"Vườn mộng" - vườn văn

Thứ ba - 17/07/2018 13:00
(Đọc Vườn mộng, tập truyện ngắn của Nguyễn Văn Thọ, Nxb Thanh niên, 2018)

 . BÙI VIỆT THẮNG

Vườn mộng tập hợp các truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Văn Thọ trong vòng hơn ba chục năm (1984 - 2017) cầm bút viết văn. Tuy nhiên, muốn nhận biết đủ đầy gương mặt Nguyễn Văn Thọ trong thể loại truyện ngắn thì phải đọc ngược lại ít nhất các tập từ Vàng xưa (2004), Sẫm viôlet (2013) đến Hương mĩ nhân (2016). Ở đó độc giả yêu thích truyện ngắn hôm nay nhìn ra rõ ràng hơn dưới “thanh thiên bạch nhật” một Nguyễn Văn Thọ - tác giả truyện ngắn. 

Vườn mộng gồm mười tám truyện được chọn lựa một cách kĩ lưỡng đúng như tính cách của chủ nhân. Tôi trước tiên phải làm cái công việc có tính chất thủ công - phân chia đề tài truyện ngắn trong tập này: về cuộc sống của người Việt ở nước ngoài (Trên tàu, Vườn Maria, Bản năng I, Bản ngã, Thật là giản đơn, Chuyện của Huệ); về chiến tranh (Thằng Phoóng em tôi, Lạc tiên, Sương đêm, Ám ảnh, Mùi thuốc súng, Rồi chúng con sẽ trở lại quê hương); về đời sống và con người Hà Nội (Vườn mộng, Lạc cõi giang hồ, Tình yêu người thợ giày, Phố cũ I, Phố cũ II, Người Hà Nội). Phải nói ngay rằng, đề tài không tạo nên giá trị tác phẩm, nhưng trong một chừng mực nào đó nó thể hiện cái gọi là nhiệt hứng riêng có của nhà văn. Căn cứ theo cách phân chia có tính chất thủ công trên sẽ thấy Nguyễn Văn Thọ (sinh quán Thái Bình) dẫu không là người Hà Nội gốc, dù có đi bốn phương trời, thay đổi ẩm thực và đồng hồ sinh học trong sinh hoạt thường nhật thì cái căn cốt vẫn có thể coi là người kinh kì. Lại thấy một người đã có dư mười năm trận mạc khốc liệt mà nỗi gian khổ chết chóc không kể xiết, đôi khi không muốn nhắc lại nhưng kí ức lương thiện lên tiếng phải viết về quá khứ. Lại nữa, sau chiến tranh, cởi bỏ áo lính là lao vào một trận chiến mới không có tiếng súng nhưng trong lòng không thôi báo động và những cú nổ – cuộc mưu sinh giữa trần ai cũng khốc liệt không kém. Dĩ nhiên là văn giới vẫn đinh ninh cái câu như là định đề “không phải là viết về cái gì mà là viết như thế nào”. Đấy, tôi muốn neo vấn đề lại ở cái mấu chốt này. Trong số sáu truyện về đời sống người Việt ở nước ngoài, theo tôi, trội nhất vẫn là Vườn Maria. Nói trội nhất không phải vì tác giả thông thuộc nước Đức, mảnh đất nơi mình gửi gắm bao nỗi niềm hơn hai chục năm mưu sinh, mà vì ở đó những vấn đề nhân tâm thời đại, nơi con người bị chia cắt bởi thể chế chính trị, nơi con người bị nhấn chìm vào triết lí sống hiện sinh chủ nghĩa, nơi các giá trị bị đảo lộn liên tục bất ngờ hiện hình. Nơi đó con người dễ tìm thấy hơn bất cứ ở đâu những phẩm chất chung như tính người, tính nhân loại thay cho tính dân tộc, tính giai cấp bị mờ nhòe khi thế giới đã trở thành thế giới phẳng. Cái câu “Trái đất là ngôi nhà chung của thế giới” không còn là những mĩ từ mà là một thực thể. Tôi đã đọc nhiều tác phẩm của các cây bút Việt sống ở nước ngoài viết về thân phận người Việt tha hương nhưng còn ít gặp cái gọi là tình hữu ái nhân loại như quan hệ và cách hành xử của nhân vật “tôi” với vợ chồng Maria người Đức trước và sau khi bức tường Berlin bị phá dỡ. Có thể nói cách viết của Nguyễn Văn Thọ đã chạm đến cái gọi là văn hóa tương lai. Lâu nay nếu nói văn chương Việt Nam vẫn chỉ quẩn quanh trong ao nhà, chưa vươn ra biển lớn được là vì thế. Nghĩa là ta chỉ bàn chuyện của ta, coi đó là chuyện của nhân loại. Nhưng đó là do ta ngộ nhận. Vì thế dễ hiểu khi Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh lại được dịch và giới thiệu rộng rãi ở nhiều nước, vì nó tiến gần đến “mẫu số chung” của nghệ thuật – tính người, tính nhân loại qua những vấn đề của chiến tranh và số phận con người.

Trong số sáu truyện về chiến tranh thì Mùi thuốc súng thành công hơn cả. Vì sao? Vì rất nhiều nhẽ, nhưng cái chính yếu nhất là tinh thần tố cáo chiến tranh ở phía hủy diệt. Không phải là hủy diệt của cải vật chất và sinh mạng con người mà là hủy diệt hạnh phúc của nó. Một anh lính đi chiến trận hơn mười năm không về sau chiến tranh, lại được báo tử. Dòng họ anh ta có nguy cơ tuyệt diệt vì nhiều đời độc đinh. Trong cảnh ngộ ấy bố anh đã quan hệ với con dâu - vợ anh - để sinh cho dòng họ một thứ gọi là “đích tôn”. Nhưng rồi lương tri phản tỉnh và ông đã uống thuốc sâu tự vẫn. Sau đó anh trở về đột ngột. Trong ngôi nhà của mình, anh nằm giữa con gái và em trai đều do vợ mình đẻ ra. Còn gì trớ trêu, oái oăm hơn cảnh ngộ này. Đúng như nhà thơ Nga Simonov đã viết, “Nỗi đau này không của riêng ai”. Nói như thế là vì nhân vật “anh” thuộc số hàng triệu người Việt Nam chịu hậu quả chiến tranh. Nhưng cái hay của tác phẩm là con người không bị đẩy vào bước đường cùng. Anh quật khởi, vùng lên bằng sức mạnh của một người lính chân chính. Anh kiến tạo cuộc sống mới. Anh kèm cặp, nâng đỡ người vợ cũ của mình vốn từng sai một li đi một dặm. Không phải không có ít nhiều mối bất bình với người vợ phản bội. Nhưng anh là con người tử tế theo nghĩa rộng của từ này, kiểu người mà ngày nay trở nên hiếm hoi. Tôi dám chắc tác giả viết truyện này không chỉ nhằm viết về chiến tranh mà là viết về số phận con người, viết về ý nghĩa của hạnh phúc, về giá trị của nỗi đau giúp con người trưởng thành. Mùi thuốc súng, đọc xong khó thoát ra khỏi nó, vì những ám ảnh nhân sinh và nghệ thuật. Nếu được chọn năm truyện ngắn hay về chiến tranh trong văn học hậu chiến (sau 1975) tôi sẽ không ngần ngại đề xuất Mùi thuốc súng bên cạnh Đội hành quyết của Thái Bá Lợi, Nhiệt đới gió mùa của Lê Minh Khuê, Gió dại của Bảo Ninh, Mười ba bến nước của Sương Nguyệt Minh. Nhưng có lẽ mảng truyện về Hà Nội, lần này mới thực sự tạo tác nên chiều sâu văn chương Nguyễn Văn Thọ, mới soi rọi rõ ràng hơn thần thái của một cây bút Hà thành. Sáu truyện về Hà Nội, cái nào đọc cũng “vào”. Có thể tác giả yêu nhất cái Vườn mộng vì nó viết rất “phiêu” về giới nghệ sĩ Hà thành, vì nó đượm màu liêu trai vốn không mấy khi người đọc nghĩ Nguyễn Văn Thọ viết được như thế. Cũng có thể có người thích Người Hà Nội vì cái chất vừa phong trần vừa hào hoa của nhân vật người lính trẻ mà phảng phất đâu đó là chàng trai Hà thành Nguyễn Văn Thọ năm nao. Nhưng tôi riêng thích Phố cũ I và Phố cũ II  vì nó gợi lên hình ảnh Hà Nội truyền thống. 

 
12

Nguyễn Văn Thọ là một cây bút viết truyện ngắn có nghề. Điều này khó bác bỏ và phủ nhận. Trong lí thuyết thể loại, các nhà văn và nhà phê bình đều thống nhất nhận định về vai trò quan trọng của tình huống truyện. Nói như Nguyễn Thành Long (một “cây truyện ngắn” theo cách định vị của Tô Hoài) thì nghệ thuật truyện ngắn trước hết là “cách đặt con người vào tình huống”. Đa số nhà văn đều cho rằng nếu tìm được tình huống đắt giá thì coi như cái truyện mình định viết đã đảm bảo thành công một nửa. Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ đọc hấp dẫn, theo tôi, trước hết nhờ vào tình huống hấp dẫn, ví như trong Lạc cõi giang hồ. Đó là cuộc gặp gỡ giữa một người tù trở về đời thường và một cô gái điếm. Cả hai đều không chốn nương thân. Tuy có vài tình tiết nương theo Chí Phèo của Nam Cao (tỉ như cái cách Hoàng, kẻ vừa ra tù đón ăn món bánh cuốn do cô gái điếm Loan mang về), nhưng tổng thể thì vẫn thấy rõ là “sản vật” do Nguyễn Văn Thọ chế tác ra. Nó mang dấu ấn, hơi thở, mùi vị, đường nét, thần thái đời sống Hà Nội những năm bao cấp đói kém, xám xịt. Nhưng nó lóe sáng niềm tin vào nhân phẩm lương tri con người mà các thế hệ sau có thể tìm ra không phải trong tầng lớp mũ cao áo dài, chữ nghĩa đầy mình, tự phong là tinh hoa xã hội mà là từ trong đám nhân quần thuộc “bùn lầy”, “dưới đáy”. Cái kết của truyện rất ý vị: sau đó không lâu nhân vật Hoàng trở thành một nhà văn nổi tiếng. Trong tâm can anh hiểu rằng viết đôi khi là để trả những món nợ có tên và không tên. Nhưng có những món nợ trên đời không bao giờ tự mỗi người trả được. Với nhà văn Hoàng, món nợ đó chính là Lan. Một cô gái điếm nhưng tốt hơn nhiều người khác trong đời Hoàng đã gặp.

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ hấp dẫn bởi nó sinh sắc, cái sinh sắc nhờ vào chất sống ròng ròng, cái chất sống hiện hữu nhờ vào các chi tiết đắt giá. Dường như khi chưa tìm được chi tiết hữu dụng thì Nguyễn Văn Thọ còn chưa yên tâm với cái hình hài truyện ngắn mà mình sẽ dày công dựng nên để cống hiến độc giả. Chi tiết cái túi đựng những hòn đá nhỏ, những khúc gỗ đặc biệt - mà một người cha kì khu gìn giữ mang về cho con trai chơi trong truyện Trên tàu, khiến nhân vật “tôi” một phen thót tim hoảng sợ tưởng là túi chất nổ của một kẻ khủng bố - có ý nghĩa biểu tượng. Tôi gọi đó là chi tiết phát sáng. Hiếm hoi những chi tiết như thế trong rừng truyện ngắn đương đại. Cùng một phẩm tính là chi tiết về gói thuốc nổ TNT mà nhân vật “anh” mang theo mình suốt nhiều năm sau chiến tranh trong truyện Mùi thuốc súng. Cuối cùng thì anh phải ném nó xuống sông vì nhiều nhẽ, nhưng trước hết là để quên đi giết chóc, hận thù. Và sau hết là để bảo tồn sự sống vốn không bao giờ chán nản. Chi tiết gói thuốc nổ đã chứa nhiều sức nổ của tác phẩm xét cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Đọc Nguyễn Văn Thọ, đôi lúc tôi có cái cảm giác “ông” này gần gũi với Nguyễn Huy Thiệp trong cách thức tìm và tạo dựng chi tiết. Nhưng khác ở chỗ là không quá say sưa, không quá đà, có ngưỡng nên không rơi vào tình trạng “quá trớn”.

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ nhìn chung có sức chứa lớn, nó được tiểu thuyết hóa dẫu cho bộ xiêm y mang trên mình vẫn có chữ “ngắn”. Từ truyện ngắn tác giả có thể nâng cấp lên thành tiểu thuyết. Tiểu thuyết Quyên là một ví dụ, nó có chất bột từ truyện ngắn (trong tập này là cái nhân đôi của Bản năng I và Bản ngã).

Văn Nguyễn Văn Thọ có giọng đặc trưng. Cái giọng này không nhất thành bất biến, không đơn điệu. Khi nào ông đóng vai một nhà hiện thực thì giọng riết róng, sát sàn sạt (Bản năng I, Bản ngã…). Nhưng khi nhập vai một nhà lãng mạn cuối mùa thì giọng lại đầy thương cảm (Vườn mộng, Sương đêm...). Có khi ông thử đóng vai một nhà hiện sinh thì giọng đầy chiêm nghiệm, triết lí (Vườn Maria), có lúc thì y như một thám tử tư ông đi vào khám phá những ngõ ngách đời người bằng một giọng thì thào bí hiểm (Phố cũ I và Phố cũ II)... Nhưng dẫu cất lên bằng giọng nào thì cái cốt lõi, cái chất Nguyễn Văn Thọ vẫn bộc lộ không che giấu – ông muốn sòng phẳng với chính mình và với người đời. Ông muốn nói cho hợp tình hợp lí mọi chuyện, tránh cực đoan. Và như Trần Đăng Khoa nhận xét khi ông đứng về phe nước mắt, thì tôi gọi đó là lúc ông cất cao giọng bào chữa cho kẻ yếu trong thiên hạ, tụng ca người tử tế giữa trần gian vốn ngày càng hiếm hoi. Cũng kì lạ như cụ Nguyễn Du viết về Thúy Kiều qua lời Thúy Vân rằng chị mình khéo dư nước mắt khóc người đời xưa. Cũng kì lạ chính ở tôi, một người đọc trung thành của Nguyễn Văn Thọ, ngày càng nhận thấy cái bề ngoài đôi khi khó gần vì nét căng thẳng thường trực, vì cách nói riết róng mọi sự, lại dễ bị tổn thương và nghẹn ngào khi động đến những chuyện thuộc nhân tình thế thái. Nhiều người trong văn giới ngại tiếp xúc với Nguyễn Văn Thọ và thậm chí có người... sợ ông. Ông thực ra rất yếu đuối, đa cảm, đa tình, đa sự, đa đoan, nghĩa là đa nhân cách, nên cũng rất đa giọng là phải thôi!

Vườn mộng không phải là một cái gì toàn bích. Nói thế không phải tôi có ý cân bằng khen chê cho đều. Hơn ba mươi năm mà chỉ chọn có gần vài chục truyện ngắn thì không phải là nhiều. Trong sáng tác nghệ thuật quy luật “quý hồ tinh bất quý hồ đa” là một định đề. Nhưng dẫu có tiết chế sự viết vì cẩn trọng hoặc vì cầu toàn thì cũng không có nghĩa vì thế mà ít sai sót. Nguyễn Huy Thiệp một lần cao hứng nói, một tác giả viết truyện ngắn thành danh cũng chỉ cần chừng bốn đến năm “cái” đứng được là thành công. Mười tám truyện được chọn đưa vào Vườn mộng, khách quan mà nói cũng chưa thật đồng đều, vẫn có sự trồi sụt nếu đọc kĩ. Thấy rõ là ông vẫn còn hơi tham khi trong một truyện ngắn mà kể cho hết sự tình, sự đời. Ông chưa có cái cao cường của người viết biết cách “bỏ đói” độc giả vốn rất tham lam. Vẫn còn thấy thiếu những “bước hụt” mà nhà văn cố tình gieo ra trên con chữ ở đoạn kết thúc để làm độc giả xuýt xoa, thèm muốn khám phá tiếp. Đọc Nguyễn Văn Thọ độc giả có cái cảm giác thỏa mãn vì được tiếp nhận những câu chuyện hay, đôi lúc li kì. Nhưng bảo họ rằng các người hãy nghĩ tiếp đi, tưởng tượng tiếp đi thì lại khó. Vì độc giả được bao cấp quá nhiều. Lỗi này là từ tác giả. Tôi nói thế không biết có đúng? Có ai nói, thật chí lí, nơi tác phẩm kết thúc chính là nơi cuộc sống của nó bắt đầu. Hãy cùng khám phá Vườn mộng - vườn văn Nguyễn Văn Thọ.   
 
B.V.T

 


 
 Từ khóa: BÙI VIỆT THẮNG
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo