Tuyên ngôn độc lập: Một văn kiện lịch sử vô giá, một kiệt tác chính luận

Thứ ba - 18/09/2018 11:11
Hồ Chí Minh với cương vị Chủ  tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại căn nhà số 48 Hàng Ngang - Hà Nội, trong một thời gian ngắn, Người đã hoàn thành việc soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập để sáng 2-9-1945, Người thay mặt Chính phủ trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào ta. Từ đó Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành bất tử trong hàng chục triệu trái tim của mấy thế hệ người Việt Nam yêu nước.
 
new of 1bacho 0631
Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập (Nguồn internet)
 
Trong lịch sử dân tộc ta đây là Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên xây dựng nhà nước mới: Nhà nước Dân chủ Cộng hòa. Trong lịch sử văn học đây là  bản Tuyên ngôn Độc lập thứ ba sau bài: “Nam Quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt (Thế kỷ XI ) và bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV).

1. Tuyên ngôn Độc lập  là một văn kiện lịch sử vô giá 
Bởi vì Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện quan trọng được công bố ngay sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại thành công trong cả nước. Văn kiện này có giá trị lịch sử, giá trị tinh thần, giá trị pháp lý thật to lớn.
Một là, Tuyên ngôn Độc lập đã thẳng thắn tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta, lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam.
Nói về thắng lợi vĩ đại này Trần Dân Tiên viết “Bản Tuyên ngôn Độc lập là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hy sinh của những người con anh dũng Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả bao nhiêu hi vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam".
Lời Tuyên ngôn Độc lập như sấm dậy vang khắp non sông truyền đi khắp thế giới: “ Pháp chạy, Nhật hàng, Vua bảo Đại thoái vị. Nhân dân  ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta đã đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
Hai là, Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng khái bác bỏ dứt khoát những luận điệu sai trái của bọn thực dân Pháp và tuyên bố về mối quan hệ với Pháp.
Khi đó, Nhật đã đầu hàng Đồng minh, các lực lượng phản động, thực dân đế quốc đang âm mưu xâm chiếm nước ta, lấy danh nghĩa quân Đồng minh vào nước ta để tước khí giới quân đội Nhật. Tiến vào phía Bắc Việt nam là đội quân Quốc dân đảng Trung Quốc,  đằng sau là đế quốc Mỹ với âm mưu: “ Diệt cộng, cầm Hồ”, tiến vào phía Nam Việt Nam là đội quân Anh, đằng sau là lính viễn chinh Pháp thực hiện âm mưu tái xâm lược Việt Nam. Lúc này bọn thực dân Pháp ngang nhiên tuyên bố: Đông Dương là “đất bảo hộ” của người Pháp bị Nhật chiếm đóng, nay Nhật đã đầu hàng, do vậy Đông Dương đương nhiên thuộc quyền của người Pháp.
Tuyên ngôn Độc lập đã nêu lên những vẫn đề có tính chất pháp lý, lý lẽ rõ ràng đanh thép. Tố cáo những tội ác dã man, vô nhân đạo, sự phản bộ, sự hèn nhát của bọn thực dâp Pháp, với những chứng cứ minh bạch để phủ quyết vai trò “ bảo hộ” của chúng. Từ mùa thu năm 1940 Phát xit Nhật xâm lược Đông Dương thì bọn Thực dân Pháp đã quỳ gối đầu hàng, “Mở cửa nước ta rước Nhật”, ngày chính biến 9-3-1945 bọn chúng “ hoặc đã bỏ chạy, hoặc đã đầu hàng” thế là “ Trong 5 năm chúng bán nước ta hai lần cho Nhật”. Khi lực lượng Việt Minh kêu gọi người Pháp liên minh chống Nhật “ Bọn thực dân pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa, thậm chí đến khi thua chạy chúng còn nhẫn tâm giết một số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”
Tuyên ngôn Độc lập còn nêu rõ sự thật để làm căn cứ tuyên bố về mối quan hệ Việt Nam - Pháp: “ Sự thật từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải là thuộc địa của Pháp” và “ sự thật là dân ta đã lấy lại Nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”
Bởi những lẽ trên Tuyên ngôn Độc lập  tuyên bố: “ Thoát ly hẳn quan hệ với thực dân pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”
Ba là, Tuyên ngôn Độc lập đã thể hiện rõ lập trường sắt đá thái độ kiên quyết của Chính phủ lâm thời và của nhân dân Việt Nam về quyền tự do độc lập.
Trước những âm mưu xâm lược của các lực lượng phản động, thực dân đế quốc đặc biệt là âm mưu xâm lược của thực dân pháp, Tuyên ngôn Độc lập  vang lên như lời thề quyết chiến: “ Toàn dân việt nam trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”, mặt khác tin tưởng và đinh ninh rằng: “ các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”
Tuyên ngôn Độc lập còn tuyên bố với thế giới về quyền hưởng tự do độc lập và tinh thần giữ vững quyền tự do độc lập của dân tộc Việt Nam. Lời văn vang lên như lời hịch non sông: “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”
Vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử vô giá, bởi giá trị lịch sử, giá trị tinh thần, giá trị pháp lý trong quá khứ và còn nguyên giá trị trong hiện tại và tương lai.

2. Tuyên ngôn Độc lập một kiệt tác chính luận
Người soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập là Chủ tịch Hồ chí Minh lãnh tụ tối cao của dân tộc, nhà văn hóa lớn của nhân loại. Từ khi ra đời 2-9-1945 Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành một kiệt tác chính luận, có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam.
Thứ nhất, Tuyên ngôn Độc lập là văn bản chính luận mẫu mực có kết cấu chặt chẽ, chiến lược trình bày vấn đề rõ ràng, lời văn vừa giản dị trong sáng vừa hùng hồn cảm xúc, thể hiện ở đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ.
Ở phần đầu văn bản Tuyên ngôn Độc lập Người đã đưa ra luận điểm cơ bản về quyền tự do độc lập có tính nguyên lý với tính mục đích cao. Người trích dẫn trực tiếp bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776: “ Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Đấy là lời bất hủ về quyền con người, dựa vào đó Chủ tịch Hồ chí Minh suy rộng ra làm luận điểm chính: “ tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Đó là luận điểm của Người về quyền tự do độc lập của các dân tộc trên toàn thế giới. Sau đó Người lại trích một câu trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1971: “ Người ta sinh ra tự do bình đẳng và quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”, nó đồng quan điểm với lời Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ . Việc trích dẫn trực tiếp như thế có tác dụng như một lá chắn thép bảo vệ luận điểm của mình, vừa như một điểm tựa bẩy luận điểm của mình lên cao, đồng thời để chứng minh làm sáng tỏ luận điểm ấy. Sau đó người đi đến khẳng định: “ Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”
Như thế, luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vê quyền tự do độc lập trở thành một chân lý mà tất cả mọi người phải thừa nhận. Hơn nữa luận điểm của Người lại rộng hơn, mang tính thời đại, mang  tính quốc tế, không phải chỉ có độc lập tự do của một đân tộc ta mà là độc lập tự do của tất cả các dân tộc trên thế giới. Lẽ đương nhiên là nó đứng ngang hàng với các chân lý trong hai bản tuyên ngôn của nước Mỹ và của cách mạng Pháp.
Để làm sáng tỏ chân lý trên, chiến lược trình bày của Người ở phần chính văn bản Tuyên ngôn Độc lập  thể hiện bằng hai luận chứng chủ yếu:
Luận chứng thứ nhất, tương ứng với đoạn văn bản đầu của phần chính, từ “ Thế mà hơn 80 năm nay....” đến “ ....Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”. Luận chứng này được trình bày theo kiểu suy luận diễn dịch nhưng lý lẽ, dẫn chứng lại tương phản và đối lập với chân lý nêu trên.
Người đưa ra lý lẽ: “ Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cước nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Dẫn chứng lại rất cụ thể và xác thực về hai mặt là chính trị và kinh tế.
Về chính trị, gồm 5 vấn đề chính, tóm lại là: về dân chủ " chúng không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”; về luật pháp  " Chúng thi hành những luật pháp dã man", thực hiện chia để trị “ lập ra ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc” ngăn cản việc thống nhất nước nhà  của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết"; sự đàn áp thì rất tàn khốc “ Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học” , "thẳng tay chém giết", “ tắm những cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”; áp dụng “ Chính sách ngu dân”,  dã man hơn là “ dùng thuốc phiện rượu cồn để nòi giống ta suy nhược”
Về kinh tế, gồm 4 vấn đề chính, tóm lại là: nặng nề nhất: “ Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy”; đau đớn thay: “ Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu”, lại “ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng”; tai hại hơn “ chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý” và “ không cho các nhà tư bản của ta ngóc đầu dậy” làm cho nhân dân ta “ nhất là dân cày, dân buôn ngày càng trở lên bần cùng”; ở công trường, xưởng máy “Chúng bóc lột  công nhân ta  một cách vô cùng tàn nhẫn”
Đó là những hành động vô cùng tàn bạo, những chính sách cực kỳ phản động của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam, rõ ràng là “ trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.
Luận chứng thứ hai, tương ứng với đoạn văn bản sau của phần chính là “ Từ mùa thu năm 1940...” đến “...Dân tộc đó phải được độc lập!”.
Luận chứng này là luận chứng cơ bản, Người trình bày theo kiểu suy luận nhân quả, đó là nguyên nhân và kết quả của cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Người dùng luận chứng thứ nhất phục vụ cho luận chứng thứ hai là nêu lên nguyên nhân sâu xa và cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám.
Người nêu lên những nguyên nhân khách quan thuộc về phía Pháp,  Nhật. Nguyên nhân  thuộc về phía Pháp đặc biệt là khi Nhật đến xâm lăng Đông Dương thì bọn thực dân Pháp “ đã quỳ gối đầu hàng”, “ mở cửa nước ta rước Nhật”. Từ đó nhân dân ta phải chịu “ hai tầng xiềng xích” dẫn đến “dân ta càng cực khổ nghèo nàn”, thảm họa đã xảy ra “ cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”. Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật làm đảo chính, bọn thực dân Pháp “ hoặc đã bỏ chạy, hoặc đã đầu hàng”. Thế là “Trong 5 năm chúng đã hai lần bán nước ta cho Nhật”. Khi lực lượng Việt Minh kêu gọi người Pháp liên minh chống Nhật “ Bọn thực dân pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa, thậm chí đến khi thua chạy chúng còn nhẫn tâm giết một số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”. Nguyên nhân này chỉ ra chế độ thực dân Pháp đã sụp đổ hoàn toàn ở Việt Nam.
Nguyên nhân về phía Nhật, chúng cấu kết với bọn thực dân Pháp đã gây cho nhân dân Việt Nam muôn vàn tội ác dã man. Một tội ác tày trời là đã trực tiếp gây ra nạn đói:" cuối năm năm ngoái đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói". Một nguyên nhân khách quan đến đó là “ Nhật đầu hàng Đồng minh”, tạo ra thời cơ nghìn năm có một cho nhân dân ta nổi dậy buộc Nhật phải hàng Việt Minh, trao trả chính quyền. Việc này chỉ ra chủ nghĩa phát xít Nhật đã hoàn toàn bị đánh bại ở Việt Nam.
Nguyên nhân chủ quan thuộc về phía nhân dân Việt nam, phần này Người không trực tiếp trình bày trong một đoạn văn cụ thể nào, nhưng khi đọc  Tuyên ngôn Độc lập mọi người Việt Nam đều rất tự hào là một dân tộc đã anh dũng chống lại ách nô lệ của thực dân pháp hơn 80 năm, một dân tộc đã kiên cường đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, nhất là dưới sự lãnh đạo của Việt Minh đã nhanh chóng chớp thời cơ nổi dậy giành chính quyền trong tay Nhật lập nên nước Việt Nam mới.
Kết quả của Cách mạng tháng Tám giành tự do độc lập là hết sức nhanh chóng, hết sức vĩ đại “ Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”.
Sự thành công của Cách mạng tháng Tám đã làm sáng tỏ sự thật đã nêu trên. Nhân dân Việt Nam đã vì lẽ phải, vì chính nghĩa đã anh dũng đứng lên chặt đứt các xiềng xích: thực dân, phát xít, phong kiến giành tự do độc lập. Đã chứng minh cho chân lý thời đại: Không có gì quý hơn độc lập  tự do!
 Về quan hệ mới Việt Nam với Pháp, bản Tuyên ngôn Độc lập nêu rõ lập trường, quan điểm của nhân dân và Chính phủ lâm thời Việt Nam. Căn cứ vào những điều đã nêu thì bọn thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái chúng đã gây ra những tội ác tày trời, vô nhân đạo đối với dân tộc ta. Chúng đã đầu hàng Nhật, phản bội Đồng minh và Việt Minh, “ sự thật nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp” và “ sự sự thật là nhân dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”. Điều đó nói lên chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam đã sụp đổ hoàn toàn không còn dính líu gì đến Việt Nam. Điều trên vừa có lý vừa có tình để tỏ rõ một thái độ dứt khoát và rất kiên quyết của Chính phủ lâm thời Việt nam Dân chủ Cộng hòa và của dân tộc ta. Nội dung tuyên bố với Pháp: “ Thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước việt Nam, xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”
Trước những âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, Người nêu lên quyết tâm sắt đá của dân tộc ta “ Toàn dân Việt nam trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. Người tin tưởng các nước Đồng minh đã công nhận các nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam". Người kết luận đanh thép “ Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đa gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”.
Phần kết thúc của bản Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên bố độc lập tự do, đó là mục đích cao nhất của văn bản chính luận này. 
Đó là lời tuyên bố trịnh trọng của Chính phủ lâm thời trước nhân dân Việt Nam và trước nhân dân thế giới: " Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập", chính vì có quyền hưởng tự do độc lập, nên mới có quyết tâm sắt đá: “ Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy.”.
Như thế, chiến lược trình bày vấn đề của Người rất nhất quán thể hiện trong một cấu trúc rất hoàn thiện, vừa nêu vấn đề vừa trực tiếp biểu thị thái độ, công khai bình giá, nhất là khi đưa ra một luận điểm có tính chất là một chân lý, với những luận chứng rõ ràng, minh bạch, thái độ dứt khoát, kiên quyết, đã thu phục tinh thần, trí tuệ, tình cảm của người đọc, người nghe.
Mặt khác, lời văn Tuyên ngôn Độc lập  thật giản dị trong sáng, thật hùng hồn cảm xúc thể hiện ở đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ.

          Lời văn Tuyên ngôn Độc lập thật giản dị trong sáng, nó giản dị như tác phong của Người, trong sáng như tâm hồn của Người. Giản dị bởi nó là lời ăn tiếng nói của nhân dân dùng hàng ngày, được Người đưa vào bài văn nên ai nghe, ai đọc cũng dễ cảm, dễ hiểu.  Những từ ngữ rất đỗi thân quen mà diễn tả ý nghĩa thật sâu xa như “ lẽ phải”, “trái hẳn”, “ một chút”, “ thẳng tay”, “ngóc đầu”, “ quỳ gối”, “mở cửa”...Người dùng điệp ngữ “ Chúng tuyệt đối không cho..”, “ Chúng thi hành...”, “chúng lập ra....”, “Chúng rằng buộc...”...vừa có giá trị liệt kê tội ác chất chồng của giặc vừa có giá trị tăng tiến dồn nén nỗi đau, lòng căm thù. Người cũng dùng phép chuyển nghĩa: “ chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”, “ chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy”, “ dân ta chịu hai tầng xiềng xích”... tạo nên những hình tượng ngôn ngữ sinh động, gây ấn tượng sâu sắc.

Về câu, Người dùng phối hợp cả câu ngắn và câu dài. Loại câu nào cũng hấp dẫn vì nội dung và cách diễn đạt rất mới mẻ, người nghe, người đọc rất dễ nhớ, dễ thuộc. Câu ngắn dùng làm kết luận, khẳng định: “ Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Hay câu ngắn để diễn tả những diễn biến nhanh chóng các sự kiện “ Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, hoặc để tạo ra giọng đanh thép, Người viết những câu cảm có ý nghĩa khẳng định rất ngắn: “ dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”

Ở những câu dài, Người dùng lối song hành cú pháp, khi thì lặp bộ phận: “ tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”..Khi thì lặp cấu trúc câu: “ Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa” cách viết này vừa triển khai được ý trọn vẹn hơn, vừa đúc kết chân lý vĩnh cửu trong những khuôn hình câu rất vững chắc...

Lời văn trong Tuyên ngôn Độc lập  rất mực trong sáng. Trong sáng bởi tâm hồn người viết rất trong sáng. Người luôn luôn nghĩ đến quyền con người, quyền dân tộc cụ thể là “ quyền bình đẳng”,  “quyền sống”, “ quyền sung sướng”, “ quyền tự do” là rất đỗi thiêng liêng đối với người dân nô lệ, những dân tộc bị áp bức mất tự do. Người luôn nghĩ đến  cái cao cả như “ lẽ phải”, “ nhân đạo”, “ chính nghĩa”, nghĩ đến “ đồng bào”, “ đất nước”, nghĩ đến sự đoàn kết, hy sinh...Những cái đó phản ánh một tâm hồn cao thượng trong sáng, tinh khiết của một con người đã hiến dâng tất cả đời mình vì độc lập, tự do, vì hạnh phúc con người, vì lẽ sống, vì niềm tin. Tâm hồn ấy rực sáng như mặt trời, trong suốt như pha lê được thể hiện trong từng chữ, từng câu.

Tuyên ngôn Độc lập có lời văn hùng hồn cảm xúc. Sự hùng hồn xuất phát từ sự thành công của Cách mạng tháng Tám vĩ đại. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản quang vinh đã làm nên chiến công vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc, lại có ý nghĩa quốc tế, ý nghĩa thời đại rất to lớn. Người thể hiện tinh thần đó trong từng luận điểm, luận chứng, cụ thể hơn trong từng lời văn. Đó là những lời bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ của Cách mạng Pháp, là những lẽ phải cao đẹp, con đường chính nghĩa sáng ngời, sự vinh quang của dân tộc và của thời đại. Đó cũng là lời cáo, lời hịch, lời thề thiêng liêng của tân tộc ta. Giọng văn hùng hồn được tạo bởi sự hài hòa về âm thanh, sự phối hợp bằng trắc trong những cấu trúc câu lặp, song hành khẳng định. Đọc lại thấy giọng hùng hồn của Hịch tướng sĩ, của Bình Ngô đại cáo, của những bản anh hùng ca chiến thắng.

Lời Tuyên ngôn Độc lập còn chứa đầy cảm xúc. Cảm xúc bởi nỗi đau, nỗi căm hờn của một dân tộc nô lệ, dân tộc mất nước. Người thể hiện bằng những từ ngữ rất giàu cảm xúc. Mở đầu phần chính Người không dùng “thế đó”, “ thế nhưng”, Người dùng “ Thế mà” dùng để liên kết đoạn vừa thể hiện nghĩa tương phản đối lập mà còn mang cả nỗi căm hờn phẫn uất của dân tộc ta. Hay dùng cả cặp từ quan hệ “ Bởi thế cho nên” , vừa có giá trị liên kết đoạn  vừa nêu lên được lý do chính đáng, lại còn biểu thị thái độ dứt khoát. Người dùng ngữ nối:" Vì những lẽ trên" để gắn kết hết sức chặt chẽ các phần văn bản và cũng thể hiện rất nhất quán về chủ đề tư tưởng.

Những từ ngữ chứa chất lòng căm thù thực dân, phát xít là những tính từ chỉ tính chất: “ dã man”, “ tàn nhẫn”, “ bần cùng”, “ nhẫn tâm”.. và những cụm từ nói về sự tàn ác của giặc Pháp: “ tắm các cuộc khởi nghĩa....trong những bể máu”, bóc lột “ đến xương tủy”...
Niềm cảm xúc sung sướng tự hào trào dâng khi nghe, đọc những lời nói về chiến công vĩ đại liên tiếp: “ Dân ta đã đánh đổ các xiêng xích thực dân”.. “Dân ta đánh lại chế độ quân chủ”.. Cả niềm xúc động về sức mạnh tinh thần thiêng liêng khi dân tộc ta quyết đứng lên bảo vệ quyền độc lập tự do. Đó là tinh thần: “ kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” và “ quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập”. Đó là cội nguồn của tinh thần: “ Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” được thể hiện trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thần thánh của dân tộc ta.

Như vậy, Tuyên ngôn Độc lập là một bài văn chính luận mẫu mực thể hiện ở kết cấu, ở chiến lược trình bày, ở lời văn. Tất cả những cái đó có được là nhờ tài  năng biểu hiện sinh động nghệ thuật ngôn từ ở đỉnh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ hai, Tuyên ngôn Độc lập có giá trị bền vững về lịch sử, nhân bản và thẩm mỹ.
Về giá trị lịch sử: Tuyên ngôn Độc lập là trung tâm sự kiện của Cách mạng tháng Tám, mốc son lịch sử chói ngời của dân tộc Việt Nam trên chặng đường dài lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, chống chế độ phong kiến. Tuyên ngôn Độc lập đã tố cáo những tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân, phát xít, phong kiến trong lịch sử để đời đời khắc cốt ghi xương. Ghi lại những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam đánh bại chủ nghĩa phát xít, đánh đổ xiềng xích thực dân, đánh đổ chế độ phong kiến đã lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa. Đưa ra được những tuyên bố lịch sử: “ Thoát ly hẳn quan hệ thực dân Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ hết mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”. Tuyên bố với toàn thể nhân dân ta và nhân dân thế giới: Nước Việt Nam “ đã thành một nước tự do, độc lập” có quyền hưởng và quyền giữ vững độc lập, tự do của mình. Giá trị lịch sử của bản Tuyên ngôn Độc lập còn ở tính pháp lý, bởi tất cả các nước phải công nhận và nhất thiết phải công nhận quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, bất kỳ nước nào, lực lượng nào, bất kỳ ai đều không có quyền xâm phạm tới.

Về giá trị nhân bản: Tuyên ngôn Độc lập nên lên" quyền bình đằng” “quyền được sống”, “ quyền tự do” và “ quyền mưu cầu hạnh phúc” của con người. Đó là chân lý nhân bản đã được nêu trong hai bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và  của cách mạng Pháp. Rộng hơn, cao hơn quyền con người là quyền độc lập tự do của các dân tộc, đó là quyền “ sinh ra bình đẳng” dân tộc nào cũng có quyền “ quyền sống”, “ quyền sung sướng” và “ quyền tự do”. Nó phản ánh thống nhất giữa quyền dân tộc và quyền con người. Mỗi con người muốn có độc lập tự do thì phải đấu tranh cho dân tộc được tự do độc lập. Đó là sứ mệng thiêng liêng của mỗi con người của  tất cả cộng đồng dân tộc có mục đích chung là tự do độc lập và muốn giải phóng con người thì trước tiên phải giành tự do độc lập cho dân tộc.

Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố kết quả Cách mạng tháng Tám vĩ đại là đã chặt đứt “ các xiềng xích thực dân gần 100 năm”, đã đánh đổ chế độ phong kiến đen tối” “chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ”, vinh quang đời đời là đã khai sinh ra “ chế độ Dân chủ Cộng hòa”
Giá trị nhân bản còn ở thái độ kiên quyết, quyết tâm sắt đá, ở phương diện đoàn kết “ trên dưới một lòng” ở tinh thần thà hy sinh tất cả “ quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Về giá trị thẩm mỹ: Tuyên ngôn Độc lập là văn bản có giá trị thẩm mỹ cao. Thể hiện trong một văn bản chính luận rất hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, một cấu trúc hoàn thiện, lời văn giản dị trong sáng, hùng hồn cảm xúc, vừa xúc tích vừa hấp dẫn có sức thuyết phục người đọc người nghe.

Cái quý hơn là Tuyên ngôn Độc lập đã tạo ra những rung động thẩm mỹ. Đó là niềm xúc động thiêng liêng về quyền con người, quyền dân tộc. Cảm xúc về nỗi đau của cuộc đời nô lệ, của dân tộc bị mất nước, niềm tự hào khi dân tộc được giải phóng, làm nên những chiến công vĩ đại trong lịch sử, cũng như ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ vinh quang của mỗi công dân về vận mệnh của dân tộc; là nhận thức về lẽ phải, về đạo lý và sự nghiệp anh hùng của toàn thể dân tộc ta trước những thời cơ, thử thách trong thời đại mới.

Tuyên ngôn Độc lập  mãi mãi là thông điệp thẩm mỹ, dấy lên trong mỗi chúng ta những hình ảnh cao đẹp về đất nước về con người về dân tộc Việt Nam. Tác động thẩm mỹ ấy sẽ là mạnh mẽ và lâu dài đến nhiều thế hệ những người yêu nước Việt Nam.
Như vậy, Tuyên ngôn Độc lập là một kiệt tác về chính luận, chiếm một đỉnh cao của nền văn học Việt Nam; có sức sống mãnh liệt trong thời đại Hồ Chí Minh và mãi mãi bất tử trong lịch sử vinh quang của dân tộc ta.
                                                                     
                                                                                                    9/2001
 Hồ Chí Minh: Tuyên ngôn Độc lập, sgk Văn 12,  Nxb Giáo dục, HN, 2000, tập 1, tr 56 - 60..


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo