Ngôn ngữ và văn hóa

Thứ năm - 23/03/2017 09:40
                        (Tìm hiểu ngôn ngữ Hồ Chí Minh trong bối cảnh văn hóa châu Á)
 
.  NGUYỄN THANH TÚ

     Tư tưởng Hồ Chí Minh đi trước thời đại, soi đường cho văn hóa các dân tộc tiếp bước dưới ánh sáng của tình yêu thương, hòa bình, đoàn kết, hữu nghị. Cả cuộc đời Người vì mục đích cháy bỏng không chỉ là độc lập, tự do cho Tổ quốc mình, hạnh phúc cho đồng bào mình mà còn cho toàn nhân loại, cho mọi dân tộc trên trái đất này. Bác Hồ dùng ngôn ngữ vào mục đích thể hiện tình cảm, tuyên truyền kêu gọi đoàn kết. Đồng thời, với Người ngôn ngữ cũng là sứ giả gắn nối và gắn kết tình cảm đối ngoại chân thành, trong sáng, thủy chung.

     1. Bác Hồ mong muốn đưa cả dân tộc Việt Nam tới đài vinh quang của tự do, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu. Thế nên Người rất quan tâm tới trẻ em, gửi bao kỳ vọng vào thế hệ trẻ: “Vở này ta tặng cháu yêu ta/ Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là/ Mong cháu ra công mà học tập/ Mai sau cháu giúp nước non nhà” (Tặng cháu Nông Thị Trưng). Tháng 8 năm 1945 Uỷ ban cách mạng họp ở Tân Trào, nhìn thấy các em nhỏ xanh xao ốm yếu, Người nghẹn ngào nói với các vị đại biểu: “Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao cho các cháu được ăn no, có quần áo mặc” (1). Trong kháng chiến chống Pháp, với cương vị Tổng chỉ huy phải lo nghĩ những việc to lớn nhất nhưng Người vẫn quan tâm đến đồng bào từ những việc thật cụ thể, từ cái nhỏ nhặt nhất. Nhưng có khi chính từ cái nhỏ ấy mà ý nghĩa lại lớn, lại nói được nhiều về tâm hồn vĩ đại mà tinh tế. Ngày 15-1-1948 Người gửi thư cho ông Đinh Công Phủ, người Mường, lang đạo vùng Mai Đà (Hoà Bình): “Tôi gửi biếu Cụ một chiếc áo trấn thủ. Áo này là của đồng bào Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây biếu tôi. Cụ mặc ấm, cũng như tôi mặc ấm” (2). Nếu ngôn ngữ chinh phục lòng người luôn là ngôn ngữ chân thành nhất, thì lời thư này là tiêu biểu.Người ta không thấy  ranh giới giữa vị Chủ tịch Nước và người dân thường, bởi Bác Hồ đã coi cái ấm lạnh của dân cũng là cái ấm lạnh của mình.

       Yêu nước, thương người luôn thường trực trong con người Hồ Chí Minh, bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu. Người luôn coi đồng bào các dân tộc là bà con anh em ruột thịt. Ngày 20-2-1961 về thăm Pác Bó, xe dừng bánh, đồng bào ùa ra xúm xít, Người hỏi:
      - Bà con làm gì mà đông thế này?
      - Đón Bác ạ! Năm mới chúc Bác mạnh khoẻ ạ!
Người lần lượt nhìn mọi người rồi nói:
                 -Tôi về thăm nhà mà sao lại phải đón tôi!” (3).

      Chỉ một câu nói hết sức giản dị mà toát ra cả một tư tưởng lớn: cả đất nước này là ngôi nhà, mọi người dân Việt Nam là anh em sống trong ngôi nhà ấy.

       Hai nét nổi bật trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh là tình thương yêu con người và sự đoàn kết dân tộc. Không ngẫu nhiên những câu ca dao ngụ ngôn “Một cây làm chẳng nên non/ Nhiều cây chụm lại nên hòn núi cao”, “sẻ áo nhường cơm”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”… rất hay được Người sử dụng. Khi nói về đoàn kết, nhất là nói với đồng bào dân tộc Bác Hồ rất hay dùng ngụ ngôn. Người thường mượn hình ảnh sông, núi để khẳng định ý chí đoàn kết không gì lay chuyển của người dân Việt Nam, nhất là hình ảnh bàn tay. Ngụ ngôn về hình tượng bàn tay có sức thuyết phục rất mạnh vì quen thuộc, gần gũi, đặc biệt sự so sánh dựa trên cơ sở tương đồng cao tạo nên giá trị biểu cảm lớn. Tháng 9-1958 về thăm tỉnh miền núi Yên Bái, Người nói: “Tỉnh nhà có 10 dân tộc anh em. Trước kia bọn thực dân phong kiến chia rẽ chúng ta, chia rẽ các dân tộc, xúi giục dân tộc này hiềm khích oán ghét dân tộc khác để chúng áp bức bóc lột chúng ta. Nay chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ. Ví dụ: 10 dân tộc ở tỉnh nhà như 10 ngón tay. Nếu xoè 10 ngón tay mà bẻ từng ngón, như thế có dễ bẻ không? Nếu nắm chặt cả 10 ngón tay thì có bẻ được không?” (4).

      Trang phục và ngôn ngữ luôn mang tính bản sắc văn hóa rõ nhất. Ngày nay người ta hay nói đến bản sắc. Điều này được Bác Hồ quan tâm từ rất sớm. Ngày 9-12-1961 Bác về Nghệ An và nói chuyện với cán bộ và học sinh trường sư phạm miền núi. Bác hỏi: “Ở đây có mấy dân tộc? Sao mà lại mặc theo người Kinh cả? - Các cháu Thổ đâu? Mặc sao giống người Kinh?”. Rồi Người hỏi đến các cháu người Thái, Tày Mười, Đan Lai, Lào... Hỏi đến các cháu Tày Hãy, thấy chỉ có một cháu, Người nhắc “Sao lại không có cháu gái? Lần sau phải có cháu gái”. Người chú ý đến ngôn ngữ: “- Các cháu nói chuyện với nhau được không? Nói chuyện với nhau bằng tiếng gì?” (5).

      Chúng ta chú ý thấy Bác hỏi cũng là sự nhắc nhở: “Sao mà lại mặc theo người Kinh cả?”, “Mặc sao giống người Kinh?”, nghĩa là Bác mong muốn học sinh dân tộc nào phải giữ gìn phong tục dân tộc đó, tức mỗi dân tộc phải giữ gìn bản sắc dân tộc mình, không được hòa tan, làm mất. Một lần Bác khen chị Choáng Kring Thêm trong trang phục dân tộc tham gia đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc: “Cháu đúng là con gái dân tộc Cà Tu giữ được tính chất của dân tộc mình” (6).

     2. Theo chúng tôi tìm hiểu thì Bác Hồ thành thạo 12 ngôn ngữ chính trên thế giới (có tài liệu nói Bác biết 29 thứ tiếng). Ở khu vực Đông Nam Á, Bác nói được nhiều thứ tiếng như Thái, Tày, Nùng, Hmông...Nhiều người ngạc nhiên năm 1962 lần đầu Bác lên Sơn La mà lại nói được tiếng Thái. Thực ra Bác học tiếng Thái từ hồi hoạt động ở Thái Lan. Trong bài Kiều bào ta ở Thái Lan luôn luôn hướng về Tổ quốc có câu: “Bác cũng phát nương làm xuốn như các anh em khác” (7). “Xuốn”, âm tiếng Xiêm có nghĩa là vườn.    

     Trong văn hóa đối ngoại Bác dùng rất hiệu quả từng âm từng chữ để tạo nên sức biểu cảm phù hợp với không khí giao tiếp. Tháng 3-1963 Nhà vua Lào sang thăm nước ta. Cuối lời chào mừng Nhà vua, Bác nói bằng tiếng Lào: “Việt - Lào Xamăckhi mặnnhưn”, có nghĩa là “Việt Lào đoàn kết muôn năm”. Trong buổi chiêu đãi, Người cũng dùng: “Paxaxôn Việt - Lào Xamăckhi mặnnhưn” có nghĩa là “Nhân dân Việt Lào đoàn kết muôn năm”. Cảm ơn trong buổi chiêu đãi do Nhà vua Lào tổ chức, Người cũng nhắc lại câu này: “Chúc hoà bình thế giới. Paxaxôn Việt - Lào Xamăckhi mặnnhưn!”. Tiễn Nhà vua, trước khi dừng lời Người cũng có một câu tiếng Lào: “Xavátđi” có nghĩa là “chào mạnh khoẻ” (8). Lời nói thì khép lại ở hình thức câu chữ nhưng lại mở ra trang mới về tình hữu nghị anh em. Lúc này ngôn từ trở thành cây cầu văn hóa nối kết hai không gian Việt Lào bền vững hơn bao giờ hết.

      Đầu tháng 2-1958 cùng đoàn đại biểu Đảng ta đi thăm Ấn Độ, đáp từ tại sân bay, sau khi đọc những khẩu hiệu hoà bình bằng tiếng Việt, cuối bài Bác Hồ nói bằng tiếng Ấn: “Panch Sheela!”. “Panch Sheela” có nghĩa là 5 nguyên tắc chung sống hoà bình mà lúc bấy giờ một số nước châu Á đang theo đuổi. “Panch Sheela” lại được Người nhắc lại trong buổi tiệc do Tổng thống Ấn Độ chiêu đãi (9). Một từ, chỉ một từ Panch Sheela này thôi không chỉ biểu thị quan niệm mong muốn một nền hòa bình của Việt Nam mà còn là sự đồng tình, một sự khích lệ các dân tộc đoàn kết lại cùng hướng về ngọn cờ hòa bình: Panch Sheela!

      Trong Diễn văn tại cuộc mit tinh của nhân dân Niu Đêli, cuối bài Người nói bằng tiếng Ấn:
     “Việt Nam - Hinđi bhai bhai!”.
      “Việt Nam - Hinđi bhai bhai!” có nghĩa “Việt Nam - Ấn Độ là anh em!”      
      Trước khi rời Ấn sang thăm Miến Điện, trong một cuộc nói chuyện, Người nói:
     “Hoà bình thế giới muôn năm!
      Jai Hindi!”
     “Jai Hindi!”, tiếng Ấn có nghĩa là “Ấn Độ muôn năm!” (10).    

       Tháng 6-1959 Tổng thống Inđônêxia Xucácnô sang thăm Việt Nam, Hồ Chí Minh thật khiêm tốn, chân tình nói: “Về phần tôi, tôi hết sức vui mừng được gặp lại Bung Cácnô…”. Tiếng Inđônêxia, “bung” có nghĩa là “anh cả”. Cuối bài diễn văn chào mừng Tổng thống, Bác Hồ nói:

     “Hiđúp Bung Cácnô!
      Mớcđơca!”
      Tiếng Inđônêxia “Hiđúp” có nghĩa “muôn năm”; “Mớcđơca” có nghĩa “độc lập”. Trong diễn văn tiễn Tổng thống Xucácnô, Bác nói: “Riêng Paman Hồ thì nhờ Bung Cácnô chuyển cho tất cả anh em, chị em Inđônêxia lời chúc phúc chân thành nhất,…”. “Paman” có nghĩa là “bác” (bác Hồ); Người không gọi là “Tổng thống” mà gọi “bung” (anh cả) để đưa cuộc tiễn đưa ngoại giao trở về sắc thái gia đình anh em bịn rịn lưu luyến (11).

   3. Hạt nhân của ký hiệu học là biểu trưng văn hóa. Mối quan tâm nhất của hướng nghiên cứu này là tìm hiểu các cơ chế tạo nghĩa của biểu trưng. Điều này ngôn ngữ văn hóa đối ngoại Hồ Chí Minh là những dẫn chứng sinh động. Trong cuộc hội kiến với các chính khách tên tuổi Người hay “tập Kiều”. “Tập Kiều” chính là một hình thức liên văn bản thú vị, biểu trưng “di chuyển” từ văn bản này sang văn bản kia để tạo ra nghĩa mới. Ví dụ cảnh Kiều cùng Từ Hải “Nửa năm hương lửa đang nồng” thì Từ Hải phải lên đường, Thuý Kiều ở lại ngóng về Từ: Cánh hồng bay bổng tuyệt vời/ Đã mòn con mắt, phương trời đăm đăm! Hoàn cảnh này, tâm trạng này được Bác Hồ “tập” trong hoàn cảnh tiễn Tổng thống Xucácnô tại sân bay Gia Lâm: 

      “Thời gian Tổng thống lưu lại ở Việt Nam chúng tôi lần này quá ngắn ngủi! Nhưng vì Tổng thống đi vắng đã hơn hai tháng, nhân dân Inđônêxia nhớ nhung và chờ đợi lãnh tụ kính mến của họ, một ngày dài như ba thu. Thật là:
                    Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
               Trông mòn con mắt, phương trời đăm đăm!” (12).

      “Cánh hồng” vẫn được giữ nguyên trong sắc thái văn hóa Truyện Kiều, nghĩa đen chỉ cánh chim hồng, một loài chim bay xa, uy dũng, nghĩa bóng chỉ bậc trượng phu, quân tử. Bác chỉ thay một chữ Đã trong Kiều bằng từ Trông để diễn tả tấm lòng mong chờ, trông ngóng từng giờ của nhân dân Inđônêxia nhớ nhung và chờ đợi lãnh tụ tài năng kính mến của họ. Thật là một sự ca ngợi kín đáo mà tinh tế!

     Bác Hồ nhiều lần lấy hình tượng “môi răng” để nói về quan hệ hai nước Việt - Trung. Ngay từ năm 1940, trên Cứu vong nhật báo (Trung Quốc) với bút danh Bình Sơn, Người có bài thơ Cứu Trung Quốc thị cứu tự kỷ (Cứu Trung Quốc là tự cứu mình), có mấy câu cuối: “Giặc Nhật tấn công cả thế giới/ Là kẻ thù chung cả nhân loại/ Mau đứng lên mà giúp Trung Hoa/ Anh chị em Việt Nam ta hỡi/ Ra sức giúp cho người Trung Quốc/ Trung - Việt khác nào môi với răng/ Nhớ rằng môi hở thì răng buốt/ Cứu Trung Quốc là tự cứu mình”.

     Tự bài thơ đã toát lên tinh thần Bốn phương vô sản đều là anh em, hơn nữa nước ta và Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông. Đặt nước ta trong bối cảnh lúc bấy giờ (1940) còn là nước nô lệ lầm than, càng thấy tấm lòng hữu ái của Bác rộng lớn, sâu sắc đến nhường nào. Tháng 9-1945 Người nhắc lại hình tượng này: “Hai dân tộc Trung - Việt chúng ta, mấy ngàn năm nay, huyết thống tương thông, chung nền văn hoá, trong lịch sử vẫn được gọi là hai nước anh em; hơn nữa, đất nước liền kề, núi sông kế tiếp, càng như môi với răng che chở cho nhau” (13). Một tầm nhìn xa trông rộng không chỉ ở hiện tại mà nhìn cả về quá khứ và hướng tới tương lai!

      Về quan hệ với hai nước Miên Lào, Bác Hồ cũng dùng hình tượng “môi răng”: “Vì mọi quan hệ khăng khít về địa lý, quân sự, chính trị, v.v. mà ta với Miên, Lào cũng như môi với răng. Hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng, thì cuộc giải phóng của ta mới chắc chắn, hoàn toàn” (14). Hình tượng “môi răng” mà Bác dùng là dựa trên thành ngữ “Môi hở răng lạnh” nhắc nhở mọi người biết thương yêu nhau, đoàn kết. Bác đã khéo kết hợp sức biểu cảm từ bản thân mối quan hệ giữa hai hình tượng “môi” và “răng” luôn che chở, bảo vệ cho nhau; đồng thời gợi người đọc nhớ về câu thành ngữ quen thuộc trên. Riêng với bạn Lào, Người thể hiện tình cảm đặc biệt qua mấy câu thơ theo hình thức tập ca dao: Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/ Việt- Lào, hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long. Đây là mấy câu thơ rút ra từ Lời phát biểu trong buổi lễ tiễn Vua Lào ngày 13- 3- 1963 (15) thật chân tình, nó tựa vững chắc vào một bài ca dao về tình yêu của người Việt: Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo/ Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu đèo cũng qua, nâng tình hữu nghị anh em Việt - Lào lên tầm biểu tượng vĩnh cửu qua cách sử dụng hình ảnh hai con sông Hồng Hà, Cửu Long muôn đời vẫn chảy qua hai nước. Quan niệm giúp bạn tức là giúp mình, quan niệm tình nghĩa thuỷ chung với bạn vốn đậm đà trong tính cách người Việt Thương người như­ thể thương thân và tinh thần nhân ái trong triết lý Khổng giáo phương Đông được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển lên một đỉnh cao mới.

      Khi đế quốc Mỹ ào ạt đổ quân xâm lược Việt Nam, để dư luận tiến bộ hiểu tình hình một cách khách quan, Hồ Chí Minh mượn lời Thái tử Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc, lãnh tụ nước Campuchia láng giềng trung lập:

      “Thái tử đã nêu một ví dụ rất rõ rệt, đại ý như sau: Nước Việt Nam như là một ngôi nhà. Nhân dân Việt Nam là người chủ nhà. Giặc Mỹ là lũ ăn cướp xông vào nhà người ta. Lũ cướp tự cho chúng có quyền chiếm lấy ngôi nhà, giải quyết mọi việc trong nhà, xử trí tính mạng của những người nhà; nếu họ chống cự thì chúng khủng bố, tra tấn, giết chết họ; chúng đập phá đồ đạc trong nhà và nếu cần thì chúng đốt cả nhà lẫn người nhà. Lũ cướp tự cho cái “quyền” đó, chỉ vì chủ nhà muốn sơn nhà mình bằng màu hồng hoặc màu đỏ; cái màu sắc mà lũ cướp xâm lược không ưa…” (16).

      Ở ví dụ này, xét ở cấp độ quan niệm thì hình thức vỏ câu chữ là của Thái tử nhưng nội dung ý nghĩa là sự thống nhất của hai giọng, hai quan điểm Hồ Chí Minh và Thái tử. Đấy cũng là cách tuyên bố với thế giới về một sự đoàn kết thống nhất của hai nước, hai dân tộc Việt Nam và Campuchia. Xét ở góc độ nội dung thì lời Thái tử đã làm nổi bật một nghịch lý: kẻ cướp lại có quyền bắt chủ nhà làm theo ý của chúng, thế mà, trên thế giới vẫn có người không hiểu, hoặc cố tình không hiểu dã tâm của kẻ cướp ấy. Ở góc độ hình tượng thì chinh phục người đọc ở biểu trưng ngôi nhà. Với vùng khí hậu nóng ẩm nắng lắm mưa nhiều và văn minh nông nghiệp như ở Đông Nam Á thì ngôi nhà là biểu trưng của những gì gần gũi nhất, thân thương nhất và cũng thiêng liêng nhất. Ngôi nhà là nơi sinh sống, nuôi dưỡng, chở che mỗi thân phận con người. Ngôi nhà là tình cảm đạo lý, là sự thật chân lý bao đời của “nhân dân Việt Nam”. Thế mà đế quốc Mỹ hung bạo và ngang ngược bất chấp đạo lý chà đạp chân lý đến cướp ngôi nhà Việt Nam. Thế thì chúng phải bị công lý nhân loại kết tội!

      Người Việt sâu sắc, rất ý tứ trong cách nói năng: “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, “Lời nói đọi máu”. Với họ lời nói là ân tình, là văn hóa. Hồ Chí Minh thực sự là kết tinh của văn hóa trọng tình, thủy chung và đã thể hiện điều ấy trong quan hệ với các nước láng giềng, trước sau như một, hữu nghị, thân ái, hiểu biết, giúp đỡ lẫn nhau. Năm 1965, Quốc vương Campuchia gửi tặng nhân dân ta thuốc men, Bác Hồ điện cảm ơn và đồng tình với ý kiến đúng đắn của Quốc vương: “Như Ngài đã nói rất đúng: Nhiệm vụ của chúng ta đối với các thế hệ tương lai là phải cùng nhau củng cố cơ sở của sự hợp tác tin cậy và chân thành trong sự tôn trọng nền độc lập của nhau” (17).

     4. Văn hóa châu Á chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Khổng (còn gọi là đạo Nho thiên về giáo dục con người lòng nhân ái, nhân nghĩa) và đạo Phật. Màu sắc nhân văn của đạo Khổng và lý tưởng từ bi của đạo Phật thấm đẫm vào từng nếp sống, phong tục đến triết học, chính trị và các tác phẩm nghệ thuật, nhất là văn chương các nước. Bác Hồ là một trong số rất ít các vĩ nhân của thế giới đương đại có thể đối thoại với hầu hết các nền văn hóa lớn vì Người có vốn hiểu biết thực sự vĩ đại. Có ba nguồn văn hóa cơ bản để tạo nên Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh, một là học tập, kế thừa tinh thần yêu nước thương người trong văn hóa Việt; hai là sự tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông, nhất là tư tưởng đạo Nho và giáo lý nhà Phật; ba là nhờ được đi tới hầu khắp các nền văn hóa phương Tây, học tập và thu lượm những điều tiến bộ ở nhiều tôn giáo, ở rất nhiều chủ nghĩa, khuynh hướng, đặc biệt ở chủ nghĩa Mác...Có thể ví Hồ Chí Minh như cây đại thụ văn hóa cường tráng nhờ ba chùm rễ khỏe khoắn cắm sâu vào mảnh đất văn hóa nhân loại để cành lá vươn cao lên bầu trời nhân dân khắp thế giới mà quang hợp ánh sáng của tự do, bình đẳng, bác ái, của trí tuệ, tình thương... Vì lẽ ấy mà ở Hồ Chí Minh đã tạo cho riêng mình một chủ nghĩa nhân văn vừa phương Đông lại rất phương Tây, cổ điển, truyền thống mà mới mẻ, hiện đại; bình dân giản dị mà bác học trí thức; trong sáng hồn nhiên mà sang trọng vương giả... Những điều ấy thể hiện rất rõ ở từng câu chữ. Mà “ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (Mác) nên tìm hiểu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trước nhất phải đi từ ngôn ngữ.

     Trên báo Nhân dân, số 3107, ngày 27-9-1962 với bút danh T.L, Bác Hồ viết bài Sẵn sàng giúp đỡ kêu gọi toàn dân ta đoàn kết với nhân dân các nước Á - Phi đang đấu tranh giành độc lập, có đoạn:

     “Trong thời kỳ chúng ta kháng chiến chống đế quốc Pháp, các dân tộc đó đã từng hăng hái giúp đỡ chúng ta, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, hoặc ít, hoặc nhiều. “Một miếng khi đói hơn mười gói khi no”. Bây giờ đến lượt chúng ta có nghĩa vụ giúp đỡ các dân tộc anh em đó.

     Cuộc đấu tranh của họ cũng như cuộc đấu tranh của ta, đều nhằm mục đích chung là tiêu diệt chủ nghĩa thực dân, tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc. Người cùng một hội một thuyền, phải giúp đỡ lẫn nhau. Việt Nam ta lại có vinh dự to lớn, là đã được giải phóng trước, được độc lập trước. “Người đến trước phải rước người đến sau”. Cho nên chúng ta càng có nghĩa vụ giúp đỡ các dân tộc anh em đó” (18). Trong 7 câu văn ngắn mà có tới  3  tục ngữ, thành ngữ nói về đạo lý ở đời, theo lẽ thông thường là cưu mang lẫn nhau “Một miếng khi đói hơn mười gói khi no”, huống hồ bạn trước đây đã từng giúp mình, là “cùng một hội một thuyền” nên ta càng phải có trách nhiệm giúp đỡ “Người đến trước phải rước người đến sau”. Người kêu gọi và gợi ý cách giúp đỡ, cũng rất Việt Nam, mỗi người cùng chân tình, chân thành “Một hào cũng không phải là ít, mấy đồng cũng không phải quá nhiều” để “Góp gió thành bão”. Bài viết khép lại bằng câu tập Kiều ai cũng hiểu, thấm thía: “Trăm năm trong cõi người ta/ Giàu lòng bác ái, ấy là người Việt Nam” (19). Hồ Chí Minh rất dân tộc truyền thống lại rất quốc tế nhân loại, có tầm nhìn sâu vào truyền thống dân tộc và nhìn rộng ra văn hóa nhân loại cần lao. Người là sự kết tinh đẹp nhất truyền thống “ăn quả nhớ người trồng cây”, và “thương người như thể thương thân”. Theo đúng tinh thần “Lọ là thân thích ruột rà/ Công nông thế giới đều là anh em” (20). Bác coi những đồng chí đảng viên các đảng cách mạng anh em như là người trong nhà. Đây là lời kể của đồng chí Song Tùng, nguyên đại sứ nước ta tại Cộng hoà dân chủ Đức, Bác nói: “- Các đồng chí đại diện các đảng bí mật thì không được theo nghi thức ngoại giao nhà nước. Phải đối xử như anh em trong nhà” (21).

     Đối với nước Pháp xâm lược Người luôn cố gắng tìm một cơ hội hoà bình.  Ngày 2-7-1946, G.Biđôn, lúc bấy giờ là Chủ tịch Chính phủ Pháp đã mở tiệc chiêu đãi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp, đáp từ trong buổi chiêu đãi này, Bác Hồ có nhắc đến đạo Khổng: “Chúng ta chẳng đã ruồng bỏ được cái chủ nghĩa đế quốc xâm lược và cái chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi không còn thích hợp với thế giới hiện tại đấy ư? Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng, và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”. Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy, hội nghị sắp tới sẽ đi tới những kết quả tốt đẹp” (22).

     “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” là câu nói nổi tiếng của Khổng Tử, trở thành hạt nhân triết lý của đạo Nho, có nghĩa là: Điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Đây chính là mối quan hệ tôn trọng cá nhân giữa người với người, giữa quốc gia này với quốc gia khác. Do vậy nó đã mang tầm phổ quát cho toàn nhân loại không riêng gì của phương Đông. Hồ Chí Minh đã nhắc khéo nước Pháp: nước Pháp đã từng đau khổ vì bị Đức xâm lược thì chắc nước Pháp rất hiểu nỗi khổ đau mất nước của quốc gia khác. Điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Chả lẽ nước Pháp lại đi xâm lược Việt Nam?

      Trong Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch - Bốn tháng sang Pháp, ký tên Đ.H, sau khi thuật lại một tin trên báo Pháp có hai mẹ con người Pháp chết đói, tác giả bình luận: “Người đời xưa nói: “Dân giàu thì nước có, dân quẫn thì nước nghèo”. Pháp là một nước giàu có, nhưng trong cuộc chiến tranh bị tàn phá nhiều. Cho nên dân nghèo, tiền ít” (23).

      Lấy điểm tựa là câu nói của Khổng Tử để nêu bật nguyên nhân của một nước Pháp xưa kia giàu có mà nay có người chết đói là do chiến tranh. Lời bình luận toát lên một ý nghĩa sâu sắc, ai cũng hiểu mà không cần phải nói ra: muốn giàu có thì phải tránh để xảy ra chiến tranh.

      Nhân dịp kỷ niệm lần thứ tư Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, phóng viên báo Praxa Thipatay (Thái Lan) phỏng vấn Hồ Chí Minh về vấn đề hoà bình trong khu vực. Người nói: “Việt Nam phải kháng chiến tranh lại thống nhất và độc lập thật sự đã, sau mới có thể bàn đến việc khác. Đức Khổng Tử có dạy rằng: Quốc trị, thiên hạ mới bình” (24).

     Vì Việt Nam và Thái Lan gần gũi nhau về địa lý, văn hoá, cùng chịu ảnh hưởng của đạo Khổng nên Bác Hồ mượn lời Khổng Tử làm toát lên quan điểm không những của mình mà là của cả triết lý phương Đông: mỗi quốc gia hãy thật yên ổn đã thì tự nhiên thế giới sẽ hoà bình!

     Bất kỳ ai cũng nằm trong một vùng sinh quyển tiếp biến văn hóa nào đó, do vậy bài học mà Bác Hồ sử dụng ngôn ngữ làm sứ giả văn hóa mang tính phổ quát. Trước hết là bài học mỗi cá nhân văn hóa phải nhập thân vào đời sống để tích lũy vốn sống, chất sống văn hóa. Một lần nhìn Bác cùng bộ đội nướng sắn, ông cụ người Tày cười bảo: “Các đồng chí phải học cái ké bộ đội vớ! Trông cầm củ sắn là biết ngay người có ở núi hay không đấy” (25).

      Là bài học phải có hiểu biết sâu sắc truyền thống văn hóa dân tộc mình và dân tộc anh em. Hồi hoạt động ở Thái Lan, Bác làm nhiều nghề, có cả nghề “xem bói” và bốc thuốc, thậm chí cả nghề buôn. Ai cũng nghĩ Bác là một người nông dân Thái. Trong lúc rỗi Bác dạy anh em mình KiềuChinh phụ ngâm.

 Là bài học về sự chân thành, chân thành đến tận cùng trong mọi quan hệ. Sang thăm Ấn Độ, theo phong tục, đại biểu nhân dân Ấn Độ lần lượt choàng những dải hoa tươi lên cổ các vị khách quý để tỏ lòng kính trọng và hiếu khách. Nhiều vị khách nước ngoài thường nhận hoa rồi đưa cho lễ tân nhưng Bác Hồ đã nhận tất cả để cho từng người choàng những dải hoa lên cổ mình mà không gỡ ra. Khi nhân dân Thủ đô Niu Đêli trao tặng tấm thảm len khá lớn, tưởng rằng Bác chỉ nhận tượng trưng nhưng Bác nói: “Quà của tôi, tôi phải tự nhận lấy” và Bác vác cả tấm thảm đó lên vai, rồi nói thật chân tình: “Tôi vác cả tình cảm nhân dân Ấn Độ trên vai” (26).

     Văn hóa là ngôn ngữ, ngôn ngữ là văn hóa. Ngôn ngữ văn hóa là sự thấu hiểu và thấu cảm. Với Bác Hồ ngôn ngữ là con đường, là cây cầu văn hóa kỳ diệu gắn kết những tâm hồn, những trái tim!

-------
NTT

1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, tr 358.
2. Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử (2006), NXB Chính trị Quốc gia, tập 4, tr 149.
3. Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, (2006), NXB Chính trị Quốc gia, tập 8, tr 31.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 9, tr 226.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 10, tr 460.
6. Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, tr 315.
7. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 10, tr 24.
8. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 11, tr 41.
9. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 9, tr 37.
10. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 9, tr 63.
11. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 9, tr 479.
12. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 9, tr 479.
13. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 4, tr 5.
14. Hồ Chí Minh toàn tập (1996), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 6, tr 452.
15. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 11, tr 44.
16. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 12, tr 42.
17. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 11, tr 456.
18. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 10, tr 624.
19. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 10, tr 625.
20. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 11, tr 258.
21. Bác Hồ sống mãi với chúng ta (2006), Nxb Thanh niên, tập 2, tr  644-645.
22. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 4,  tr 267.
23. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 4, tr 407.
24. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 5, tr 676.
25. Nguyễn Ngọc Châu (2007), Đưa Bác về Pắc Bó, Nxb Lao động Xã hội, tr 192. 
26. Trần Đương (1999) Ánh mắt Bác Hồ, Nxb Thanh niên, tr 104.
                                                                   

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo