Tác phẩm kí ở đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945 - 1954

Thứ năm - 29/03/2018 14:22
. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÚY

Trong bức tranh chung của văn học Nam Bộ giai đoạn kháng chiến chống Pháp 1945-1954, các tác phẩm kí ở vùng đô thị, nhờ vào đặc trưng thể loại của mình là tính xác thực, đã có những đóng góp riêng rất đáng ghi nhận. Đề tài của các tác phẩm này trải rộng từ đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, tranh đấu… Thành phần sáng tác không chỉ giới hạn ở miền Nam mà còn có sự góp mặt của các cây bút gốc Bắc vào Nam sinh sống và cả những tác giả lúc bấy giờ đang sống ở miền Bắc. Bài viết này sẽ khảo sát các tác phẩm kí ở đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945-1954 trên các bình diện nội dung phản ánh và hình thức biểu hiện, làm nổi bật đóng góp của thể loại này trong một giai đoạn văn học rất đặc biệt của đất nước.
 
Vấn đề thể loại

Thể loại là một vấn đề đáng lưu ý khi tìm hiểu về kí ở đô thị miền Nam giai đoạn 1945-1954, cũng như thể kí trong văn học Việt Nam các giai đoạn trước. Rất nhiều tác phẩm được tác giả định danh là một tiểu loại của kí lại mang đầy đủ đặc trưng của truyện ngắn và tiểu thuyết như hồi kí Chị Dung (1949) của Hợp Phố, Lao tù (1949) của Thiên Giang, Tuổi xanh (tập san Nhân loại, 1952) của Sơn Mẫu, phóng sự Đơ-dèm cúp-bắp (báo Mới, 1953) của Vũ Xuân Tự, Bên lề xã hội (Mới, 1953) của Thanh Chương… Ngay cả phóng sự Đồng quê (1942) nổi tiếng của Phi Vân giai đoạn trước đó, được xem là phóng sự tiêu biểu viết về người dân quê Nam Bộ, cũng đậm tính tiểu thuyết với một câu chuyện hoàn chỉnh có mở đầu, cao trào, thắt nút, mở nút, diễn ra trong một khoảng thời gian kéo dài đáng kể trong cuộc đời nhân vật, nhưng thời gian và địa điểm cụ thể của sự kiện - những yếu tố quan trọng bậc nhất của phóng sự - thì lại không được đề cập đến. Một trong những đặc trưng của thể kí là cái tôi tường thuật, nhằm khẳng định tính xác thực của sự kiện, đảm bảo tác giả là người đã chứng kiến hoặc trải nghiệm sự kiện được miêu tả trong tác phẩm. Thế nhưng cái tôi tường thuật này lại không hề xuất hiện trong phóng sự Bên lề xã hội của Thanh Chương, hay trong một số truyện trong hồi kí Chị Dung của Hợp Phố. Sự phức tạp về mặt thể loại này xưa nay vẫn được giải thích bằng sự non trẻ của thể kí nói riêng và của nền văn học mới Việt Nam nói chung trong nửa đầu thế kỉ XX. Bản thân thể kí đã mang trong nó sự phức hợp giao thoa giữa văn học và báo chí, in đậm dấu ấn “sự hợp nhất truyện và khảo cứu”(1). Đường biên giữa kí và tiểu thuyết, truyện ngắn càng đặc biệt mong manh khi thể tài này còn đang trong quá trình hình thành và phát triển.
 
Nội dung phản ánh
Nội dung phổ biến của kí đô thị Nam Bộ giai đoạn này là đời sống sinh hoạt ở đô thành Sài Gòn, với số lượng bài viết tuy dồi dào và góc cạnh khai thác khá phong phú nhưng lại không có nhiều tác phẩm thật sự nổi bật.

Trong bức tranh Sài Gòn nhiều màu sắc, thế giới của những người lao động nghèo được những ngòi bút phóng sự hướng đến nhiều hơn cả. Đặng Thị Thanh Phương có tập phóng sự Bức tranh thành thị (1950) tập hợp những mảng màu tăm tối trong đời sống cơ cực của lực lượng lao động yếu ớt nhất trong xã hội: phụ nữ và trẻ em. Tác giả thuật lại từng hoàn cảnh cụ thể. Có những người vợ, người mẹ loay hoay làm những nghề nghiệp vất vả với thu nhập còm cõi để nuôi con, khi người chồng - trụ cột gia đình - đã chết hoặc đi xa. Có những đứa trẻ sớm dạt vào đời phải lăn lộn đấu tranh để kiếm sống... Tác giả tỉ mỉ ghi chép lại thu nhập của từng nhân vật để người đọc thời bấy giờ có thể hình dung cụ thể sự khốn khó của họ. Tuy nhiên, trong những mảng màu đen tối nhất của bức tranh thành thị vẫn sáng lên những tia hi vọng mỏng manh và ấm nồng tình cảm. Chị Khanh nghĩ đến chồng nơi xa để tiếp thêm nghị lực vượt qua khốn khó; bà Bá tuy “làm mà sống cho qua ngày” vẫn mong mỏi sớm được gặp lại đứa con trai đi xa. Không dày dặn như tập phóng sự của Đặng Thị Thanh Phương, phóng sự Dân cu-li của Ngụy Văn Thông (Mới, 1953) đã chọn lọc những trường hợp tiêu biểu cho đời sống người lao động ở sở tư – những người bị trả đồng lương rẻ mạt giữa thời buổi giá cả sinh hoạt leo thang, bị chủ ngược đãi vì không biết tiếng nước ngoài, và luôn luôn trong tình cảnh có thể bị đuổi bất cứ lúc nào mà luật lao động lại không đứng về phía họ. Trong tình hình đó, phóng sự Người thợ Ba Son (Mới, 1953) của Việt Quang ghi lại một hiện thực khác sáng sủa hơn về tình hình đời sống của giới thợ thuyền ở hãng Ba Son. Nhân viên ở hãng làm tám giờ mỗi ngày như các hãng khác, nhưng được tổ chức phục vụ cơm trưa tại hãng với giá rất rẻ trong chế độ hợp tác xã, mỗi phân sở đều có nơi để công nhân nghỉ ngơi, tắm rửa. Bài phóng sự ghi chép tỉ mỉ hệ thống tổ chức và chế độ lương bổng ở Ba Son với hi vọng các hãng khác có thể học tập.

Một vấn đề nổi bật khác của Sài Gòn thời kì này cũng xuất hiện nóng hổi trong phóng sự là tài xỉu. Với phóng sự Tấn công tài xỉu (1949), Vũ Xuân Tự phơi bày trò cờ bạc này lên trang viết với tất cả những chi tiết sống động, cụ thể về sức cám dỗ của nó bằng những câu chuyện người thật việc thật. Ông mô tả chân dung của những “ông thánh tài xỉu” với những ngón nghề, chiến thuật trong sự nghiệp tấn công tài xỉu nhưng rồi vẫn lâm vào cảnh tán gia bại sản, bỏ xứ đi xa hay treo cổ tự tử; những kẻ cố vùng vẫy khỏi vòng tay mê hoặc của tài xỉu nhưng đến khi tưởng thoát ra lại tự dẫn xác vào. 

Tình hình kinh tế, xã hội ở đất Sài Gòn sau này cũng được Hà Việt Phương, một cây bút xứ Bắc, khắc họa lại trong bài phóng sự Sài Gòn xây dựng dài hai kì đăng trên báo Mới (1953). Tác giả cũng thuật lại quyền lợi kinh tế Sài Gòn nằm chủ yếu trong tay người nước ngoài, mà cụ thể ở đây là người Tàu, thông qua việc miêu tả những cửa hiệu với những màu sắc văn hóa xa lạ nhan nhản trên phố phường Sài Gòn trong khi người Việt phần lớn là những người làm công nghèo khổ trên xứ mình. Tác giả thốt lên chua chát: “Thì đã bảo mình là kẻ ngụ cư ở trong nhà mình mà lị”. Trong nhật kí Sài Gòn có gì lạ? (Mới, 1953), Việt Phương tường thuật lại những việc mắt thấy tai nghe trong đời sống chính trị ở Sài Gòn, những rối ren trong đời sống kinh tế, và cả những hoạt động của các tổ chức ra sức chống giặc đói, giặc dốt.

Bên cạnh những bức tranh có tính chất rộng lớn về thời sự xã hội ở Sài Gòn, các tác giả còn hướng đến những đề tài hẹp hơn với những phóng sự ngắn như Nằm của Thiết Can (Thế giới, 1950) viết về những bệnh nhân lao phổi đang phải điều trị trong bệnh viện, Đơ-dèm cúp-bắp của Vũ Xuân Tự (Mới, 1953) về những người bị bắt lính ở Sài Gòn, Phật Mẫu giáng trần hay khách trú làm tiềnNàng tiên Kiều của Nguyễn Duy Hinh (Mới, 1953) về tệ mê tín dị đoan và sự thừa cơ làm tiền của những người Tàu hám lợi, Ế vợ! Ế vợ! của Vũ Xuân Tự (Mới, 1953) về việc các chàng trai, cô gái Sài Gòn vì quá nhát, quá nghèo, quá kén, quá keo kiệt, hay nghe thiên hạ hù dọa mà không xây dựng nổi gia đình.

Bên cạnh Sài Gòn hào nhoáng và xô bồ, nông thôn Nam Bộ cũng là đề tài hấp dẫn của kí. Đồng quê Nam Bộ đã được miêu tả khá kĩ trong bộ tứ tác phẩm: phóng sự Đồng quê (1942), truyện dài Dân quê (1949), Tình quê (1949) và truyện ngắn Cô gái quê (1949) của Phi Vân, một tác giả trưởng thành ở ruộng đồng Nam Bộ. Với chùm tác phẩm này, Phi Vân được xem như một Ngô Tất Tố của Nam Bộ. Phóng sự Đồng quê đã được giải nhất trong cuộc thi văn chương của Hội khuyến học Cần Thơ năm 1943, và cũng là tác phẩm ghi lại sinh động phong tục, sinh hoạt và cả sự mê tín của người dân quê miền Hậu Giang. Đến năm 1954, độc giả được biết đến nông thôn Nam Bộ qua ngòi bút của một tác giả gốc Bắc: Nguyễn Hiến Lê, với quyển du kí - biên khảo Bảy ngày trong đồng Tháp Mười. Nếu những trang phóng sự của Phi Vân có cái tự tin, mộc mạc của người hết sức quen thuộc với những gì mình ghi chép, đồng thời chất chứa những cảm xúc gắn liền với thời ấu thơ của chính tác giả, thì công trình du kí - biên khảo của Nguyễn Hiến Lê lại chứa đựng niềm thích thú, say mê của người phương xa, đan xen những cái nhìn so sánh tinh tế của người có cơ hội trải nghiệm thiên nhiên, văn hóa của cả hai miền Nam Bắc.

Không chỉ gói gọn trong những đề tài về thành thị và nông thôn miền Nam, những tác phẩm kí xuất bản ở Sài Gòn giai đoạn này còn khai thác hiện thực ở những miền đất khác của đất nước, mà tiêu biểu hơn cả là Hà Nội và Huế. Đời sống xã hội trên đất Hà Thành thời kì này xuất hiện trên báo chí Sài Gòn dưới ngòi bút của các nhà văn ở cả hai miền Nam Bắc. Vũ Bằng gửi đăng bút kí dài kì Hà Nội trong cơn lốc trên báo Mới – một tờ báo miền Nam – khi ông vẫn còn đang sống giữa lòng Hà Nội, chứng kiến mọi chuyện bi hài những năm thành phố còn bị Pháp tạm chiếm, từ ăn mày, ăn ở, ăn mặc, ăn cắp, ăn chơi, đến chuyện lo thầy chạy thuốc, chuyện sinh hoạt văn nghệ. Trước đó, Phan Như Mỹ có bài kí sự Dưới mắt của một du khách miền Nam: Hà Nội 1952 cũng thuật lại Hà Nội ăn uống, sinh hoạt, lịch sử và văn hóa. Đây là tác phẩm “đặt hàng” của báo Đời mới với mục đích “muốn đời sống ở Hà Thành được một đồng bào Nam Việt chưa từng biết đất Bắc ra sao tả ra theo sự trông thấy của người Nam, với cây viết người Nam… mà cũng làm cho đồng bào ở Bắc nhận ra chỗ người Nam thấy lạ.” Độc giả Sài Gòn còn được biết thêm về đời sống của đồng bào Hà Nội sau cách mạng tháng Tám qua những trang phóng sự của một số tác giả miền Bắc khác gửi đăng báo trong Nam như Huyền Trang với Những kẻ lạc loài (Tia sáng, 1954) hay Phan Tăng Phú với Đời sống học sinh nghèo (Tia sáng, 1954). Đời sống ở Huế thời kì này được kể lại qua phóng sự Huế muôn màu của Tô Kiều Vân (Đời mới, 1952) và Sau ánh sáng đô thành: Huế 1953 (Mới, 1953). Cả hai tác phẩm đều miêu tả Huế ở những góc tối của cuộc sống, nơi có những người lao động nghèo, những số phận hẩm hiu, những con người tội nghiệp, và cả những nghề nghiệp bất đắc dĩ. Đề tài của kí đô thị miền Nam còn đi xa hơn nữa, vượt ra khỏi biên giới quốc gia để tìm đến những miền đất lạ qua những trang du kí như Có gì lạ? Bên kia Thái Bình Dương (Tia Sáng, 1952) của Ngọc Văn hay ghi chép Người Việt ở Paris (Việt báo, 1949) của Thúy Lãnh.

Một bộ phận đáng chú ý nữa là những tác phẩm hồi kí đi đày như Côn Lôn ký sự (Tân Việt Nam, 1945) của Thiết Hán, Lao tù (1949) của Thiên Giang hay Tôi bị đày đi Bà Rá (1949) của Việt Tha. Đây là bộ phận ít ỏi của kí đô thị viết về thế giới của những người chiến đấu. Cho dù đó chỉ là kí ức về những ngày tranh đấu trước cách mạng và đã bị kiểm duyệt cắt bỏ khá nhiều, những trang viết này đã góp phần thổi lửa vào lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu ở đô thị, nơi mà thoạt nhìn vào chỉ thấy hào nhoáng ánh đèn, rối ren tệ nạn hay lê thê những nỗi lo áo cơm mệt mỏi. Việt Tha ghi chép lại quãng thời gian ông bị quản thúc ở Sa Đéc vì những hoạt động tranh đấu ông đã làm trong quá khứ và đã “trả nợ” bằng nhiều năm lao tù. Hồi kí của ông giàu giá trị thông tin với những mẩu chuyện về hiện thực đời sống tù nhân, những cuộc đấu tranh, những chuyến vượt ngục tự phát hoặc có tổ chức, với những nhân vật có tên tuổi cụ thể, trong đó có những người khá có tiếng tăm như Phan Văn Hùm, Trần Văn Giàu, Cao Văn Chánh… Thiên Giang hồi tưởng những ngày ông bị giam cầm ở nhà tù Lao Bảo, nơi từng giam cầm, tra tấn những nhà yêu nước và chiến sĩ cách mạng như Nguyễn Bá Kiệm, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu… Thiên Giang khắc họa lại chân dung những tù nhân - chiến sĩ đẹp can trường bên trong thân xác tả tơi, hơi thở nặng nhọc, giữa không gian tối tăm, ô uế, bế tắc và đau đớn.

Ngoài ra, trên báo chí Sài Gòn giai đoạn này thường có rải rác các tùy bút, tản văn, bình luận giàu cảm xúc trước những sự kiện của thời đại như Ta đã làm gì? (Thế giới, 1950), của Vĩnh Sanh, Thôi cho hết cái năm nay điSài Gòn năm nay có mùa thu (Mới, 1953) của Vũ Xuân Tự, tùy bút An bình của Trần Cẩm và Đường miền xuôi của Ái Lữ (Nhân loại, 1953).
 
Vài nét về hình thức thể hiện
Kí đô thị Nam Bộ 1945-1954 tuy có biên độ phản ánh rộng và đa dạng về nhiều vấn đề, lưu giữ chi tiết và sinh động một phần lịch sử của đất nước trong những tháng năm sôi động và nhiều ý nghĩa, nhưng lại không có nhiều thành tựu mới mẻ về nghệ thuật khi đặt cạnh những cái bóng lớn của kí văn học giai đoạn trước như Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Thạch Lam... Với sự trợ lực của báo chí đô thị lúc này vẫn rất sôi động, phóng sự và kí sự là các thể kí được sử dụng nhiều hơn cả, và tính ngắn gọn, trực tiếp, đi thẳng vào vấn đề là đặc điểm khá tiêu biểu. Những phóng sự, kí sự đăng trên báo, có lẽ do hạn chế số chữ và số trang in, thường không thật dài. Nằm của Thiết Can, Dân cu-li của Ngụy Văn Thông, Huế muôn màu của Tô Kiều Ngân, Sau ánh sáng đô thành: Huế 1953 của Ngọc Diệu, Người thợ Ba Son của Việt Quang, Sài Gòn có gì lạ của Việt Phương… chỉ dài từ ba đến năm kì báo, mỗi kì từ một đến hai trang báo. Có những phóng sự ngắn chỉ đăng trong một kì báo như Hạng người sống thiếu: đời sống của những trẻ đánh giày của Đằng Nhâm, Bên lề xã hội của Thanh Chương, Phật Mẫu giáng trần hay mấy ông khách trú làm tiền?Nàng tiên Kiều của Nguyễn Duy Hinh. Trong vùng không gian giấy chữ hạn hẹp ấy, tác giả cố gắng dồn vào nhiều thông tin nhất có thể và chẳng mấy dụng công vào câu từ hoa mĩ, khai thác suy nghĩ của nhân vật hay phơi bày cảm xúc tác giả. Dưới mắt một người miền Nam: Hà nội 1952 giống như một mẩu tốc kí, tác giả cố dồn càng nhiều thông tin vào bài viết càng tốt: mục “Hà Nội sinh hoạt” được tái hiện trong những chi tiết về làng hoa Ngọc Hà với người lao động cần cù, lam lũ, những cửa hiệu ở phố Hàng Đào ế ẩm trong thời chiến, xích lô cũ kĩ xấu xí nhưng mô-tô lại khá thịnh hành, nhà cưới đắt đỏ, nhà tắm hơi phổ biến… tất cả chỉ trong nửa trang báo in. Trong lời giới thiệu phóng sự Sài Gòn có gì lạ? của Việt Phương, ban biên tập báo Mới đã thừa nhận rằng giá trị của phóng sự “không phải ở văn chương, giá trị của nó ở chỗ nó là một bằng chứng của sinh hoạt chính trị và văn hóa”. Không chuốt chữ tô lời nhưng những phóng sự này ít nhiều hấp dẫn ở chính những sự thật tươi rói căng chật trong từng câu chữ.

Bên cạnh đó cũng có một số tác phẩm đăng báo kéo dài khá nhiều kì và khai thác sâu sự việc cũng như thể hiện cá tính tác giả khá rõ như bút kí Hà Nội trong cơn lốc của Vũ Bằng đăng liên tiếp hai năm 1953-1954 trên báo Mới, phóng sự Những kẻ lạc loài của Huyền Trang đăng trong hai năm 1952-1953 trên Tia sáng.

Những tác phẩm kí xuất bản thành sách có vẻ dày dặn và được đầu tư công phu hơn đa số bài viết đăng trên các báo, tạp chí. Tác giả có nhiều thời gian biên tập tác phẩm của mình, do đó về mặt nghệ thuật thể hiện, tác phẩm cũng có nhiều điểm hấp dẫn hơn. Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê không chỉ ghi chép những chuyện thu lượm được trong chuyến đi công tác Đồng Tháp Mười mà còn đan cài những biên khảo rất công phu, tỉ mỉ về địa lí, văn hóa xứ này. Cái tài tình của tác giả là ông đã đưa những thông tin khoa học, số liệu lịch sử một cách rất tự nhiên vào những cuộc trò chuyện vui giữa ông và các nhân vật trong tác phẩm. Người đọc có thể tìm thấy trong những trang kí của Nguyễn Hiến Lê nét quyến rũ riêng, vừa trí tuệ, vừa tình cảm. Tác giả thổi hồn vào những thông tin lịch sử khô khan nhờ biết tạo không khí thích hợp cho câu chuyện, lôi kéo người đọc chia sẻ cảm xúc cùng ông. Ở một đối cực khác, Vũ Xuân Tự cực kì hài hước với các phóng sự như Túi bạc Sài Gòn, Tấn công tài xỉu, Đả đảo phở tái, Muộn chồng… đến những phóng sự ngắn vui, phóng sự điều tra nặng tính thông tin hay các tùy bút đăng trên các báo như Đơ-dèm cúp-bắp, Trong cuộc săn voi Sài Gòn B, Những cô hồn tòa án, Đi bắt ngoại tình, Ế vợ! Ế vợ!, Thôi cho hết cả năm nay đi, Sài Gòn năm nay có mùa thu… Hai hồi kí Tôi bị đày đi Bà Rá của Việt Tha và Lao tù của Thiên Giang cũng rất giàu chất văn học. Cùng là hồi ức về những ngày tù đày gian khổ, mỗi tác giả có một cách khai thác khác nhau. Việt Tha thể hiện phong cách nhà báo rất rõ khi những sự kiện ông tường thuật lại thường đi kèm với tên họ đầy đủ của nhân vật, địa điểm cụ thể và ngày tháng xảy ra sự kiện. Ông có cách đặt tít “giật gân” đậm chất báo chí nhằm thu hút sự chú ý của bạn đọc như Gặp Phan Văn Hùm ở khám mới, Trịnh Hưng Ngẩu làm lục lộ, Trần Văn Giàu trốn với mười một người “chánh hiệu”… Khác với hồi kí của Việt Tha, Lao tù của Thiên Giang không mang chút tính chất báo chí nào. Ông không đề cập đến thời gian cụ thể của những sự kiện diễn ra trong hồi kí, nhân vật cũng không được giới thiệu tên đầy đủ mà chỉ đơn giản là cố Thiều, ông Hai Cụt, bà Tư, anh Tiến, anh Long, anh Sơn, anh L., anh Đ., lão Xếp... Các tiêu đề của ông thiếu tính thông tin nhưng giàu xúc cảm và tính gợi mở văn chương như Dưới nắng hè, Trong chỗ quạnh hiu, Nguyện vọng cuối cùng… Thiên Giang không kể lại sự kiện theo trật tự thời gian với ưu tiên cung cấp thông tin về những gì đã xảy ra trong những năm tháng ông ở tù, mà chỉ chọn lọc những câu chuyện hướng về một đề tài chung: sự tàn bạo của nhà tù và tinh thần chiến đấu của người tù Lao Bảo. Những câu chuyện của ông không chỉ có sức lay động ở chính bản thân sự thật khốc liệt, mà còn ở cách ông xây dựng nhân vật, sắp xếp các chi tiết để tạo nên tình huống bất ngờ. Những người tù trong hồi kí của Thiên Giang đều được vẽ nên bằng những nét bút rất đẹp. Ở họ lúc nào cũng toát ra lòng tự tôn và tinh thần tranh đấu mạnh mẽ trong mọi hoàn cảnh. Tiến, Sơn là những nhân vật “sừng sỏ” trong việc tổ chức anh em tù nhân tuyệt thực để đòi những quyền lợi tối thiểu. Họ không nao núng cả khi bị tra tấn dã man mấy ngày liền, hay bị chiêu dụ bằng vật chất và quyền lực trong tù. Tiến cố giữ cho lòng mình không nao núng khi cai ngục lấy tình thương của người mẹ già tội nghiệp để làm mềm lòng chàng. Còn Sơn khi bị bắt, được cha mình là quan Huyện tìm cách cứu thoát, đã thẳng thừng trả lời với cha: “Thầy có đưa con ra khỏi chỗ này, thì một ngày khác con lại trở vô. Con không thể mang cái sỉ nhục mà sống đời được. Con làm sao yên hưởng lạc thú gia đình khi mà bạn bè của con còn ở đây.” Thiên Giang dành nhiều tình cảm cho các nhân vật trong hồi ký của mình đến mức họ hiện ra phảng phất nét đẹp của các nhân vật trong tiểu thuyết. Ông viết những dòng miêu tả tâm trạng ngồi tù của Tiến không khác gì tâm trạng những nhân vật trong tiểu thuyết: “Từ ngày ra đi đến nay, có lẽ chàng không có một dịp nào để nghĩ đến việc ở nhà. Mà nghĩ đến làm gì, người chiến sĩ “lên yên” đã nguyện thí thân cho gió bụi. Chàng không ngờ trong đời chàng lại có lúc nằm đếm bước thời gian để tưởng nhớ đến tất cả những chuyện mà chàng coi như đã vất qua bên lề đời…”

Nhìn chung, kí đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1954 tuy không có những thành tựu lớn về mặt nghệ thuật nhưng đã hoàn thành tốt vai trò của mình: ghi chép lại một giai đoạn lịch sử của thành phố nói riêng và đất nước nói chung một cách trung thành nhất. Đề tài của kí trải rộng từ đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, tranh đấu… hoàn thành sứ mệnh người thư kí của thời đại trong một giai đoạn lịch sử sôi động và nhiều ý nghĩa.

N.T.P.T
______
 
1. M.Gorki, dẫn theo Hoàng Ngọc Hiến, (1992), Năm bài giảng về thể loại, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, tr.6.

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo