Truyện ngắn yêu thích của tôi là... (Phần ba)

Thứ bảy - 16/06/2018 13:03
LTS: Ở hai số tạp chí trước, Toà soạn đã mở diễn đàn “Thế nào là một truyện ngắn hay?” với sự tham gia của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu - phê bình, thu hút sự chú ý của đông đảo bạn đọc, bạn viết. Sang số này, Toà soạn mở diễn đàn “Truyện ngắn yêu thích của tôi là…” với sự tham gia của bạn đọc. Hi vọng những diễn đàn như thế này có ý nghĩa tích cực trong việc đồng hành, “tiếp lửa” cho cuộc thi truyện ngắn “Lửa Mới” (2018 - 2020) đang diễn ra trên VNQĐ.

MAI THẾ HÙNG (kĩ sư phần mềm, Tp. Hồ Chí Minh):
Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt - NGUYỄN HUY THIỆP

Mai Thế Hùng“Không hề ai biết hắn là một thi sĩ”.
Những thanh âm này đã vang lên và phảng phất trong tôi sau cái lần “Vừa chớp mắt đã lại thấy chỗ ấy có một cánh hạc vừa bay lên trời. Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt”.
Đó là lần đầu tôi đọc truyện ngắn này của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, khi tuổi ngoài hai mươi, cái tuổi nhiều mơ màng lãng đãng, say sưa với tiêu dao du, cùng Trang Sinh, Hồ Điệp.
Cốt truyện khá đơn giản, kể về một người “đội chiếc mũ cát trắng rộng vành, chiếc mũ đã cũ, ngả màu cháo lòng”, người mà “không hề ai biết hắn là một thi sĩ”, người đã có lời hẹn ước với một cô gái từ bảy năm trước là giờ này, ngày này, sẽ đón dâu ở đây, trên bến đò Vân này, và rồi thảng thốt biết rằng nàng đã chết…
Lồng trong câu chuyện có vẻ giản đơn, hơi mòn cũ đó là những câu thoại diễn ra trong không khí liêu trai, phiêu bồng khinh khoái của chàng thi sĩ với ba mẹ con bà Tham.
Truyện đặc biệt đến nỗi khi đọc xong, cùng với “tiếng hạc thảng thốt”, người đọc - tôi cũng có những thảng thốt riêng của mình.
Thật khó để mô tả đầy đủ, rõ ràng cái thảng thốt đó, khó như việc tường minh thi sĩ là ai.
Tôi thảng thốt khi bà Tham lo ngại đưa tay kéo hai đứa con sát lại mình, trong khi những đứa con hào hứng vỡ lẽ gã đàn ông có vẻ sương khói kia là một nhà thơ, còn người lão bộc thì rụt rè: “Thưa ông, nghề nghiệp của ông thật nguy hiểm”.
Tôi thảng thốt khi đọc được sáu lần câu “Không hề ai biết hắn là một thi sĩ”, sau mỗi phiến đoạn ở phần đầu của truyện. Cách sử dụng lặp lại nhiều lần một câu văn, hình ảnh mang hồn cốt của tác phẩm như thế này tôi đã gặp nơi nhiều truyện ngắn khác, như câu nói vi vu trong gió “Nadia, anh yêu em” trong Một chuyện đùa của A. Chekhov, hay hình ảnh “chiếc lá” trong Chiếc lá cuối cùng của O. Henry… Nhưng “Không hề ai biết hắn là một thi sĩ” trong đây lại mang một âm hưởng rất lạ, vang lên giữa một khí quyển hư thực thực hư, mang đến cho tôi những rung cảm thật khác.
Tôi thảng thốt khi cuối truyện thấp thoáng bóng người vừa phất tay áo chấm một nét lẻ loi nghiêng lệch góc trời, nhưng chớp mắt đã không còn bóng người, chỉ còn “hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt”, như dư ảnh, dư âm, vừa tan biến bên trời vừa vấn vít trong tôi. 
Sau này, thảng hoặc, vài người bạn hỏi tôi: “Dạo này có làm thơ không?”. Trước khi trả lời một câu gì đó, trong yên lặng tâm ý tôi, hình ảnh và thanh âm “hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt” lại sinh động hiện ra.
 

HỒ NGUYỆT ÁNH (học sinh THPT, Quảng Bình):
Những người ra đi từ Omelas - URSULA K. LE GUIN

Hồ Nguyệt Ánh Rất nhiều lần, trong một khoảnh khắc chợt đến rồi cũng chóng đi trên những chuyến xe, tôi tưởng như nghe thấy tiếng sáo văng vẳng, ở một nơi gọi là Omelas…
 Một vùng đất tưởng như không thực mang tên niềm vui và hạnh phúc, một đứa trẻ vô tội trở thành vật tế cho sự yên bình, những con người từ bỏ Omelas trong cô độc… Tôi không biết làm thế nào để lột tả hết được ý nghĩa của truyện ngắn này, song để nói về cảm nhận rõ ràng nhất của bản thân đối với nó thì đó là sự ám ảnh.
Nội dung có lẽ không phải là ấn tượng đầu tiên đối với người cảm nhận, thay vào đó là sự trăn trở từ những câu hỏi thực sự không dễ để trả lời, hoặc chẳng bao giờ có thể trả lời. Nên cứu đứa trẻ kia hay Omelas mới là chính đáng? Con người ta nên được hưởng hạnh phúc của bản thân hay “thuyết công lợi - tìm kiếm hạnh phúc cho số đông” sẽ luôn kiểm soát tất cả? Liệu Omelas có tồn tại đâu đó trong cuộc đời thực? Tại sao những người kia lại ra đi trong khi đứa trẻ vẫn sẽ phải chịu đau khổ? Điều gì làm nên bản chất của hạnh phúc?... Những nghịch cảnh liên tục cuốn người đọc vào mạch ngầm dưới lớp ngôn từ. Và quá trình độc giả tự mình giải đáp những nghi vấn cũng là lúc ý nghĩa tác phẩm bắt đầu lộ thiên.
Điều đặc biệt ở Le Guin là sự nhận thức và đào sâu những nghịch lí phức tạp ở những thứ tưởng như hoàn toàn hữu lí, dưới một văn phong hết sức đơn giản và rõ ràng, không quá lạ hóa nhưng lại có khả năng dẫn dụ người đọc lí giải những bí ẩn bên trong. Bằng giọng văn có vẻ lạnh lùng và lối viết cực kì điềm tĩnh, tác giả rất nhẹ nhàng, lần giở lớp vỏ giản đơn bên ngoài của cuộc sống, để phơi bày những mặt phức tạp, trái ngang. Đó là cả một năng lực tự sự. Tác phẩm có thể không mang đến hương vị ở phút ban đầu, song lại dậy men dần và thực sự chưng cất khi nhận thức và xúc cảm đủ nhiều cho sự cảm thụ.
Dẫu biết chắc rằng phía trước có rất nhiều đau khổ và cô độc mà người trả giá chính là bản thân mình, song người ta vẫn lựa chọn ra đi, vì “dường như họ biết mình đang đi đâu, những người rời khỏi Omelas”.
 
 
HOÀNG MINH ĐỨC (hưu trí, Quảng Bình):
Hồi ức của một binh nhì - NGUYỄN THẾ TƯỜNG

hoang minh ducChẳng biết do bản thân cũng từng là một người lính trong Binh chủng Tăng - Thiết giáp hay vì lí do nào khác mà tôi mê mẩn truyện ngắn này đến lạ.
Đọc đi đọc lại nhiều lần vẫn cứ thấy hồi hộp thích thú với từng chi tiết. Cậu Bá Hùng đi trinh sát về phát hiện ra bên kia hàng rào có các “ami xinh tươi” mặc quân phục. “Lừa” đại đội phó để được đóng quân trên đồi bạch đàn đỗ sát hàng rào. Cố ý vù ga thật mạnh để gây chú ý của “phía bên kia”. Mất hơn mười ngày bắn tín hiệu nhưng vô vọng. May thay anh chàng Tuấn lại có cái đàn guitar và Mạnh Tường có cái giọng “ô-pê-rêt” cũng… tàm tạm.  Trăng trung tuần vằng vặc, đồi trung du lộng gió, lá bạch đàn xao xác rụng, họ ôm đàn ngồi trên tháp pháo thả theo làn gió nam mát rượi qua bên kia hàng rào bản tình ca Nga rất… “ác chiến”. Nhưng, mãi đến đêm thứ năm mà vẫn… “chẳng nước non gì”. Nhưng, lại nhưng, ơ-rê-ca, “Hát nữa đi các anh!”, tiếng “gọi tình” đã được vọng đáp. Và rồi một cảnh tượng cổ lai hi đã diễn ra. Cái đêm huyền thoại, “khi tiếng đàn nức nở lặng đi”, hai đội binh đều áp sát hàng rào kẽm gai từng đôi một xoắn xuýt tâm sự. Họ hôn nhau qua hàng rào đầy gai nhọn. Hấp lực âm dương khiến họ tâm nguyện “một lần thôi rồi chết cũng được”. Lính tăng quyết định đột nhập doanh trại đơn vị cơ yếu nữ bằng việc quay nòng pháo xe tăng qua hàng rào. “Tiến lên hỡi hiệp sĩ Tankistơ!”. “Đèn vụt tắt, cánh cửa sắt bật mở nhanh và mạnh”. “Nụ xuất hiện trong bóng tối với bộ mặt đen thui cùng khẩu súng nhỏ chĩa thẳng vào mặt. Phía đằng sau tiếng thét giật giọng, tiếng AK lên đạn, con chó béc giê gầm lên”. “Tôi thét: Quay nhanh lên Sâm”. “Pằng! Tôi lạng người, mắt hoa đom đóm”…
 Các chi tiết đắt giá dồn dập, kịch tính cao độ của mạch tự sự cùng cảnh truyện giàu tính xi-nê khiến người đọc như đang xem bộ phim cảm giác mạnh. Tình huống truyện độc đáo (cách thể hiện tình yêu có lẽ độc nhất vô nhị trên quả đất này), cách giải quyết vấn đề hợp lí, cái kết bất ngờ. Văn hoạt, chất giọng tếu táo hóm hỉnh đậm chất lính tăng, những tiết đoạn đan xen lúc thong thả nhẩn nha, lúc khẩn trương dồn dập, lúc thiết tha tình cảm…
Món ngon nhớ lâu. Truyện hay đọc mãi.
 
ĐOÀN MINH HẰNG (nội trợ, Lyon - Pháp):
Bọn đạo tặc - AKUTAGAWA RYNOSUKE

Đoàn Minh Hằng Không gian đậm đặc chết chóc. Âm thanh chát chúa gươm đao. Tâm trí hỗn loạn thiện ác. Bệnh dịch, cướp bóc, chém giết... Một bối cảnh truyện ghê rợn, ám ảnh, khốc liệt, mở ra nuốt chửng lấy bạn và cuốn trôi tuột vào trong đó. Điều đó chỉ có thể có ở truyện ngắn này.
Trong thời gian ngắn của thể loại, tác giả đã thành công trong việc “giăng lưới bủa vây” độc giả bằng những đoạn văn miêu tả đắt giá về cả không gian lẫn ngoại hình nhân vật. Hình ảnh đủ gợi để bạn thấy mình đang đi trong một bộ phim. Chân bạn đang bước qua những xác chết bốc mùi. Bên trên là âm thanh vo ve của ruồi. Xa xa tiếng chó đói trên xác người. Ánh nắng cũng khiến bạn khát cháy.
Cái ác bao trùm. Cướp bóc chém giết không ghê tay. Dục vọng. Hận thù. Âm mưu. Thủ đoạn. Con người càng ngày càng lấn sâu vào tội ác như một lẽ thường tình. Con người càng ngày càng lấn sâu vào dục vọng mà ngỡ đó là tình yêu. Người đọc tiếp tục bị cuốn vào mạch tự sự bằng những giọng văn khác nhau của từng nhân vật, hé mở những dằn vặt nội tâm, lấp lánh trong đó những điểm sáng của tình yêu và tình người. Nổi bật lên là những diễn biến phức tạp trong tâm lí của hai anh em ruột Taro và Jiro khi đứng ở ranh giới giữa thiện và ác, giữa tình yêu và tình ruột thịt, giữa hiện thực và ảo tưởng, giữa dục vọng và tình yêu, giữa hình thức và tâm hồn.
Thây người ngổn ngang. Tiếng khóc của một đứa trẻ mới ra đời. Một người đang trút hơi thở cuối cùng. Ngập ngụa trong không gian của những vũng lầy đen tối mà “mùi người chết xông lên mũi khiến Taro kinh hoàng. Cái chết trong trái tim hắn không có mùi”, tác giả bắt đầu từng bước đưa người đọc đến với những tia nắng ấm của niềm hi vọng ở cuối câu chuyện, về cái thiện, về tình người, tình anh em ruột thịt, và tình yêu.
Con người ta, khi theo đuổi điều gì mù quáng, sẽ dễ khiến cho cái ác trong tâm nảy mầm. Càng cố nắm chặt, càng lấn sâu. Chỉ khi nào người ta biết vì người khác, và giết đi những điều đã ảo tưởng, mới được giải thoát. Cuộc sống sẽ hồi sinh từ đây.
Bọn đạo tặc gây nhớ dù tôi đã đọc từ lâu, nhờ tiếng vọng của nó trong cánh rừng bạt ngàn những đại thụ. Khi tìm đọc lại tôi thấy không gian của truyện đủ độ sâu để bị mắc kẹt trong đó, hồi lâu.
 
PHẠM THẾ HƯNG (sinh viên, Hà Nội):
Chuyện ông Móng - NGUYỄN HUY THIỆP

Phạm Thế Hưng Truyện ngắn này là một lần Nguyễn Huy Thiệp phát hiện cái bình thường ở một việc có vẻ ghê tởm. Một phát hiện đập vỡ hai định kiến. Một định kiến liên quan đến phân, một định kiến liên quan đến niềm tin.
Đầu tiên là định kiến về phân. Người đàn ông được kể trong truyện là một “ông chủ chợ” phân, một người sống bằng nghề buôn phân, một nhà “phân học”, và thậm chí, có niềm đam mê với thứ chất phóng xả đó đến nỗi tình nguyện làm nghề mà “không vụ lợi”. Chính cái tên ông Móng cũng là lấy từ một vật dụng để cạo phân.
Người không quen đọc Nguyễn Huy Thiệp chắc chắn sẽ vô cùng khó chịu. Nhưng chính trong cái trạng thái bức bối đó, nhà văn mới xúc tác thành công quá trình làm phân hủy định kiến về phân. Bởi xét cho cùng, nghề phân cũng là một nghề, cũng đóng góp cho xã hội, thậm chí là đóng góp quan trọng. Anh chàng đệ tử của ông Móng còn “làm được nhà, lấy được vợ chỉ nhờ vào phân”, nhờ vào những đồng-tiền-sạch.
Định kiến thứ hai: về niềm tin. Nhiều người cứ nghĩ như… đúng rồi, rằng ông Móng đang chịu một lời nguyền, một sự-ép-buộc-bất-khả-kháng nào đó khiến ông (phải) làm nghề này. Và thế là người ta đồn thổi về lời thề của ông với cô gái người Chăm ông yêu từ thời đi bộ đội: “Nếu tôi không chung thủy với em thì suốt đời tôi đi hót cứt!”. Nguyễn Huy Thiệp chứng minh ngay sau đó, rằng ông Móng hành nghề này chẳng phải vì lời nguyền hay sự ép buộc nào cả. “Không tôn giáo, không chính trị, không vụ lợi, không sếch xy - ông Móng bảo tôi - nghề hót phân trên đời là nhất!”.
Với nghề phân, ông Móng đã tránh xa, chối từ tất cả những nhãn mác sứ mệnh, giá trị mà người ta vẫn thường dán gắn lên các nghề nghiệp.

NGUYỄN THỊ THANH THẢO (giảng viên, Quảng Nam):
Sáng trăng - GUY DE MAUPASSANT

Nguyễn Thị thanh Thảo Câu chuyện kể về đời sống hà khắc của linh mục Marinant cùng cô cháu gái yêu kiều trong một nhà thờ dòng tu nước Pháp. Ước nguyện lớn lao của ông là dẫn dắt cô gái ngây thơ trong sáng trở thành một ma-sơ hết lòng phụng sự Chúa. Ông cấm kị mọi thứ tình cảm cá nhân len lỏi vào trong bốn bức tường của nhà thờ. Nhưng sự hà khắc tuyệt đối ấy đã không thể ngăn cản được hạt mầm tốt tươi tự nhiên nảy lộc trong cảnh giới lạnh lẽo đó: tình yêu. Và Marinant, trong một đêm trăng sáng, đã giận đến run người, tay cầm gậy đi thẳng ra bờ sông nơi có đôi tình nhân đang hò hẹn.
Sáng trăng - nhất định làm tan chảy trái tim những ai từng và sẽ đọc nó, ít nhất là tôi.
Nó không còn là câu chữ nữa mà trở thành những thước phim rất chậm. Bước chân thình thịch giận dữ của người linh mục nện vào một khoảng thiên nhiên mướt mềm trong một đêm trăng sáng đã thành một “bước hẫng”. Và Chúa Trời, lần đầu tiên “bất lực”, không thể trả lời cho ông được câu hỏi tại sao khi tạo tác đôi uyên ương như những thiên thần giữa một không gian không thể nào đẹp đẽ hơn.
Công phu tuyệt đỉnh của bậc thầy truyện ngắn Pháp Guy de Maupassant khiến cho mỗi lần đọc lại tác phẩm này, dường như tâm trí tôi có được một kiểu hân hoan riêng trong tiếp nhận. Nó là câu trả lời đến ngay lập tức cho câu hỏi “Truyện ngắn yêu thích của tôi là…”.
 
ĐĂNG HOÀNG thực hiện

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 7 trong 2 đánh giá
Xếp hạng: 3.5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo