã có những phong trào thi đua động viên sự khéo léo, đồng bộ của các công đoạn thủ công. Có lẽ việc sản xuất pháo hoa dễ hình dung và có tính nghệ thuật hơn cả. Từng viên thuốc phải được xếp đúng vị trí khi nổ mới tạo ra những hình thù như mong muốn. Những thao tác đó vẫn phải làm thủ công, bằng bàn tay người thợ chứ chưa có máy móc nào thay thế được. Vì thế, tôi nghĩ, với một người thợ lành nghề, danh xưng nghệ nhân dành cho họ cũng vẫn là chưa đủ.

PV: Và với nhiệm vụ hết sức đặc thù của Z121 có lẽ chúng ta cần nhiều, rất nhiều những người thợ tiến gần hơn đến danh xưng “nghệ nhân của những trái tim đạn”?
Đại tá Hồ Công Xuy: Chúng tôi luôn cần những khối óc tỉnh táo và những bàn tay khéo léo. Chúng tôi cần hàng nghìn những nghệ nhân như vậy. Để có trái tim đạn, trước hết phải từ chính trái tim của người thợ. Nếu họ không yêu nghề, làm việc không vì cái tâm, vì trách nhiệm thì không thể gắn bó với công việc nguy hiểm ấy được. Mỗi bậc thợ được nâng sẽ phải tiến gần hơn đến độ lành nghề, sẽ phải từng bước trở thành nghệ nhân trong mắt đồng nghiệp.

PV: Tôi thấy trong lĩnh vực hoạt động của Nhà máy có một từ rất hay đó là “thuốc gợi nổ” và tôi nghĩ rằng trong mỗi tập thể cũng phải có chất xúc tác như thế, như phong trào nghiên cứu áp dụng cơ khí hóa, tự động hóa của Nhà máy mà đồng chí Chính ủy đã nhắc tới chẳng hạn, rất cần một thứ “thuốc gợi nổ” trong cán bộ, công nhân viên, đặc biệt là đội ngũ nghiên cứu khoa học?
Đại tá Hồ Công Xuy: Vâng, có thể nói phong trào cơ khí hóa, tự động hóa đã một phong trào thành công, mang lại hiệu quả thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ của Nhà máy chúng tôi trong suốt những bước đường phát triển. Phong trào ấy đã kích thích vào niềm đam mê của người lính kĩ thuật, để nó bùng cháy thành năng lượng sáng tạo. Từ phong trào ấy đã sản sinh ra những con chim đầu đàn, những cây sáng kiến với những sản phẩm, công trình mang lại hiệu quả kinh tế lên đến nhiều tỉ đồng, tiết kiệm tiền của và công sức, mang lại sự an toàn cho chính những người thợ. Qua đó, cán bộ trẻ được tôi luyện, được lăn lộn với công việc, trưởng thành và cứng cáp. Chúng tôi từng có một cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân chính ở phân xưởng sản xuất thuốc gợi nổ. Đó là đồng chí Nguyễn Văn Vượng, sinh năm 1935, quê ở xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nhập ngũ tháng 2 năm 1966, công tác ở phân xưởng chế tạo thuốc gợi nổ. Phong trào ấy đã có tác động và tạo nên sự nhập cuộc rộng khắp, từ lãnh đạo Nhà máy đến các chuyên gia đầu ngành, đến các kĩ sư, các công nhân. Ai cũng được chứng tỏ năng lực, ai cũng được cống hiến. Từ phong trào cũng đã xuất hiện những con chim đầu đàn, lộ diện những cán bộ có năng lực để bồi dưỡng sử dụng.
Trong vòng mười năm từ 2005 đến 2015, Nhà máy chúng tôi đã có hơn 3.000 đề tài, sáng kiến cải tiến kĩ thuật được công nhận, trong đó có nhiều đề tài, sáng kiến có độ phức tạp cao, hàm lượng khoa học lớn đã được áp dụng hiệu quả vào thực tiễn và được Bộ Quốc phòng khen thưởng.
Nhiều năm trở lại đây, mỗi năm Nhà máy cũng trích hàng trăm triệu đồng khen thưởng cho hàng trăm sáng kiến. Các sáng kiến được tặng thưởng đều là những công trình khoa học công nghệ mang lại hiệu quả về kinh tế, an toàn, văn minh sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Đặc biệt, năm 2016 Nhà máy đã trích thưởng lên tới trên một tỉ đồng cho các công trình sáng kiến. Có thể gọi đó là “thuốc gợi nổ” như anh nói, hay đó cũng chính là men say sáng tạo từ những người thợ tâm huyết với nghề, coi Nhà máy như ngôi nhà thứ hai của mình.

PV: Chúng tôi được biết, nhiều đồng chí là “chim đầu đàn” cũng là con em của những người thợ từng gắn bó cả cuộc đời với Nhà máy. Truyền thống kế tục đẹp đẽ này tôi đã gặp ở nhiều nhà máy công nghiệp quốc phòng, ở Z121 có nét gì khác biệt không thưa đồng chí Chính ủy? Nhà máy đã làm gì để thu hút họ vào làm việc cũng như phát huy họ trên cương vị công tác?
Đại tá Hồ Công Xuy: Nhân lực đầu vào của Nhà máy đến từ một số nguồn chính: Thứ nhất là được bổ sung học viên tốt nghiệp từ các học viện nhà trường của Quân đội; thứ hai là con em cán bộ của Nhà máy, những người được đào tạo, có năng lực và có nguyện vọng gắn bó, kế tục cha ông; thứ ba là chúng tôi đào tạo tại chỗ từ công nhân, trung cấp, cao đẳng mà trong quá trình làm việc có ý chí tiến thủ, có năng lực và khát khao cống hiến.
Để phát huy đội ngũ cán bộ trẻ, chúng tôi có quy chế đào tạo lại và đào tạo bổ sung. Ví dụ tốt nghiệp chuyên ngành A, về Nhà máy sẽ được đào tạo thêm chuyên ngành B. Bên cạnh đó là đào tạo nâng cao, tạo điều kiện cho đi học cao học. Cùng với đó có chế độ đãi ngộ hợp lí, trả lương theo nghị định mới, hệ số lương của cán bộ kĩ thuật cao hơn, trích thưởng tỉ lệ phần trăm từ giá trị làm lợi...
Với con em cán bộ, công nhân viên, Nhà máy luôn có sự quan tâm, ưu tiên nhất định. Thu nhập tốt so với mặt bằng chung tại địa phương cũng là thế mạnh để chúng tôi hút được nhân sự. Con em của cán bộ, công nhân viên sống trong không gian của Nhà máy, tuổi thơ thấm đẫm kỉ niệm, gia đình gắn bó toàn tâm toàn lực với Nhà máy cũng là một kết nối tình cảm dẫn đến việc lựa chọn nghề nghiệp của các em, các cháu khi lớn lên. Việc quan tâm đến đời sống cán bộ công nhân viên cũng tạo nên một động lực tích cực. Hiện tại chúng tôi có khu gia đình với hàng nghìn hộ dân, có nhà chung cư cho công nhân ở, quỹ phúc lợi dành cho việc phục vụ đời sống văn hóa tinh thần, rèn luyện sức khỏe như xây dựng thư viện, bể bơi, khu thể thao cũng khiến cán bộ, công nhân viên thêm yêu mến gắn bó với Nhà máy.

PV: Câu chuyện về an toàn luôn đồng hành từng giây từng phút với người thợ, đặc biệt là người thợ làm việc trong môi trường cực kì nguy hiểm, chỉ một sơ suất nhỏ thôi sẽ phải trả giá bằng tính mạng của mình và đồng đội, bằng tài sản của Nhà nước và Quân đội. Tôi nghĩ rằng, hơn ai hết, những người lính thợ là những người thấm đẫm nhất những điều này…
Đại tá Hồ Công Xuy: An toàn, trước hết là cho tính mạng của chính mỗi công nhân, cho tài sản của Nhà máy, và cho việc hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cá nhân, mỗi tập thể. Các thế hệ lãnh đạo của Nhà máy suốt 50 năm đều đặt vấn đề an toàn sản xuất lên hàng đầu. Nâng cao điều kiện làm việc của công nhân chính là tiêu chí hàng đầu của phong trào cơ khí hóa, tự động hóa mà chúng tôi đã quan tâm và đầu tư rất lớn, cũng chính là để giảm thiểu nguy cơ mất an toàn. Chúng tôi cũng đã tổ chức mạng lưới an toàn viên tại các xí nghiệp, các phân xưởng, các tổ, có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát nguy cơ mất an toàn tại nơi mình sản xuất. Nếu phát hiện nguy cơ mất an toàn có quyền đình chỉ sản xuất, báo cáo lãnh đạo để xử lí. Chúng tôi cũng có quy định, nếu rời xa vị trí công tác 6 tháng khi quay lại làm việc là phải đào tạo lại. Hoạt động của Ban An toàn khi đã kiểm tra phải ra vụ việc, phải đánh giá mức độ, kiến nghị giải pháp... Môi trường làm việc luôn được quan tâm cải thiện, lắp hệ thống tự động thông gió, phương tiện phòng chống cháy nổ, từng bước ngăn cách người lao động với khu vực sản xuất có nguy cơ xảy ra cháy nổ...
Để tiếp tục quán triệt sâu rộng, kịp thời chấn chỉnh và nâng cao ý thức trách nhiệm cho người lao động về đảm bảo an toàn trong sản xuất, vừa rồi Đảng ủy Nhà máy đã ban hành Nghị quyết chuyên đề “Lãnh đạo công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động giai đoạn mới”, trong đó đã đề ra các giải pháp cụ thể cho việc tăng cường đảm bảo an toàn.

PV: Chúng tôi được biết, hiện tại Nhà máy cũng vừa mới xây dựng và đưa vào vận hành dây chuyền sản xuất pháo hoa mới. Dây chuyền này có gì mới về mặt đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất?
Đại tá Hồ Công Xuy: Dự án “Dây chuyền sản xuất pháo hoa và kho chứa vật tư quốc phòng” vừa hoàn thành của chúng tôi có tổng mức đầu tư trên 300 tỉ đồng. Công suất của dây chuyền đạt 300.000 quả pháo hoa tầm cao; 25.000 giàn pháo hoa tầm thấp; 10.000 hộp pháo hoa hỏa thuật các loại.
Về vấn đề an toàn, Nhà máy đã cử cán bộ của phân xưởng pháo hoa đi Cộng hòa Pháp để tham gia chương trình đào tạo do Công ti Etienne Lacroix tổ chức, nội dung về đảm bảo công tác an toàn trong những cơ sở sản xuất pháo hoa. Sau đó Nhà máy cũng đã mời đoàn chuyên gia của công ti Etienne Lacroix sang làm việc tại Nhà máy. Đoàn đã huấn luyện và đào tạo về công tác an toàn cho toàn thể cán bộ công nhân viên phân xưởng sản xuất pháo hoa. Chương trình gồm lí thuyết và vấn đề an toàn của từng chặng sản xuất trên toàn bộ dây chuyền, đồng thời chỉ ra các vấn đề Nhà máy cần khắc phục về công tác an toàn trên dây chuyền mới.

PV: Ở mốc Kỉ niệm 50 năm thành lập, những thành công của Nhà máy, những nỗ lực chuyển mình để có một Z121 hôm nay đã được ghi nhận, nhưng chắc hẳn nhiều thách thức cũng đang chờ đón. Đồng chí Chính ủy có thể chia sẻ về những thách thức này và đường hướng để Nhà máy vượt qua?
Đại tá Hồ Công Xuy: Thực trạng hiện nay, doanh thu của chúng tôi năm cao nhất đạt 1.300 tỉ đồng. Trên 3 mảng lớn của Nhà máy, mảng phụ kiện nổ năng lực sản xuất có thể nâng cao nhưng nhu cầu tiêu thụ trong nước đã đến lúc bão hòa; mảng thuốc nổ AD1 có xu hướng giảm; mảng pháo hoa có khả quan hơn, tuy nhiên doanh thu thấp, mỗi năm chỉ tăng được dăm ba chục tỉ đồng. Nghị quyết lãnh đạo của Đảng bộ Nhà máy lần thứ XVIII cũng đã đề ra chủ trương lớn, cùng với việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 147 của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng về nâng cao chất lượng hàng quốc phòng, chúng tôi sẽ tập trung đầu tư mặt hàng mới, thay thế sản phẩm thuốc nổ AD1 bằng thuốc nổ nhũ tương. Về pháo hoa chúng tôi sẽ sắp xếp lại, cơ khí hóa các chặng còn có thể cơ khí được để nâng cao năng suất và đảm bảo an toàn.
Ở mảng phụ kiện nổ, đây là mảng đặc biệt vì chiếm tỉ trọng cao, chúng tôi đang tập trung tìm hướng đi cho phụ kiện nổ với hàng kinh tế, nghĩ đến hướng xuất khẩu phụ kiện nổ ra nước ngoài, trước mắt là các nước xung quanh. Muốn như vậy phải đầu tư về con người, công nghệ, trang thiết bị. Chúng tôi cũng đã tìm hiểu để nhập dây chuyền sản xuất thuốc nổ nhũ tương của Pháp. Việc này đang được tiến hành. Dự án dự kiến được triển khai thực hiện trong năm 2016-2017. Khi dây chuyền đi vào hoạt động sẽ tạo ra sản phẩm thuốc nổ mạnh cung cấp cho thị trường, từng bước thay thế cho thuốc nổ AD-1. Dự án được triển khai sẽ góp phần duy trì doanh thu, tạo việc làm, ổn định đời sống và nâng cao thu nhập cho cán bộ, công nhân viên Nhà máy và là một dấu mốc quan trọng trong lộ trình phát triển doanh nghiệp bền vững của Nhà máy Z121.

PV: Xin cám ơn những chia sẻ của đồng chí Chính ủy!

NGUYỄN XUÂN THỦY ghi
 
                          
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo