Trung tướng Lư Giang và hai lần gặp Bác Hồ

Thứ hai - 10/10/2016 03:27
.NHƯ QUỲNH

Khi thực hiện biên soạn cuốn Hồi ký của Trung tướng Lư Giang, nguyên cán bộ tiền khởi nghĩa, nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô chúng tôi đã vô cùng xúc động trước cuộc đời chiến đấu anh dũng đầy gian khổ hy sinh của ông. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong lời mở đầu cuốn sách đã viết:Đồng chí Trung tướng Lư Giang đã hoạt động cách mạng từ năm 1942, tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở quê nhà Bắc Giang năm 1945. Suốt cuộc kháng chiến 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí liên tục chiến đấu ở chiến trường Liên khu 5, đã qua các cương vị chỉ huy Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng các trung đoàn chủ lực của Quân khu 5, Lữ đoàn trưởng, Sư đoàn trưởng, Tư lệnh Phân khu, Tư lệnh mặt trận Quảng Đà và Phó Tư lệnh Quân khu 5. Hòa bình lập lại, đồng chí đã trải qua gần 10 năm là Tư lệnh, Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô, đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII.

Đồng chí là một người cộng sản kiên trung, một vị tướng có đức độ và tài năng, trưởng thành từ cơ sở, dạn dày trong chiến đấu, lập được nhiều chiến công, sống khiêm tốn, trung thực, gần gũi thương yêu cấp dưới, hết lòng phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó, nêu một tấm gương sáng về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

 
Trung tướng Lư GiangNhưng đặc biệt xúc động khi trong hồi ức của mình, Trung tướng Lư Giang kể về lần được gặp Bác Hồ khi ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 - Quân khu V cuối năm 1953 trong đợt chỉnh huấn chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ và lần gặp trước khi ông vào chiến trường miền Nam, đó cũng là lần cuối cùng được gặp Bác. Chiến tranh qua đi, biết bao đổi thay dâu bể nhưng vẹn nguyên trong trái tim vị tướng vẫn là những lời lẽ ân cần giản dị của Bác mà ông luôn ghi nhớ, mãi đi theo mỗi bước đường chiến đấu gian khổ. Trong hồi ức của mình, ông nhớ lại:
…Đầu năm 1953, giữa lúc mặt trận Khu V đang chuẩn bị chiến dịch lớn, tôi được lệnh Trung ương gấp rút chuẩn bị để ra Bắc.

Nhận mệnh lệnh mừng lo lẫn lộn. Ra Bắc khi chiến dịch sắp mở, việc chuẩn bị còn rất nhiều mặt thiếu, những người ở lại phải lo.

Ra Bắc lần này tôi có linh tính được gặp Bác Hồ, sẽ báo cáo với Bác những gì mà quân và dân Khu V gởi gắm cho tôi. Chắc Bác sẽ vui khi biết Khu V giờ đây trưởng thành, luôn vâng lời Bác dạy, luôn hướng về Người và Trung ương Đảng.

Ngày lên đường thật gấp rút, cùng đi với tôi có nhiều đồng chí, trong đó có cả đồng chí. Mọi việc phải tuyệt đối giữ bí mật, đoàn chúng tôi hành quân bộ vượt núi băng rừng không kể ngày đêm.

Sau 45 ngày hành quân hết sức vất vả, chúng tôi đã đến nơi. Việt Bắc đây rồi, đường vào khu an toàn hiện ra phía trước... Hình ảnh thân thương hiện ra trước mắt, nỗi nhớ quê hương, gia đình trong 7 năm xa cách bỗng trỗi dậy. Không một tin tức, không một cánh thư của Nhã Nam, Bố Hạ, Yên Thế, Bắc Giang… nơi chiến trường xưa, nơi tôi đầu tiên theo cách mạng.

Cuối tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp để thông qua đề án tác chiến do Tổng Quân uỷ đệ trình. Sau chiến dịch Nà Sản, bộ đội ta tiến bộ nhiều mặt, phương hướng chiến lược của ta là tìm chỗ yếu của địch mà đánh, buộc địch phải phân tán lực lượng. Ta chủ trương phản công địch trên nhiều chiến trường, nhiều hướng, tạo nên những chuyển biến quan trọng trong cuộc kháng chiến.

Lần đầu tiên, hai trăm cán bộ cao cấp khắp chiến trường hội tụ về Việt Bắc. Từ nơi đây, những chiến sĩ Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, cứu quốc quân, phân đội, chi đội đã trưởng thành và hôm nay trở về đây. Ai mất, ai còn, nhìn nhau không nói nhiều nhưng đều thấy chính mình đã trưởng thành và cùng mang theo điều lo lắng của người chỉ huy tạm rời tuyến lửa. Hy vọng lớn lao của mọi người lúc này là được gặp Bác Hồ, được gặp đồng chí Tổng Tư lệnh.

Lớp tập huấn này, nhiệm vụ của chúng tôi là biên soạn và tổng kết kinh nghiệm, học tập trao đổi với nhau qua những chặng đường chiến đấu ở các chiến trường và cách đánh khác nhau, phong phú nhiều mặt, giữ vững căn cứ, chống càn, xây dựng và củng cố hậu phương... để rút ra những bài học kinh nghiệm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tư lệnh.

Thấm thoắt đã hết một tháng, lớp huấn luyện kết thúc. Chúng tôi bình bầu được 7 đồng chí xuất sắc nhất, tôi được vinh dự đứng trong số đó. Buổi lễ tổng kết long trọng diễn ra, các đồng chí lãnh đạo lớp học đã có mặt. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Bác đến! Mọi người reo ầm lên. Bác bước vào hội trường vừa tươi cười, vừa giơ tay vẫy ra hiệu mọi người trật tự. Riêng tôi nhìn Bác không chớp mắt, tôi cố nhớ thật sâu hình dáng Người để khi trở về Khu V nói với anh em, với đồng chí, đồng bào về vị cha già kính yêu.

Bác giản dị và nhanh nhẹn, vẫn bộ quần áo như ngày đi khảo sát chiến dịch biên giới, chòm râu đã điểm bạc, đôi mắt sáng ngời trìu mến nhìn khắp lượt chúng tôi như người cha kính yêu đối với các con đi xa về.

Bác được mời lên hàng ghế Chủ tịch đoàn với các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái.

Mỗi cá nhân xuất sắc vinh dự được Bác gắn huy hiệu Lênin. Bác hỏi tôi: “Chú tên là gì?”. Tôi xúc động quá không nói nên lời (thường ngày trong công việc tôi là người nói năng lưu loát). Trời mùa thu mà sao lúc này mồ hôi tôi toát ra, lưỡi cứng lại, mặt đỏ lên. Với bao lời định nói, định thưa với Bác mà lúc này cứ lúng túng mãi. Mãi giây lâu, tôi cố nói với Bác: “Thưa Bác, cháu là Lư Giang - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108, Khu V”.

Thấy tôi nói giọng Bắc mà lại ở Khu V, Bác lại hỏi: “Chú quê ở đâu?”. Lẽ ra tôi phải thưa với Bác: Cháu quê ở Bắc Giang, chỉ huy bộ đội Nam tiến những ngày đầu cách mạng, nhưng tôi chỉ nói được với Bác một câu: “Cháu quê ở Bắc”. Bác cười đôn hậu. Tôi mạnh dạn hơn, trước cái nhìn trìu mến, thân thương như của một người cha.

Bác lại hỏi: “Đồng bào trong đó có khổ lắm không?”. “Thưa bác! Đồng bào vùng tự do không khổ lắm, đời sống mỗi ngày có dễ chịu hơn”. “Thế anh em chiến sĩ có đoàn kết không? Đồng bào các dân tộc có đoàn kết không? Bộ đội và đồng bào thế nào?”. “Thưa bác! Đoàn kết tốt ạ. Đồng bào Khu V gửi cháu lời thăm Bác”. Bác nói tiếp: “Bác nghe ban lãnh đạo lớp học báo cáo chú học tốt nên Bác tặng chiếc huy hiệu”.

Lớp học bế mạc, chúng tôi chia tay nhau về đơn vị. Tôi về làm đặc phái viên của Bộ Quốc phòng. Sau đó, tình hình chung phát triển nhanh ở các chiến trường, tôi chưa kịp về thăm gia đình thì nhận được mệnh lệnh trở lại công tác tại Khu V. Nhớ lời Bác dặn dò, quân và dân Khu V đã đập tan chiến dịch Át-Lăng của Nava, đập tan 22 tiểu đoàn cơ động tinh nhuệ của địch góp phần chia lửa với mặt trận Điện Biên Phủ.

Hội nghị Giơnevơ kết thúc, một nửa đất nước sạch bóng quân thù, tôi cùng anh em chiến sĩ tập kết ra Bắc, tôi về công tác tại Binh chủng Pháo binh. Tuy đã nhiều lần được gặp Bác, nhưng có một lần mãi in sâu vào lòng tôi và tôi cũng không ngờ rằng đó là lần cuối cùng được gặp Người.

Năm 1964, ở miền Nam, sau khi quân và dân ta lần lượt bẻ gãy các chiến dịch trong chiến tranh đặc biệt của Mỹ - nguỵ. Bộ Quốc phòng cử một đoàn cán bộ Quân đội cấp cao vào tăng cường, trước khi lên đường vào Nam, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng tổ chức một bữa cơm thân mật tiễn đưa.

Trong Bộ Chính trị, các đồng chí Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh đến tiễn đưa và dặn dò anh em. Trước bữa ăn năm phút thì Bác đến, bước vào nhà khách Quân đội  số 33 Phạm Ngũ Lão.

Bác hỏi luôn: “Sắp ăn chưa, thôi ta vừa ăn vừa nói chuyện”. Bác rất tiết kiệm thời gian. Dừng lại, Bác nói tiếp: “Các chú được Trung ương cử vào tăng cường cho đồng bào miền Nam. Từ 10 năm nay, đồng bào miền Nam rất vất vả và anh dũng đấu tranh, đã đánh thắng chiến tranh đặc biệt của Mỹ - ngụy. Bây giờ các chú được tăng cường cùng đồng bào miền Nam để đánh thắng chiến tranh cục bộ, để thực hiện Hiệp định Giơnevơ, thống nhất đất nước. Trước đây, ta đánh bại thực dân Pháp, bây giờ đánh Mỹ khác và khó hơn nên cần khiêm tốn học tập đồng bào miền Nam.”

Chúng tôi hiểu lời căn dặn này có ý nghĩa là từ thực tiễn sinh động ở chiến trường nhân dân miền Nam luôn sáng tạo, cần ra sức học tập và khiêm tốn vận dụng cho linh hoạt, chớ tự kiêu, tự mãn.

Trong khi ăn cơm, Bác hỏi tôi, đang ngồi bên cạnh và cũng là hỏi chung anh em. Bác hỏi: “Các chú đã chụp ảnh với các cô chưa?”. Im lặng. Không ai dám trả lời. Tôi mạnh dạn: “Dạ thưa Bác, cũng đã chụp chung rồi ạ!”. “Thế chú có mặc Quân phục không?”, “Dạ thưa Bác! Cháu mặc thường phục”. “Ừ đúng rồi, nếu mặc quân phục thì để ở nhà”. Bác lại hỏi tiếp: “Thế các chú có định viết nhật ký không?”. “Thưa Bác! Anh em có nghĩ tới hoặc định viết”. “Các chú không nên viết thì hơn. Thế các chú có định mang theo tài liệu gì không?”. Mọi người, kể cả tôi chưa kịp trả lời thì Bác lại nói luôn: “Không nên mang! Tất cả đều ghi nhớ ở trong lòng”.

Bác quay sang Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Bây giờ giao cho đồng chí Giáp, Tư lệnh kiểm tra. Tất cả không được mang theo tài liệu, không được chụp ảnh, không được viết nhật ký. Kiểm tra như vậy không phải là không tin các chú. Tin nhưng vẫn phải kiểm tra.” Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo: “Đã kiểm tra anh em trước đó rồi ạ!”.

Sau cùng, Bác rưng rưng nói: “Các chú vào miền Nam cùng đồng bào và Đảng bộ miền Nam, xây dựng và chiến đấu cho tốt để Bác sớm vào miền Nam thăm đồng bào, các chú phải tích cực giúp Bác gửi lời thăm đồng bào trong đó”.

Chúng tôi lặng đi trước những suy nghĩ giản dị của Người.

Tôi không thể ngờ được đó là lần cuối cùng gặp Bác.

Cuộc chiến đấu ở hai miền Bắc - Nam ngày một khốc liệt, mỗi khi gặp khó khăn gian khổ, chúng tôi luôn nhắc nhở lời Bác và cũng là nguyện vọng thiêng liêng của Bác, sức mạnh của chúng tôi được nhân lên gấp bội.

Tháng 9 năm 1969, chúng tôi bàng hoàng nghe tin Bác mất.

Trong lễ truy điệu Người tại chiến trường năm 1969 và cho đến bây giờ, trong lòng chúng tôi luôn trĩu nặng tâm tư vì chưa làm Bác thỏa lòng, được sớm vào thăm đồng bào miền Nam.

Đó cũng là điều tôi day dứt nhất.

N.Q


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo