Soyinka: Nigeria luôn ở trong tôi

Thứ bảy - 07/07/2018 13:42
. HÀN HOA

1. Soyinka sinh ở Abeokuta trong vùng tây nam Nigeria, là con thứ hai trong gia đình có sáu anh chị em. Ông lớn lên trong khu cư xá của một phái bộ Anh giáo, nơi Samuel - cha ông - làm hiệu trưởng một trường học. Ông cho rằng cái tính cách tuyệt đối tự tin của ông - mà có những người coi là hung hăng - là do ảnh hưởng từ tuổi thơ, từ quá trình ông được quan tâm chăm nom một cách “tuyệt diệu”, mà ông đã mô tả trong Aké và trong bộ phim làm theo cuốn tiểu sử tự thuật đó, phim Isara: Một hải trình quanh tiểu luận vào năm 1989 (Isara: A Voyage Around Essay). Soyinka tin rằng “tâm linh” trong ông là món quà tâm hồn từ mẹ ông, bà Grace, “dẫu con đường của tôi đi theo một hướng khác”, ông bảo. Nổi loạn chống lại tính chất Ki-tô giáo của cha mẹ, Soyinka tìm tòi về Yoruba orisa - tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hay tự nhiên của dân Yoruba - mà ông nội của ông xưa còn theo. Yoruba orisa sau này trở nên một trụ cột của nghệ thuật của Soyinka.

Sau thời học hành ở Ibadan, Soyinka vào học Đại học Leed ở Anh quốc năm 1954. Ông tìm thấy ở đây hai người hướng đạo, một là học giả về Shakespeare, G.Wilson Knight, hai là nhà phê bình marxist Arnold Kettle. Soyinka cho rằng mình là một người theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa.  Ông châm biếm mạnh mẽ thứ tư tưởng phân biệt chủng tộc thịnh hành ở Anh trong những năm 1950. Bài thơ Cuộc trò chuyện trên điện thoại của ông miêu tả một mụ chủ nhà mắng một khách hỏi thuê rằng sao anh ta lại đen đến thế (trên xe bus người ta thích đứng hơn là ngồi vào chỗ còn trống bên cạnh người da màu). Song, tình yêu đầu tiên của Soyinka là kịch sân khấu, nơi ông đã uống trọn từ nguồn Yoruba với loại hình “sân khấu toàn diện” của những gánh kịch rong đủ cả những màn hề, ca kịch, với âm nhạc và vũ điệu.

Làm một chân trình duyệt bản thảo (script reader) ở nhà hát Cung Hoàng gia London trong các năm 1957-1959, vở kịch đầu tay của Soyinka viết về cái “ngón chân thối” châu Phi. Ông đã vứt bỏ cái nỗ lực đầu tiên đó: “Nó không đạt. Người hướng dẫn đã bảo tôi: “Này Soyinka, sao cậu viết những đoạn cầu kì diêm dúa thế?”. Thì ra, tôi đang áp những đòn tra khảo tàn nhẫn với người Boer” (người Boer là tên gọi dân da trắng chủ trang trại khu vực Nam Phi, hậu duệ của dân thực dân Hà Lan, Đức và Pháp, sử dụng nô lệ da đen bản địa). 

 
wole soyinka stargist1506628414806 aspR 1 778 w640 h360 e
Nhà văn Wole Soyinka

Sáng tác tiếp đó của Soyinka, vở Sáng chế (The Invention) được diễn trên sân khấu của Cung Hoàng gia năm 1959. Về vở kịch này, ông nói: “Tôi đưa vào vở đó và vào hoạt động chính trị nỗi phẫn khích của tôi về tình trạng mất phẩm giá mà tôi kinh qua ở Anh quốc. Chúng tôi mơ tham dự vào một quân đội giải phóng ở Nam Phi”. Ông viết tiếp nhiều vở kịch trong cái khung cảnh văn hóa đã nuôi dưỡng những kịch tác gia xuất sắc như Arnold Wesker, John Osborne và Harold Pinter. Tuy nhiên càng viết, ông càng nhận ra tâm hồn của mình thuộc về nơi khác:  “... nhưng tôi nhận ra những vấn đề ám ảnh mình là những vấn đề khác. Tôi muốn khai phá những nguồn mạch thần thoại của xứ sở tôi. Tôi không thể trì hoãn trở về Nigeria”.

Sau một thời gian vất vưởng ở Paris làm một tay chơi guitar và ca sĩ phòng trà, Soyinka trở về Nigeria năm 1960, theo một học bổng cho kịch nghệ của quỹ Rockefeller ở Đại học Ibadan. Ông lập nhóm riêng, gánh ca kịch, về sau thành công ti nhà hát Orisun. Ông đã trở về, như bao người khác thuộc thế hệ ông, “với những ý lớn lao về kiểu quốc gia dân tộc tôi cần phải góp sức dựng xây”. Nhưng rồi ở quê hương mình, ông đã “ngửi thấy mùi nòi phản động” ở cái lứa lãnh đạo đầu tiên của châu Phi.  Ông nói: “Tôi hiểu chúng tôi đã gặp chuyện nghiêm trọng: họ hãnh tiến, phô trương, hoang đàng; họ không nhịn nổi việc vội xỏ chân vào đôi giày của những ông chủ thực dân vừa cuốn gói. Chúng tôi nhận ra cuộc đấu tranh đã phải bắt đầu ngay trên ngưỡng cửa nhà mình - với địch thủ ở bên trong”.
Nhận viết một vở cho lễ kỉ niệm ngày độc lập của Nigeria năm 1960, Soyinka đánh dấu cuộc yểu mệnh chính trị của quốc gia này bằng tác phẩm Một vũ điệu của rừng (A Dance of the Forests). Vở kịch viết về một linh hồn hài nhi đi chuyến “khứ hồi” ngắn trên trần thế nhưng rốt cục chẳng được sinh ra. Vở kịch khiến tầng lớp cai trị của Nigeria bất bình vì ý nghĩa sâu xa lật nhào quan niệm về một châu Phi thuần, vô nhiễm, tiền - thực dân ẩn trong đó. Vở kịch, theo ông “đó là để cảnh báo chống lại sự thay thế ách ngoại bang bằng ách quốc nội”. Trong khoảng giữa những năm 60 khi đi giảng ở các trường đại học tại Ife, Lagos và Ibadan, Soyinka viết những vở hài đại chúng, như Vụ xử anh em nhà Jero (The Trials of Brother Jero) và những vở bi kịch cáo buộc chính trường như Con đường và vụ mùa của Kongi (The Road and Kongi’s Harvest).

Chế giễu “phẩm tính Đen”, cái phong trào dẫn dắt bởi nhà thơ - tổng thống Senegal, ông Leopold Sedar Senghor nhằm quảng bá một căn cước Phi châu cắt đứt với chủ nghĩa duy lí Âu châu, Soyinka nói một câu nổi tiếng, rằng “một con hổ thì không rêu rao phẩm tính cọp của nó”. Năm 1965, từ một vụ phản đối tập đoàn quân phiệt, Soyinka bị kết án cướp có vũ trang “về mặt kĩ thuật” trong một phiên tòa đầy tai tiếng. Ông trải qua 27 tháng tù giam, thứ mà ông coi là “một nỗ lực có tính toán nhằm hủy hoại tâm hồn tôi”. Ông đã từng dẫn dắt những phái bộ hòa bình tới vùng li khai Biafra mà chưa bao giờ bị buộc tội hay phải ra tòa. Thơ ông viết trong tù cấm cố, được tuồn ra ngoài trên giấy vệ sinh và được xuất bản ở London.

Soyinka quay về từ cuộc “lưu đày tự nguyện” khi Yakubu Gowon, viên tướng cầm quyền, kẻ tống giam ông, bị đảo chính lật đổ. Ông trở thành giáo sư môn văn học so sánh ở Đại học Ife từ năm 1975 đến khi nghỉ hưu vào giữa những năm 1980. Ông cũng là người đồng sáng lập nhóm Mặt trận Dân chủ Thống nhất Nigeria. Tập tiểu luận Vết thương há miệng của một lục địa (The Open Sore of a Continent, năm 1997) là một phản ứng cá nhân của ông trước tình trạng rối ren ở Nigeria. Các tập Gánh nặng hồi ức (The Burden of Memory), Nàng thơ của sự tha thứ (Muse of Forgiveness, năm 1999) tập hợp những bài giảng của ông ở trường Harvard tập trung vào công lí và hòa hợp. Ông nói: “Có nhiều thế lực xâu xé tan nát Nigeria đến nỗi tôi tự hỏi mình liệu đấy có còn là một quốc gia”. Khi Soyinka chấm dứt thời lưu đày của mình vào năm 1998, ông bày tỏ “không hề có cảm giác đã bị xa cách; tôi mang theo đất nước trong đầu tôi”. Nhưng khi về thăm lại nhà xưa ở Abeokuta, ông thấy binh lính đã san phẳng mọi thứ.  Dẫu vậy, ông vẫn thấy “tuyệt vời khi bước trên đám cỏ mà tôi đã tính làm nấm mộ cho mình”.

2. Bên cạnh những phiền muộn, nguy hiểm do chính trị mang lại, Soyinka cũng phải đối mặt với những “mệt mỏi” trong đời sống thường nhật bởi sự nổi tiếng của mình sau giải thưởng Nobel văn học năm 1986. Sự rắc rối lớn đến mức khi đi ra ngoài ông thường đội một chiếc mũ len nhằm tránh bị để ý về mái tóc bờm sư tử dựng đứng trắng xóa của mình. Soyinka từng than thở: “Là người da đen đầu tiên được giải Nobel, và người châu Phi đầu tiên được giải này, dân Phi xem tôi như một tài sản cá nhân. Tôi đã mất nốt những mảnh còn lại của sự vô danh của tôi, đến mức ở London, Paris hay Frankfurt tôi chẳng thể đi quá dăm mét mà không bị dừng lại. Chuyện đó, bây giờ vẫn thế, rất mệt mỏi”.

Trong các vở kịch của mình, Soyinka luôn bị ám ảnh bởi tình hình chính trị của quê hương mình. Vở Sắc phong hiển thánh vùng con trai (The Beatification of Area Boy), lấy bối cảnh đương thời thủ đô Lagos, công diễn lần đầu ở rạp West Yorkshire năm 1995. Helon Habila, nhà văn người Nigeria đoạt giải Caine về văn học Phi châu, thấy vở kịch “quá nghiệt ngã và thông điệp của nó quá chát chúa”. Trong mắt đạo diễn Jude Kelly thì “bi kịch tình thế của Wole Soyinka là đó, bởi Nigeria đã bị xâu xé tan hoang, ông không còn có thể dựng nên một nhà hát vững chắc đủ đầy. Khá là lí tưởng, ông đã có được một nhóm thường xuyên những kịch sĩ ưu tú, những người hiểu cái văn hóa mà ông biểu hiện trong tác phẩm và có thể chuyển tải văn hóa ấy lên sàn diễn cả về tính đích thực và tính phổ quát của nó”. Trong vở Những nữ tu sĩ Baccut của Euripides (The Bacchae of Euripedes) dàn dựng năm 1973 và công diễn ở Nhà hát Quốc gia Anh quốc, ông đưa Ogun, vị thần sắt của thần thoại Yoruba, kiểu thần Promethea Hi Lạp, làm một nguồn khởi hứng của sáng tạo. “Như những nhà bi kịch Hi Lạp Sophocles và Euripedes, Soyinka biến hóa một chất thơ thế tục và mĩ cảm của huyền thoại tín ngưỡng, trộn lẫn những yếu tố Yoruba với Hi Lạp thành một ý niệm bi kịch đặc sắc Phi châu” - nhà phê bình người Malawi Mpalive-Hangson Msika nhận định như vậy về vở kịch. Tính “lai” của nghệ thuật của Soyinka được khẳng định qua những nhà phê bình hậu thực dân như Homi Bhabha. Soyinka đã hấp dẫn cả O’Neill và Synge, Beckett và Brecht. Việc ông từ chối “cắt đứt khỏi bất cứ nguồn nào của tri thức” đã gây phê phán dữ dội từ Chinweizu và các đồng nghiệp phê bình người Nigeria của ông này trong cuốn Văn chương Phi châu hướng tới giải trừ thuộc địa tính (Toward the Decolonization of African Literature, năm 1980). Bọn họ công kích Soyinka là “kẻ Âu hóa” vì tỏ “lòng tôn kính học đòi” với những quy điển văn hóa Tây phương. Bọn họ nói vụ Soyinka chống phong trào “phẩm tính Đen” đã chặn đứng việc lan tỏa của thức nhận đen ở các thuộc địa cũ của Anh quốc.

Trong các tiểu luận ở tập Đối thoại và cưỡng bức nghệ thuật (Art Dialogue and Outrage, năm 1988) Soyinka gọi những người phê phán ông là “chủ nghĩa Tarzan mới” vì cái “nhãn quan thanh giáo về một châu Phi bó hẹp vào những chiếc váy cộc bằng lá dừa” của bọn họ. Ông nói: “Bọn họ nghĩ cái gì cũng là một ảnh hưởng nữa từ châu Âu - mà chẳng bao giờ buồn xem chính mình đi những đôi giày lười Italia và những cuộc nội chiến của mình dùng đến những vũ khí tối tân nhất. Tôi không thể nhẫn nhịn với những đám giả hình như thế”.
Thành danh về kịch (các giám khảo giải Nobel văn học năm 1986 đã nhận định Soyinka là “một trong những kịch tác gia với chất thơ tuyệt nhất từng xuất hiện trong văn chương tiếng Anh”), tuy nhiên Soyinka cũng đạt được nhiều thành công ở các thể loại văn học khác. Ông từng xuất bản ba tiểu thuyết. Cuốn The Interpreters, năm 1965 (tạm dịch: Những người thông ngôn) kể một câu chuyện phức tạp về sáu trí thức người Nigeria thảo luận và diễn giải những kinh nghiệm châu Phi của họ. Tác phẩm này được giới nghiên cứu, phê bình so sánh với những sáng tác của James Joyce và William Faulkner. Cuốn Season of Anomy, năm 1973 (tạm dịch: Mùa vô pháp) là một câu chuyện dựa trên những suy nghĩ của ông trong cảnh bị giam cầm. Trong truyện, ông cho huyền thoại Orpheus và Euridice (đôi vợ chồng trong thần thoại Hi Lạp, một biểu tượng cho sức mạnh của âm nhạc và nghệ thuật nói chung) đối mặt với thần thoại của dân Yoruba (một sắc tộc ở vùng tây nam Nigeria, do nạn buôn nô lệ mà tản cư khắp nơi ở châu Mĩ, mang theo tôn giáo đặc sắc của họ góp phần quan trọng trong văn hóa “Thế giới Mới” cho đến ngày nay, mà thần thoại Yoruba là một yếu tố nổi bật). Cuốn Con người đã chết (1972) được ông viết ở Pháp, sau khi được trả tự do. Gordimer Nadine (nữ nhà văn Nam Phi, giải Nobel 1991) mô tả là “tác phẩm hoàn hảo nhất của văn chương về tù đày từng được viết ở Phi châu”. Trong khi nhiều người coi nghệ thuật của Soyinka sau cuộc tù đày là tăm tối, thì với nhà thơ - kịch tác gia người Anh Gabriel Gbadamosi, tiếng nói của Soyinka đã tránh khỏi trở nên “tan hoang ảm đạm hay mất ảo tưởng” bởi ông đã đào sâu vào “kích thước siêu hình Yoruba như thể chính nó đối mặt với trải nghiệm “bi thảm”.

Những tác phẩm thuần tiểu sử tự thuật của Soyinka có The Man Died: Prison Notes, xuất bản năm 1972 (tạm dịch: Con người đã chết: những ghi chép trong tù) và Aké, xuất bản năm 1981, hồi tưởng những năm thơ ấu, nổi bật những kỉ niệm ấm áp về tình yêu thương, chăm nom của cha mẹ đối với Soyinka. Các tập tiểu luận văn học đáng chú ý của ông gồm có Huyền thoại, Văn chương với thế giới Phi châu (1975). Thơ của Soyinka, cho thấy mối gắn nối rất gần gũi với các vở kịch của ông. Ông đã xuất bản các tập Idanre và những bài thơ khác (1967), Thơ trong tù (1969), Một tàu con thoi trong hầm Thánh tích (1972), thơ trường thiên Ogun Abibiman (1976), Trái đất của Mandela và những bài thơ khác (1988).

H.H

 


 
 Từ khóa: Hàn Hoa
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo