Những lối vào truyện ngắn

Thứ năm - 26/07/2018 13:55
(Tiếp theo kì trước)

 . DUY VĂN

PGS.TS. Văn Giá: Điểm nhìn trần thuật là vấn đề lâu nay rất được chú ý. Anh, chị thường chọn nhân vật người kể chuyện ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba, hoặc có sự đan xen giữa hai ngôi? Lí do của sự lựa chọn này?
Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Tôi không cố định một ngôi kể nào. Truyện này ngôi thứ nhất, truyện kia ngôi thứ ba, truyện kia nữa kể phối hợp, đan xen giữa hai ngôi. Những điều này là do sự lựa chọn. Với truyện này để ngôi “tôi” kể thì độc giả tin cậy hơn, có cảm giác như nhân vật đang kể với mình. Với truyện kia muốn có giọng kể khách quan, ít nghĩ ngợi, không bình luận thì có thể kể bằng ngôi thứ ba. Các truyện ngắn của tôi như Mây bay cuối đường, Mười ba bến nước, Đêm thánh vô cùng, Đi trên đồng năn... được kể bằng ngôi thứ nhất.
Nhà văn Đỗ Bích Thúy: Cũng tùy vào câu chuyện mà tôi muốn xây dựng. Thường thì người viết đứng ở ngôi thứ nhất viết “sướng” hơn. Vì mình nghĩ gì, tức là nhân vật nghĩ cái đó, thuận lợi hơn người khác nói về mình rất nhiều. Nhưng cũng có cái dở là nếu không cẩn thận, nếu không tinh, thì cái tôi của tác giả sẽ nhảy xổ vào đời sống của nhân vật. Điều đó dễ dẫn đến những đoạn bị “phô”, bị lệch, bị phi lí… Còn khi viết ở ngôi thứ ba thì khó hơn, nhưng lại tỉnh táo hơn. Thường, những gì thuộc nhiều về tâm trạng thì tôi dùng ngôi thứ nhất, những gì thuộc về lí trí thì tôi dùng ngôi thứ ba. Nhưng lâu dài thì tôi thấy, dùng ngôi thứ ba khó hơn, nhưng tốt hơn cho người viết.
Nhà văn Đỗ Tiến Thụy: Ngôi kể thứ nhất sẽ đắc dụng nếu cái tôi tác giả trùng cái tôi nhân vật, câu chuyện sẽ “đáng tin” hơn, nhưng trường tri giác hữu hạn, việc miêu tả nội tâm các nhân vật ngoài “tôi” gặp rào cản lớn.
Kể ở ngôi thứ ba có lợi thế là tác giả có “giấy phép” để “nhảy” vào bất cứ đâu, suy nghĩ, phát ngôn thay cho mọi thành phần, nhưng cũng dễ “lạm quyền”, sa vào võ đoán ngô nghê nếu người viết không thuộc tâm lí nhân vật.
Đan xen giữa hai ngôi kể thì điểm nhìn trần thuật luôn thay đổi, tránh nhàm, nhưng cũng dễ rối loạn nếu tác giả không vững tay nghề. Chọn ngôi kể tối ưu cho mỗi truyện với tôi luôn là việc khó. Khi làm việc này tôi thường ướm thử các ngôi rồi mới quyết định.
Nhà văn Phạm Duy Nghĩa: Khoảng hai phần ba các truyện ngắn trước kia của tôi dùng ngôi thứ nhất (nhà văn Dạ Ngân ngày còn phụ trách văn xuôi ở báo Văn nghệ từng kêu rằng những truyện này của tôi hơi bị nhiều). Tôi cho rằng ngày mới viết, ai cũng muốn được thể hiện cái tôi của mình ra giấy nên sẽ thuận hơn nếu dùng ngôi thứ nhất. Sau này cái tôi thích “biểu diễn” ấy bé lại, mình từng trải hơn và có thể nhìn đời qua con mắt của người khác, nên ngòi bút tự tìm đến ngôi thứ ba. Trong các truyện của tôi về sau, nhân vật xưng “tôi” vẫn khá nhiều nhưng có khi không phải nhân vật chính mà chỉ đóng vai trò là người dẫn chuyện. Cũng có khi cái tôi nhân vật không trùng với cái tôi tác giả. Ngôi thứ nhất trong truyện Sài thục của tôi là một nhân vật nữ. Đứa con gái ấy đẹp nhưng vô cảm đến mức tàn nhẫn. Nó nhất định không phải là tôi.

PGS.TS. Văn Giá: Là thể tự sự cỡ nhỏ nên ở truyện ngắn người viết có cơ hội dụng công về ngôn từ và đầu tư về chi tiết. Các anh chị đầu tư cho chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn như thế nào?
Nhà văn Đỗ Bích Thúy: Như tôi đã nói, với tôi, chi tiết trong truyện ngắn cực kì quan trọng. Và nhiều khi, việc bắt đầu một truyện ngắn chỉ nhờ vào một chi tiết. Cho nên tôi luôn chăm chút nó, để buộc người đọc phải nhớ đến nó, như nhớ đến cảm giác khé cổ là cái cuối cùng còn lại sau khi nuốt một thìa mật ong.
Nhà văn Phạm Duy Nghĩa: Paustovski nói: “Truyện ngắn mà hiếm chi tiết chỉ như cái que khô khốc dùng để xâu cá hồi sấy”. Tôi rất coi trọng mỗi chi tiết quý mình nhặt được trong cuộc sống hoặc do mình nghĩ ra. Chỉ những chi tiết hay mới có thể đóng đinh được vào tâm trí người đọc, ám ảnh người đọc, góp phần quyết định cho tác phẩm sống được, còn mọi chi tiết làng nhàng sẽ nhanh chóng phai bạc và bị lãng quên. Tôi có ý thức nỗ lực găm vào mỗi truyện của mình ít nhất một hai chi tiết đáng kể, và tôi nghĩ mình đã làm được điều này.
Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Chi tiết trong truyện ngắn rất quan trọng. Chỉ khi nào tôi tìm được chi tiết thì tôi mới viết truyện ngắn. Người ta có thể quên cả câu chuyện tràng giang đại hải, nhưng chi tiết hay thì ám ảnh, nhớ mãi. Chi tiết hay, nó làm cho truyện ngắn đứng được, không có chi tiết hay thì truyện ngắn dễ rơi vào... nhạt, hoặc thiên về khái niệm. Trong truyện ngắn Đồi con gái tôi viết có đoạn: Có con chim rừng giật mình thức giấc, bay vụt lên. Lá trâm rung xào xạc. Nàng ngước nhìn. Một khuôn mặt đàn ông âm u không rõ. Người đó lấy áo chua lòm mồ hôi lót xuống lưng nàng. Lá trâm khô hết lạo xạo dưới lưng, êm ái và mát. Mùi đàn ông hoi nồng xộc vào mũi nàng. Đấy là những gì nàng nhớ nhất trong đám đàn ông lạ giấu mặt. Chi tiết “người đó lấy áo chua lòm mồ hôi lót xuống lưng nàng” được lặp lại ở trường đoạn sau, khi lão Trần và người vợ trẻ ái ân trên thuyền dưới ánh trăng, chính lúc hưng phấn đến đỉnh thì nàng dừng lại và bảo chồng lót cái áo vào dưới lưng cho mình.
Nhà văn Đỗ Tiến Thụy: Một chi tiết nghệ thuật đắt giá có sức kích nổ cảm xúc và neo bám dài lâu trong trí nhớ của độc giả. Các nhà văn tài năng rất giỏi việc kiến tạo chi tiết nghệ thuật. Còn riêng tôi, việc này là rất nhọc nhằn.
Như trong truyện Gió đồng se sắt chẳng hạn. Chú Tình, một cựu chiến binh hăng hái trong đấu tranh chống tiêu cực bị cán bộ xã trù dập bằng cách ném thuốc trừ sâu xuống cái ao vừa tát cạn, hậu quả là mấy tấn cá, thành quả lao động cả năm của chú phải gánh đi bón ruộng. Rồi ruộng lúa đang độ trổ đòng của nhà chú lại bị phá hỏng. Không thóc, không tiền nộp thuế, an ninh xã xông vào nhà chú sục sạo bắt lợn khấu nợ… Đây là những hành vi khá phổ biến ở các làng quê Việt Nam một thời. Nó chỉ là những sự kiện mang tính xã hội, nhưng có thể làm đòn bẩy cho những chi tiết nghệ thuật mà tôi hướng tới.
Không chịu nổi những trò bức hại liên tiếp, vợ chú Tình phát điên, cuối cùng chú Tình phải chấp nhận đi vùng kinh tế mới Tây Nguyên để xóa nợ hợp tác xã theo đúng kịch bản của lũ “cường hào ác bá mới”. Nhưng nhờ ý chí và nghị lực phi thường, chú đã trụ được ở vùng lam sơn chướng khí, chữa khỏi bệnh cho vợ, nuôi các con ăn học đàng hoàng và trở thành ông chủ trang trại nức tiếng.
Đến đây thì cái chi tiết tôi ấp ủ cần phải xuất hiện.
Một ngày có đoàn quan chức tới thăm trang trại. Mới nghe giới thiệu những chức danh, thím Tình bỗng trở nên hoảng loạn. Khi chú Tình dẫn khách tham quan mô hình VAC thì thím bí mật núp sau những lùm cây theo dõi. Một vị khách sau khi uống hết chai nước khoáng đã vô ý ném cái vỏ chai xuống hồ cá. Hình ảnh này lập tức kích hoạt khối kí ức kinh hoàng về chai thuốc trừ sâu ném xuống ao cá năm xưa.
Thím Tình được vớt lên trong tình trạng thi thể đẫm đụa nước, tay còn bóp chặt vỏ chai nước khoáng, mắt mở tròn kinh hãi.

 
1417340769 hoa canh buom 2

PGS.TS. Văn Giá: Còn ngôn ngữ, các anh chị quan tâm tới ngôn ngữ truyện như thế nào?
Nhà văn Đỗ Bích Thúy: Với tôi thì ngôn ngữ truyện đặc biệt có ý nghĩa, vì tôi thường viết về miền núi – một vùng văn hóa đặc thù. Ngôn ngữ mà tôi dùng trong truyện, có thể bạn đọc sẽ chẳng để ý mấy, chỉ thấy nó là thứ ngôn ngữ của người dân tộc thiểu sổ phía Bắc, nhưng tôi đã phải chọn lựa nó rất kĩ. Thậm chí, là không được lẫn lộn giữa ngôn ngữ, giọng điệu của người Tày và người Mông nữa. Cái đó, người viết rất vất vả.
Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Nhà văn hơn người thường ở vốn ngôn ngữ, và cái cách sử dụng ngôn ngữ. Trong truyện ngắn, sử dụng ngôn ngữ tài tình hay vụng về đều hiển hiện không qua mắt được người đọc. Tôi quan tâm đến ngôn ngữ nhân vật, và ngôn ngữ của tôi với tư cách người sáng tạo. Trên tầm mỗi nhân vật có một thứ ngôn ngữ riêng, là ngôn ngữ của tác giả. Vốn từ nhiều, sinh động, sử dụng phù hợp hoặc mới lạ, khác biệt sẽ không lặp lại người khác, thậm chí không lặp lại mình, không mòn cũ. Dường như các nhân vật sử dụng ngôn ngữ đối thoại đang là thử thách các nhà văn Việt Nam?
Nhà văn Phạm Duy Nghĩa: Theo tôi thì mỗi truyện ngắn hay thường thuộc về một trong hai dạng: hoặc hay ở truyện, hoặc hay ở văn (nếu hay ở cả truyện, cả văn thì có thể coi đó là một tác phẩm hoàn mĩ). Hiểu ngắn gọn thì truyện ở đây trước hết là cốt truyện, còn văn trước hết là ngôn ngữ. Khi nói ai đó “viết có văn” tức là nói người đó dùng từ đặt câu hay, cái hay nằm ở chữ. Tôi coi trọng ngôn ngữ truyện ngang với chi tiết truyện. Khi viết, tôi rất có ý thức tìm từ, vận dụng tối đa các biện pháp tu từ, và kiên quyết tránh những lối biểu đạt sáo mòn. Không bao giờ tôi tả “ướt như chuột lột” hay “vắng như chùa Bà Đanh”. Tuy nhiên, những tác phẩm hay ở ngôn ngữ hơn ở cốt truyện cũng có cái thiệt thòi, đó là nếu được dịch sang một thứ tiếng khác thì có khi cái hay mất hết. Trong một truyện ngắn của tôi có câu Quanh năm, sương mù vón lại trên núi Rú – một dịch giả người Việt rất khen từ vón nhưng lại băn khoăn không biết phải dịch từ này sang tiếng Anh thế nào.

Nhà văn Đỗ Tiến Thụy: Tại trại sáng tác Nha Trang năm 2000, tôi hí hửng nhờ ông nhà văn cùng phòng thẩm định giúp cái truyện vừa viết. Vừa giở bản thảo, lập tức mày nhà văn nhíu xệch, mặt nhăn nhó. Đọc xong, ông kéo mục kỉnh xuống, nhìn thẳng mắt tôi: “Cậu có biết câu Tự bất kinh nhân tử bất hưu không?”. Tôi ớ ra vì chưa hiểu ẩn ý trong câu hỏi. Nhà văn liền bảo: “Câu ấy của cụ Đỗ Phủ, nghĩa là dùng chữ chưa khiến người ta kinh sợ thì chết chưa yên. Người xưa quan niệm về dụng tự nghiêm cẩn như thế đấy. Còn chú, chữ nghĩa cứ tuôn phèn phẹt như đứa mắc bệnh té re!”.
Lời nhận xét như hất lửa vào mặt ấy khiến tôi sốc. Tôi đã nóng mặt vì tự ái. Nhưng về nhà bình tâm đọc lại những gì mình viết, quả không oan. Từ đấy tôi mới có ý thức nghiên cứu và rèn luyện ngôn ngữ văn chương một cách nghiêm túc. Và nghề biên tập giúp tôi dần nhận ra, với truyện ngắn, năng lực ngôn ngữ của tác giả bộc lộ rõ nhất. Người yếu chữ dễ rơi vào lối văn rườm rà với những câu à ới ôi a, trùng lặp luẩn quẩn hoặc điệu đàng, sến sáo. Những bậc thầy truyện ngắn, dù phong cách khác nhau nhưng đều có những nét chung: sở hữu vốn từ vựng giàu có, nghệ thuật dùng chữ điêu luyện nên văn phong uyển chuyển, cô đọng súc tích mà vẫn sáng đẹp, diễn đạt các trạng huống truyện chân xác mà vẫn tinh tế.

PGS.TS. Văn Giá: Xin hỏi một câu cuối cùng, các anh chị có quan tâm đến vấn đề “không khí truyện” trong một truyện ngắn không? Và để thực hiện nó, cần phải tiến hành như thế nào?
Nhà văn Đỗ Bích Thúy: Cái không khí này, theo tôi, nó bắt nguồn từ chính câu chuyện mà người viết định dựng lên đấy. Không khí truyện, phần nào có thể hình dung nó liên quan đến “tâm trạng” nhân vật. Nó là sản phẩm của sự kết hợp nhuần nhuyễn, khéo léo, tinh tế giữa ngôn ngữ truyện, chi tiết truyện, chủ đề truyện, loại hình nhân vật truyện...
Đấy là nói về lí thuyết như thế, chứ khi bắt tay vào viết, nói thật là tôi cũng cứ cắm đầu cắm cổ mà viết thôi. Tôi chỉ thấy rõ một điều, khi nhân vật của tôi đau khổ, tôi buồn bã vô cùng, và những câu, chữ mà tôi viết ra, nó có thể hoàn toàn chả có một từ “đau khổ”, “buồn bã” nào, nhưng chính mình đọc lại cứ muốn rơi nước mắt.
Nhà văn Đỗ Tiến Thụy: Không khí truyện là cái phả ra từ toàn bộ tác phẩm, có tác động rất mạnh đến quá trình cảm thụ của độc giả. Vì thế đây là mối quan tâm lớn của tôi. Để tạo được không khí truyện đòi hỏi người viết không những phải nắm chắc những tri thức về đề tài phản ánh, mà còn phải thẩm thấu thổ nhưỡng khí hậu, cảnh sắc thiên nhiên, phong tục tập quán, ngôn ngữ và tư duy con người ở thời điểm câu chuyện diễn ra.
Hiểu thế, nhưng thực hành không đơn giản. Và tôi đã thất bại nhiều lần. Đó là khi viết về chiến tranh mà không toát được hơi trận mạc, viết về nông thôn mà chả nổi nét quê, viết về thành thị mà chưa ra vị phố, viết về miền núi mà chẳng thấy khí rừng... Tệ hại hơn là khi viết về lịch sử ngàn năm mà truyện lại mang màu hiện đại, viết về Ta nhưng lại sặc mùi Tây…
Nhà văn Sương Nguyệt Minh: “Không khí truyện” không quan tâm không được, nó chính là một trong những thành phần làm nên sự hấp dẫn của tác phẩm. Không khí truyện cũng góp phần làm nên sự tinh tế của văn. Viết về Tết mà người đọc không nhận ra không khí Tết đặc trưng ở câu chữ trong tác phẩm thì coi như thất bại. Viết về một đám giỗ ở nhà mà không có không khí giỗ thì sẽ không ra ngày giỗ.
Muốn tạo được không khí truyện thì trước hết phải có không gian nghệ thuật phù hợp với câu chuyện định kể, đoạn văn định viết. Tôi thường chọn âm thanh, màu sắc và hành động để tạo không khí truyện. Chẳng hạn trong truyện ngắn Lửa cháy trong rừng hoang tôi tạo không khí truyện miền núi hoang sơ thế này:
Bản Cón Nhợi có một cái nhà xim.
... Kèn lá thổi lí lơi, tiếng hát bay chấp chới trời đêm. Con trai, con gái đi xim đến lúc thấy hơi thở là của nhau, vị ngon ngọt đầu lưỡi là của nhau, trời lộn xuống đất, đất ngồi lên trời thì tách đàn, dụi tắt đuốc, rủ nhau vào lùm cây. Tay chân quấn quýt xoắn vào nhau, mùi thịt da quện vào hơi thở nồng nàn át cả mùi cỏ ngai ngái toả ra tức tưởi vì bị giẫm đạp, chà xát. Khi trên đầu, ông trăng lặn, ông sao mờ; khi dưới đất, sương đêm tưới đẫm cỏ cây, tóc tai ướt nhèm mới buông nhau ra, đi về nhà xim ngủ tập trung.
Thuật ngữ và nội hàm “không khí truyện” nên được nghiên cứu kĩ, làm sáng rõ để đưa vào từ điển văn học và tài liệu lí luận văn học, sẽ có ích cho người sáng tác rất nhiều.
Nhà văn Phạm Duy Nghĩa: Hình như không phải một thuật ngữ văn học được giải nghĩa rõ ràng, nên có thể có những quan niệm khác nhau về “không khí truyện”. Tôi thì quan niệm nó như cái hồn của truyện – là vấn đề quan trọng bậc nhất đối với một truyện ngắn. Chẳng hạn, buồn man mác, se sắt là không khí chung trong các truyện ngắn viết về Tây Bắc của Tô Hoài. Mỗi truyện của cùng một tác giả lại có thể mang một không khí riêng. Để tạo ra không khí riêng ấy thì mọi yếu tố trong truyện từ cảnh vật, màu sắc, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ trần thuật… cho đến nhạc tính của câu văn, tất thảy đều phải phù hợp nhau, ăn khớp nhau đến mức tuyệt đối, cùng làm nên chỉnh thể thống nhất của tác phẩm.
Một trong những truyện đầu tay của tôi có tên Ngôi nhà nhỏ bên hồ, tôi cho rằng truyện ngắn này có được không khí riêng không lẫn với các truyện khác - một không khí thật trữ tình, trong sạch và dịu dàng. Nhiều người nhận xét truyện này “rất Nga”. Đây là một đoạn ở trang đầu:
Từ ngôi nhà anh ở, muốn ra hồ phải đi theo lối mòn trên đồi cỏ trải dài phía trước. Có buổi chiều tà se lạnh, sương mù màu xanh lam rất mỏng từ hồ tỏa lên đồi. Những thân bạch đàn mảnh dẻ trắng xanh như tấm thân người phụ nữ vừa ốm dậy, thì thầm thả xuống màn sương chiếc lá úa màu đỏ tía. Có lẽ đó là cách tỏ tình âu yếm nhất của chúng đối với mùa thu.
Âm điệu, màu sắc trữ tình đã đi suốt câu chuyện. Trong không khí “vô trùng” ấy, bất cứ một âm thanh cử chỉ nào không có phận sự lọt vào cũng trở nên “hỗn xược”. Vậy mà khi viết lần đầu, tôi đã đưa một từ không mấy thanh nhã vào lời của Nhi, nhân vật chính trong truyện, một cô bé hết sức đáng yêu. Tôi sớm nhận ra sự lạc lõng của từ này trong bầu khí quyển chung, và nó đã bị tống khứ ra khỏi truyện.
Một truyện ngắn có thể làm cho người ta nhớ không phải bởi cốt truyện, nhân vật hay ngôn ngữ mà bởi không khí truyện. Có nhà văn nói rằng đọc những dòng đầu tiên của một truyện ngắn hay, người đọc có cảm giác mình vừa bước vào một vùng khí hậu khác. Tôi rất thích nhận định này.

PGS.TS. Văn Giá: Cuộc trò chuyện của chúng ta đã mở ra những chia sẻ thú vị về kinh nghiệm, thói quen, cái “tạng” riêng của mỗi người trong công việc sáng tác truyện ngắn. Chúc các nhà văn có thêm những truyện ngắn mới tâm đắc.
 

D.V (Thực hiện)

 


 
 Từ khóa: DUY VĂN
Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo