Tâm tính người Việt đương đại qua tản văn Nguyễn Vĩnh Nguyên

Thứ hai - 03/09/2018 15:38
. NGUYỄN THỊ HÀ  

Ở Việt Nam, trước 1986 tản văn đã xuất hiện nhưng chưa phổ biến. Công chúng chỉ biết đến một số tản văn của các nhà văn như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc... Sau 1986 tản văn xuất hiện nhiều hơn và đến thời điểm hiện nay đã trở thành một trong những thể loại phổ biến của đời sống văn học. Tuy chưa được đề cao như truyện ngắn, tiểu thuyết nhưng tản văn đã thu hút khá đông đội ngũ sáng tác và công chúng yêu văn học, trong đó có Nguyễn Vĩnh Nguyên.

Nguyễn Vĩnh Nguyên bắt đầu hành trình sáng tác của mình bằng những thể nghiệm, tìm tòi ở thơ, truyện ngắn, truyện dài với tập truyện ngắn đầu tay Phù du của núi. Độc giả đã biết đến một Nguyễn Vĩnh Nguyên nhạy cảm và ma mị trong từng câu chữ với hai tập truyện Khu vườn lưu lạc Năm mười mười lăm hai mươi, hay một Nguyễn Vĩnh Nguyên gai góc, táo bạo trong Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông.

Nguyễn Vĩnh Nguyên tìm đến tản văn như là sự trải nghiệm. Với thể loại này, anh đã xuất bản các tác phẩm: Giỡn với số (Nxb Trẻ, 2006), Tivi, xe máy, nhạc chế, chày cối, karaoke và những thứ khác (Nxb Lao động xã hội, 2012), Những đồ vật trò chuyện cùng chúng ta (Nxb Trẻ, 2014), Với Đà Lạt ai cũng là lữ khách (Nxb Trẻ, 2014). Trong đó, tản văn anh viết về đồ vật sử dụng hàng ngày, tâm tính và những tiếp biến văn hóa trong đời sống người Việt đương đại đã gây được sự chú ý của độc giả. Điều này cũng giúp cho tác giả xác lập nên hướng đi mới trong cách viết tản văn.

Dịch giả Lâm Vũ Thao khi viết lời giới thiệu cho hai cuốn tản văn của Nguyễn Vĩnh Nguyên đã gọi đây là tản văn của một người đọc sách - một sự đọc rất đặc biệt, cái kiểu đọc có gạch chân, bôi vàng, ghi chú của một người đọc nhiều và kĩ lưỡng chứ không phải đọc qua loa, đại khái. Quả thực Nguyễn Vĩnh Nguyên là một nhà báo ham đọc sách. Anh luôn có những bài điểm sách sắc sảo. Trong các tập tản văn của anh, gần như bài nào cũng trích dẫn một cuốn sách nào đó. Chẳng hạn, anh dẫn cả Xa lộ từ điển trên mạng lẫn Freud để truy tận gốc thói quen ngậm tăm của người Việt. Để định nghĩa về bàn thờ, anh trích dẫn cả Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của Chevalier và Alain Gheerbrant.

Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Vĩnh Nguyên dành nhiều đất viết cho những vấn đề liên quan đến sách, sách cũ, báo giấy, lối đọc, lối viết... Đó là những bài viết đậm đặc suy tư, gửi gắm những nỗi niềm và mong mỏi của một nhà báo viết văn. Anh đề cao vai trò của việc đọc. Trong các bài Ghi chú ngắn về đọc và viết, Đọc sách thì được cái gì?... anh trăn trở về tình trạng xuất bản sách ồ ạt hiện nay, sự lâm nguy của việc đọc trong tình cảnh mà cái biết và việc làm theo mách bảo của cái biết, cái nghĩ và việc nói điều trung thực với cái nghĩ khiến người ta dùng dằng, dằn vặt, khó tương thích với hiện thực đời sống.

Trong một thế giới ngày càng bị xô lệch bởi internet và các phương tiện nghe nhìn, Nguyễn Vĩnh Nguyên tiếc thương cho sự mạt thời của báo giấy. Giữa nhịp sống hối hả hôm nay, cùng với sự lên ngôi của công nghệ thông tin, Đọc báo giấy là nỗi xót xa, tiếc nuối của tác giả trước sự chết dần của một hình thái báo chí từng giữ vai trò là phương tiện truyền thông quan trọng của con người - loại hình báo giấy. Thời đại truyền thông thay đổi thì những tờ báo giấy chẳng còn đất sống, chẳng còn nghĩa lí để tồn tại.

Nguyễn Vĩnh Nguyên vẽ ra vòng đời của những quyển sách có giá trị, gọi là kinh điển, được đi từ nhà in đến nhà sách, đến kho chứa hàng tồn, đến sạp bán hàng đại hạ giá, và cuối cùng: cân giấy vụn. Người ta muốn bán tống tháo trong các dịp hội sách. Tản văn của Nguyễn Vĩnh Nguyên gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh cho xã hội, cho giới trí thức trẻ về sự tụt dốc của văn hóa đọc hôm nay, đồng thời thiết tha tác động vào nhận thức của người đọc về một lối ứng xử mới, một thái độ sống mới, biết trân trọng những giá trị tốt đẹp.

Cuốn tản văn Tivi, xe máy, nhạc chế, chày cối, karaoke, tăm xỉa răng và những thứ khác có nhan đề khá dài khiến người đọc khi tiếp cận bìa sách đã cảm thấy tò mò, hấp dẫn. 25 bài viết thú vị đã cho thấy bản lĩnh, sự độc lập của nhà văn trong việc chọn lựa và tìm kiếm một góc nhìn mới để quan sát những vật dụng thường ngày hoặc chiêm nghiệm một hiện tượng xã hội. Những đồ vật trò chuyện cùng chúng ta là cuốn tản văn thứ hai của Nguyễn Vĩnh Nguyên, đánh dấu bước tiếp theo trong “dự án riêng” của anh. Với 31 bài viết, tác giả sinh năm 1979 này đã trình hiện những góc nhìn sinh động không ngờ về những đồ vật gắn bó với cuộc sống con người, thân thuộc đến nỗi tưởng chừng không còn nhiều điều để nói.

Với Nguyễn Vĩnh Nguyên, thế giới đồ vật không phải vô tri, vô giác mà là nơi đã được nhân hóa, in dấu cuộc sống con người. Bằng giọng điệu hài hước, nhẹ nhàng và thâm thúy, anh đối thoại với thế giới ấy thông qua thói quen, cách sử dụng hàng ngày của con người, từ đồ dùng cao cấp đến đồ vật tinh thần, đồ vật bình dân và cả các món ăn... Tất cả hiện lên vô cùng sinh động, mang màu sắc mới lạ, như những nhân chứng sống thể hiện hành vi, quan niệm của con người, là cơ sở để kiến giải về tâm tính người Việt đương đại.

Trong tập tản văn Tivi, xe máy, nhạc chế, chày cối, karaoke, tăm xỉa răng và những thứ khác, tâm tính người Việt hiện hữu qua vật dụng hàng ngày. Bằng việc mô tả tỉ mỉ, sinh động từng đồ vật, tác giả đi sâu vào lí giải nguồn gốc, thói quen từ đó đưa ra nhận định, đánh giá văn hóa người Việt đương đại. Ở bài Người Việt ngậm tăm, Nguyễn Vĩnh Nguyên cho rằng ngậm tăm là thói quen đầy ngoan cố, phổ biến của người Việt. Đó còn là mầm mống cổ xúy cho tinh thần “im miệng cho nó lành” như một sự thỏa hiệp, cam chịu và chấp nhận. Tác giả cho rằng người Việt thích dựa dẫm, sống thụ động: trong lớp học sinh viên không buồn trao đổi, phản biện để hiểu thấu đáo tri thức; ngoài xã hội người ta lảng tránh trách nhiệm chứng nhân cho lẽ phải để được yên thân; trong gia đình thiếu sự dân chủ cần thiết... “Ngậm tăm” theo kiểu “im lặng là vàng” trở thành thực trạng đáng báo động của xã hội đương đại, nó dung túng che đậy cho cái xấu, dần trở thành một tính cách văn hóa của cộng đồng. Với giọng điệu hài hước, mỉa mai, hình ảnh cái tivi hiện lên trong bài Were are the tivi không chỉ là vật dụng không thể thiếu của các gia đình Việt mà còn là thước đo vật chất, là trung tâm của những bất hòa, xung đột, là minh chứng cho tính nghiền âm thanh, thay thế cho sự tĩnh lặng, cô đơn trong tâm hồn. Hay chiếc xe máy không chỉ đơn thuần là phương tiện đi lại; với người Việt đương đại, có thể làm mọi thứ trên xe máy: tỏ tình, âu yếm, vuốt ve, yêu trên xe ngay trong lúc đang tham gia giao thông, thậm chí bày tỏ sự nóng giận, bế tắc, mất phương hướng qua màn đua lượn tụ tập hàng trăm người (Cuộc trò chuyện trên yên xe máy)… Có thể nói, thế giới đồ vật trong tản văn Nguyễn Vĩnh Nguyên không chỉ mang chức năng phục vụ đời sống mà còn mang chức năng văn hóa, biểu đạt văn hóa, ẩn chứa sự biến đổi văn hóa. Từ những đồ vật hết sức thân thuộc với cuộc sống con người, vẫn lộ ra những vỉa nghĩa bất ngờ và thú vị.

Các hiện tượng xã hội diễn ra trong đời sống của người dân Việt tưởng chừng đơn giản, bình dị nhưng dưới con mắt của Nguyễn Vĩnh Nguyên, chúng được phát hiện nguồn gốc và lí giải cụ thể, qua đó tác giả thể hiện cách cảm nhận, đánh giá về cuộc sống hôm nay, đồng thời giúp người đọc có cái nhìn sâu hơn về tâm tính, cách sống của người Việt hiện đại.

Với bài Sorry cá kèo, Nguyễn Vĩnh Nguyên cho thấy những cách hành xử dã man đã trở thành trò tiêu khiển trong thú vui ẩm thực của con người đương đại. Từ hình ảnh con cá kèo giãy giụa trong nồi lẩu đang sôi sục đến chuyện các đại gia dùng dao chém đứt chỏm đầu của con khỉ đực trong cũi rồi vắt chanh vào để nhắm với rượu tây, hay việc những quán lẩu dê trước khi xả thịt một con dê thì phải đánh cho con vật toát mồ hôi... cho thấy sự tàn nhẫn tột cùng của con người. Nguyễn Vĩnh Nguyên đau đớn thốt lên rằng: “Một khi lòng xót thương cho những sinh linh đã cạn thì con người sẽ quay sang hành hung đồng loại”.

Nguyễn Vĩnh Nguyên cũng lí giải vì sao người Việt thích hát karaoke. Karaoke như phép màu giúp con người yếu đuối, thiếu tự chủ, thiếu tinh thần cá nhân tìm thấy vị thế của mình. Nó đem lại niềm hưng phấn, cảm hứng sống cho con người. Đặc biệt, tác giả phát hiện ra việc hát karaoke giúp hóa giải những mâu thuẫn, rào cản giữa các cá nhân khác biệt trong tập thể. Tuy nhiên, các tệ nạn xảy ra trong phòng hát cũng không ít, như tiêm chích, hút hít, mại dâm... Nguyễn Vĩnh Nguyên liên tưởng đến một ngày nào đó, khi những phòng karaoke biến mất mà không gì thay thế được, biết đâu bệnh viện tâm thần và các bệnh viện chấn thương chỉnh hình sẽ trở nên quá tải (Karaoke, văn và cảnh).

Trong bài Báo động về sự lạc quan hão, nhà văn cho rằng người dân đang ngại cống hiến cho cộng đồng. Họ nghĩ, chính trị đã có nhà nước lo, còn đời sống khó khăn thì tự xoay xở, tùy cơ ứng biến. Họ chọn phương án an toàn, im lặng, vô cảm trước những tiêu cực hay điều phi nghĩa xảy ra trong cuộc sống. Người Việt hôm nay cam phận, an phận thủ thường, ngại đụng chạm, ngại phản ứng thậm chí phớt lờ trước những bất công, những bê bối nhũng nhiễu đang diễn ra trước mắt. Sự lạc quan hão là một liệu pháp tinh thần giúp người ta tự hài lòng với hiện tại. Theo Nguyễn Vĩnh Nguyên, sự lạc quan, thỏa hiệp, dĩ hòa vi quý có thể là điều kiện tốt để chính quyền xây dựng một đời sống an ninh nhưng đồng thời sẽ tự đánh mất động lực phát triển, là một tín hiệu đáng báo động.

Qua các tập tản văn, Nguyễn Vĩnh Nguyên bàn về những điều không thể không nói ở đô thị Việt Nam từ cái ăn, cái uống, chỗ ở và cả những cách sung sướng kiểu hành hạ người khác (chẳng hạn thú hát karaoke và chứng nói luôn mồm). Từ những chuyện dễ thấy đó anh nhìn ra những mặt trái, như cách nói vần vèo biền ngẫu từ chỗ làm cho ý tứ dễ thông đạt còn sinh ra văn hóa báo cáo du dương, nói hay hơn làm; hay cái chén nước mắm chấm chung giữa mâm cơm tưởng như biểu hiện cho sự hòa đồng của người Việt nhưng cũng lại phản ánh sự tùy tiện, chung chạ, thiếu ý thức.

Nguyễn Vĩnh Nguyên là người có con mắt tinh tường và cảm nhận tinh tế. Qua các hiện tượng xã hội, anh muốn bàn luận về văn hóa sinh hoạt của người Việt hôm nay, đồng thời thức tỉnh nhận thức của chúng ta, mong muốn mỗi người tự nhìn lại bản thân, nhìn lại hành vi ứng xử, tập tính cũng như thói quen cố hữu để từ đó sửa đổi, hoàn thiện mình, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, văn minh hơn. Với sự thể nghiệm ở tản văn, chúng ta đã gặp lại một Nguyễn Vĩnh Nguyên thật lạ và thật quen, giống như những sự vật hiện tượng mà hàng ngày chúng ta vẫn tiếp xúc - quen ở hình hài và lạ ở cái hàm nghĩa ẩn sâu về sự tồn tại.
 
N.T.H  

 


 
 Từ khóa: NGUYỄN THỊ HÀ
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo