Minh triết Hồ Chí Minh tỏa sáng trong thơ Nhật Ký Trong Tù

Thứ năm - 30/08/2018 12:12
Đọc thơ Nhật Ký Trong Tù của Hồ Chí Minh, cái hút hồn ta nhất có lẽ không phải là cái hiện thực phơi bày về con người và cuộc sống mà chính là sự triết lý. Sự triết lý trong thơ Người không dừng lại ở mức độ bình thường mà đạt tới sự cùng lý, sáng suốt. Cái minh rất mẫn nhuệ, cái triết rất sâu xa, ta gọi là sự minh triết. Bởi con người Hồ Chí Minh mang phẩm chất  thiên tài, tinh hoa văn hoá, trí tuệ. Sự minh triết  thể hiện nhiều trong lời nói, trong các loại văn bản viết của Người. Trong thơ, thì nhiều nhất ở trong thơ Nhật ký trong tù. Bởi lẽ Nhật ký trong tù là một tác phẩm thơ lớn, nó là sản phẩm của một trí tuệ, tâm hồn vĩ đại được sáng tạo ra trong hoàn cảnh đặc biệt. Đó là hoàn cảnh Bác bị chính quyền Tưởng bắt bớ, giam hãm, tù đầy. Đòi hỏi chủ thể nhà thơ, người chiến sỹ cách mạng ấy phải có sự minh triết; không có sự minh triết, không thể tồn tại, không thể chiến thắng. Sự minh triết giúp con người nhận thức tìm ra chân lý, tìm ra  hướng đi, có cái  nhìn đúng đắn về nhân tâm, thế sự, thời cuộc, phát hiện vấn đề, tìm ra quy luật, bản chất, cội nguồn của sự vật, hiện tượng thiên nhiên, con người, xã hội và về thực tiễn cuộc sống đấu tranh cách mạng. Những minh triết ấy như những viên  kim cương góp lại làm thành hệ tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta đang học tập và thực hiện.
 
5 1
Nguồn internet
 
Đọc thơ Nhật ký trong tù của Bác, ta bắt gặp rất nhiều  triết lý sâu xa. Đầu tiên là triết lý về lẽ sống, niềm tin của Bác. Trong hoàn cảnh bị giam hãm tù đầy, Người ghi nhật ký bằng thơ, bằng thứ ngôn ngữ cô đọng, hàm xúc nhất, rất phù hợp với hoàn cảnh. Sự chọn lựa phong cách ngôn ngữ đó cũng là sự thông tuệ của Người. Bài số 1 như là lời đề tựa: "Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao/ Muốn nên sự nghiệp lớn/ Tinh thần càng phải cao". Bài này, ta thấy Bác quan niệm con người có phần thể xác (thân thể) và phần hồn ( tinh thần), vào tù là vào cái thể xác, còn cái hồn người không không thể bị tù, nó luôn được tự do, không ai có thể giam hãm nó được. Tinh thần của người cách mạng phải luôn tự do, càng phải cao, trong thử  thách khốc liệt. Khi con người đang có chí làm một sự nghiệp lớn cứu nước, cứu dân, muốn thành công thì cái quyết định là nhân tố tinh thần. Đó là  một triết lý sâu xa về lẽ sống của Bác trong suốt thời gian bị giam cầm. Lẽ sống cao cả của Bác đã trở thành lẽ sống chung của toàn thể những người cách mạng và của mỗi con người chúng ta. Bài số 2: Khai quyển, tưởng như chỉ là sự thuyết minh những suy nghĩ của Bác coi cái việc ngâm thơ là để "cho khuây", ngâm thơ để "đợi ngày tự do". Ngâm thơ chứ không nói là làm thơ, ngâm thơ vừa là sự sáng tạo, vừa là sự thưởng thức. Sáng tạo và thưởng thức gắn với nhau thì công việc hiệu quả hơn, giết được thời gian, quên đi khổ đau, để đi tới tự do nhanh chóng hơn. Việc ngâm thơ Người vốn không ham, nhưng vì hoàn cảnh phải chờ tự do nên phải làm. Cái triết lý ấy như là một sự tự nhiên, hợp lý, của sự gặp gỡ  giữa người và việc phải làm trong nhà tù.

Trong thơ Nhật ký trong tù ta bắt gặp nhiều triết lý về sự mâu thuẫn nghịch lý và tương phản đối lập. Nhiều sự vật, sự việc tưởng như bình thường, nhưng từ cái nhìn nhận thấu đáo trong suy nghĩ của Bác, chúng ta thấy được ý nghĩa qua sự lý giải, tường minh đi đến khái quát, kết luận. Như giữa vinh và nhục:" Túc Vinh mà để ta mang nhục"( Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh). Cái mà ai cũng thấy bất ngờ, nơi mà cái vinh đầy đủ nhất mà lại là nơi ta mang nhục: bị cản trở, vu cáo, bắt bớ, đẩy vào tù. Trong bài " Đường đời hiểm trở " lại tập trung vào cái nhìn thế sự, thời cuộc như là một nghịch lý. Người ta đi trên những con đường núi, đường đèo gặp hổ thì vô sự, thế mà đi trên đường bằng, đường phẳng gặp người lại lao đao, khồn đốn, bị tống lao. Đường đường là một đại biểu Việt Nam đi Trung Hoa để yết kiến các nhân vật trọng yếu, thế mà lại bị đưa vào làm " khách quý" trong tù. Hơn nữa:' Ta người ngay thẳng lòng trong trắng/ Lại bị nghi là kẻ Hán gian.". Thật là  bất ngờ, khó khăn, đau đớn vô cùng.

Những triết lý về những mâu thuẫn, nghịch lý đối lập, tương phản, có rất nhiều. Vì Bác là người trong cuộc, đang là một tù nhân, đang phải gánh chịu những đắng cay, tủi nhục, những nỗi vất vả, gian truân, đang trực tiếp đối mặt với cuộc sống, với thế lực đen tối, phản động. Nhưng phải có cái nhìn tinh tường, biết nắm bắt, phát hiện lựa chọn ý, ngôn từ để nói ra bằng thơ. Bài Vấn thoại ( Lời hỏi), giữa hai cực quan toà và phạm nhân để làm sáng tỏ mọi việc chính tà, có tội hoặc không có tội thì phải có:" Công lý đứng làm thần". Nhưng trớ trêu thay nơi Người bị giam cầm vô tội chẳng có thần công lý nào bênh vực cả...

Cũng trên cơ sở triết lý để mà giữ vững niềm tin, niềm lạc quan cách mạng. Trong một buổi sớm nhìn mọi người đua bắt rận, tiếng chuông điểm, ăn bữa sáng, Bác khuyên mọi người cũng là để khuyên mình:" khuyên anh cố gắng ăn no bụng/ Bĩ cực rối ra ắt thái lai." Hay trong bài Trời hửng nhìn sự thay đổi của thiên nhiên, con người, Bác rất vui đã đưa ra một triết lý về quy luật thay đổi:" Người cùng vạn vật đều phơi phới/ Hết khổ là vui vốn lẽ đời". vv...

Như thế, triết lý trong thơ Bác có nhiều, thực chất nó là kết quả của nhận thức duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy của người cách mạng. Không ít những triết lý thành những chân lý lịch sử, chân lý thời đại, phương châm lẽ sống của con người xã hội. Chỉ xin điểm qua một số bài thơ của Người trong Nhật ký trong tù mà những triết lý ấy đã thành minh triết, thành hệ tư tưởng của Người.

Trong đấu tranh giải phóng dân tộc, người cách mạng:"Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ/ Kiên quyết không ngừng thế tiến công/ Lạc nước hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời một tốt cũng thành công." Hoặc: " Tấn công, thoái thủ nên thần tốc"," Tấn công phòng thủ không sơ hở" ( Học đánh cờ). Đây là những triết lý được rút ra từ việc học đánh cờ, nhưng thực chất là bàn về cách mạng giải phóng dân tộc,  chiến tranh chống xâm lược. Người lãnh đạo phải có tầm nhìn chiến lược, chiến thuật, phải giữ vững thế tiến công, phải biết chọn thời cơ, trong chỉ đạo phải chủ động, linh hoạt, sáng tạo mới có thể giành thắng lợi. Trong đấu tranh cách mạng phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, của bạn bè...Khi giặc Nhật, giặc Pháp chúng cấu kết với nhau bắt dân tộc ta làm nô lệ thì phải nhất loạt vùng lên:" Thà chết chẳng cam nô lệ mãi/ Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền"( Việt Nam có báo động). Mặt khác dân tộc việt Nam cũng phải giương cao ngọn cở kháng Nhật, phải đoàn kết với các dân tộc châu Á khác, dù là ngọn cờ nhỏ cũng không thể thiếu:" Cờ to ắt hẳn là nên có/ Cờ nhỏ dù sao thiếu được đâu" ( Ngày 11 tháng 11). Cũng trong bài này, Bác suy nghĩ về kết cục chiến tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc cũng là của Việt Nam:"Trung Hoa kháng chiến sáu năm chày/ Oanh liệt, vang lừng khắp đó đây/ Đến lúc phản công nên cố gắng/ Mặc dù thắng lợi nắm trong tay.".Trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt phải luôn giữ thế tiến công, nuôi chí trả thù nhà, đền nợ nước, bền gan vững chí nhất định đi đến thành công:" Gian khổ không lùi vẫn tiến lên/ Thù nhà nợ nước, nghĩa đương nhiên/ Quyết tâm gắng gỏi và kiên nghị/ Nhất định thành công sẽ có phen."( Đọc lời giáo huấn của ông Tưởng ). Đó chẳng phải là những chân lý lớn về đấu tranh giải phóng dân tộc và chống xâm lược mà Bác đã nêu ra trong thơ Nhật ký trong tù. Trong thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc và kháng chiến chống xâm lược Pháp, Mỹ và các thế lực thù địch chúng ta đã thắng cũng là nhờ những minh triết mà Bác đã nêu trên.

 Trong đấu tranh cách mạng chúng ta cũng phải tranh thủ sự giúp đỡ của ban bè, của các nước. Chuyến đi Trung Quốc lần này, với mục đích của chúng ta là cầu ngoại viện, sự giúp đỡ cần thiết của bên ngoài cho sự nghiệp giải phóng, thì đối với chính quyền Tưởng, Bác cũng phải dùng kế sách để có thể quan hệ tốt với họ. Bác có bất bình, ai oán vì sự giam giữ vô cớ, cách cư xử, cách đoạ đầy của họ, nhưng trước sau Người vẫn giữ thái độ hài hoà, luôn coi họ là bằng hữu:"Tôi, chốn lao tù người bạn hữu/ Anh trong gông xích bọn cừu nhân."( Gửi Nê-ru). Đấy là kế sách, đấy cũng là phương châm sách lược tích cực, phải có sự minh triết mới đạt tới sự thấu lý . Sau nay, khi trở về nước Bác có nói với đồng bào, đồng chí mình về chuyến đi này:" Trong sự rủi lại có cái may. Nhân dịp ở ngoài mà tôi hiểu rõ tình hình thế giới, về chính sách của các hữu bang, trước hết là Trung Quốc.

Nay tôi mang về cho đồng bào, đồng chí món quà cực kỳ quý báu, tức là lòng đồng tình sốt sắng của 450 triệu đồng bào Trung Quốc đối với 25 triệu đồng bào Việt Nam về cái tin Trung Quốc sẽ tích cực giúp đỡ cuộc dân tộc giải phóng của chúng ta."( Thư gửi đồng bào toàn quốc- tháng 10 năm 1944). Cũng trong bức thư này Người đã nêu thời cơ cách mạng đang đến gần:" Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm, hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh.". Kế sách và phương châm thêm bạn bớt thù, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của bầu bạn, của các nước tiến bộ, tất nhiên ở mức độ có thể. Chúng ta đã làm tốt kế sách này trong các giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc, trong kháng chiến chống ngoại xâm và hôm nay, trong công cuộc xây dựng đất nước ta to đẹp và đàng hoàng hơn.

Chúng ta đã xác định giai đoạn phát triển và hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh là từ năm 1941 đến 1969. Những năm Bác bị cầm tù trong nhà tù Tưởng Giới Thạch là những năm đầu tiên của giai đoạn này. Những vấn đề Bác nêu ra trong thơ Nhật ký trong tù về nhiều phương diện khác như đạo đức, văn hoá, giáo dục. Tuy chỉ là những nhận định, đánh giá nhưng nó mang tầm khái quát cao, mang ý nghĩa triết lý lớn. Người khẳng định giáo dục giữ vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách đạo đức con người. Muốn con người có đạo đức, thì giáo dục đạo đức phải đi trước, phải giữ vai trò quyết định, phần nhiều. Lúc nửa đêm, nhìn những người tù ngủ Người đã viết:" Ngủ thì ai cũng như lương thiện/ Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền/ Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên." ( Nửa đêm ). Nghe tiếng giã gạo ngoài nhà tù, Người liên tưởng đến việc thực hành rèn luyện của con người. Muốn có phẩm chất trong sáng, tốt đẹp con người ta phải qua thực hành rèn luyện, Đó là yêu cầu bắt buộc, cũng như gạo kia phải đem vào giã mới trắng trong, thơm ngon: " Gạo đem vào giã bao đau đớn/ Gạo giã xong rồi trắng tựa bông/ Sống ở trên đời người cũng vậy/ Gian nan rèn luyện mới thành công."( Nghe tiếng giã gạo). Người cũng nêu hậu quả của của việc ít giáo dục một con người cụ thể:" Con nhà giầu có, nghèo gia giáo/ Đánh bạc gan trời mật tựa kim/ " Một tấc lên mây" ghê gớm thật/ Ngồi tù mà vẫn ước nhân sâm."( Bạn tù họ Mạc). Người khuyên chân thành một người lính họ Hầu, tên Hải:" Bé thì phải học, lớn thì hành/ Với dân, đảng, nước, dạ trung thành/ Kiệm cần, dũng cảm, và liêm chính/ Chớ phụ ông Lương dạy dỗ mình.". Nội dung của lời dạy ấy chính là nội dung cơ bản lời Bác dạy cán bộ, chiến sỹ chúng ta sau này.

Nhật ký trong tù có thứ " triết lý vô ngôn". Thứ triết lý từ bản thân Người toả ra, được nói bằng chính tư tưởng, hành động, bằng tình thương bao la của Người. Đó là lòng yêu nước, thương dân; là lòng trung thành, tinh thần xả thân vì lý tưởng cao cả, tình cảm quốc tế trong sáng thuỷ chung, tình yêu thiên nhiên tươi đẹp. Tất cả được thể hiện theo thời gian, theo tháng năm, theo giờ khắc, ngày đêm, sáng, trưa, chiều, tối; lúc đi đường, khi trong các nhà ngục, ngắm trăng và cả trong sinh hoạt ăn, ngủ, ốm đau, ghẻ lở...Đạo đức của Người là hiến dâng tất cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Người đã nói:" Ví bằng giúp ích cho dân tộc/ Thu trước thu này, há kém nhau.".  Như nói về sự bình công của người cách mạng, lúc bị tù cũng như lúc hoạt động bên ngoài đều như nhau, cốt là phải tận tâm, trung thành với Đảng với dân. Cái vĩ đại của người cách mạng là:" Núi cao lên đến tận cùng/ Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non." ( Đi đường). Chính đạo đức cách mạng đã làm rạng rỡ con người cách mạng ở tầm cao của giá trị chân thiện mỹ.

Về văn hoá cũng vậy, Người nêu vấn đề đơn giản thành luận lý có tính khái quát cao, trở thành chân lý thời đại. Chỉ là việc đọc và phát biểu cảm tưởng về cuốn "Thiên gia thi"Người viết:" Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp/ Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông/ Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong." Bác đã khẳng định tính chất của thơ ca cách mạng phải mang nội dung cách mạng, nhà thơ cũng phải xác định vị trí chiến đấu, phải có tinh thần xung phong tiến công địch, không sợ hy sinh để chiến thắng quân thù. Trong cuộc đấu tranh cách mạng, các nhà văn, nhà thơ ta đã thực hiện lời Bác, đã tạo ra những trang văn, trang thơ mang tinh thần thép, đã đứng vào vị trí đấu tranh sát cánh cùng dân tộc chống kẻ thù, thực hiên các mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc, hoà bình, thống nhất, tự do, độc lập cho đất nước, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Cuốn Nhật ký trong tù đã đem lại những giá trị lớn về văn hoá. Cũng từ những "triết lý vô ngôn", không thể hiện bằng lời. Chúng ta vẫn rút ra được những giá trị văn hoá từ những tư tưởng, hành động, tình cảm của Người. Các giá trị văn hoá truyền thống như tư tưởng yêu nước đã trở thành triết lý sống, thành đạo lý  thể hiện trong thơ Bác. Trong Nhật ký trong tù, Bác đã thể hiện hành động anh hùng, sự thăng hoa của nhân cách văn hoá, bằng cách sáng tác thơ ca, trong điều kiện cực ký khó khăn. Sáng tác thơ để động viên mình, giữ vững tinh thần chiến đấu thể hiện niềm lạc quan cách mạng, để không ngừng phấn đấu vươn lên đi đến chiến thắng. Thơ là tiếng nói của chủ thể, tiếng thơ của Bác thể hiện sâu nặng tình thương người, lòng trọng nghĩa, trọng ân tình của Bác được nói ra, in đậm trong trí não người đọc, ở nhiều bài, từ đầu tập thơ đến cuối tập thơ.

Như vậy, minh triết Hồ Chí Minh trong thơ Nhật ký trong tù thể hiện ở nhiều mặt, về lẽ sống, niềm tin; về sách lược chống kẻ thù xâm lược, đấu tranh giải phóng dân tộc; về quy luật thiên nhiên, xã hội, cuộc sống con người; về giáo dục, đạo đức, văn hoá... Có những minh triết thành chân lý thời đại, chân lý lịch sử, thành hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thứ minh triết viết bằng lời, có minh triết khái quát bằng thứ " triết lý vô ngôn ", tất cả đều thấm đượm tinh thần nhân văn của dân tộc, của nhân loại toả sáng trong sự nghiệp cách mạng lâu dài và gian khổ của nhân dân ta. Ngày nay chúng ta học tập đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện nước nhà đã hoàn toàn thống nhất, dân ta đã được hưởng quyền độc lập, tự do đang xây dựng đất nước Việt Nam thành nước xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những minh triết trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh đang giúp chúng ta vững vàng tiến bước trên con đường vinh quang mà Người đã chỉ ra. Dù phải trải qua những bước đường gian nan nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, bằng kinh nghiệm và chủ nghĩa anh hùng cách mạng chúng ta nhất định đi tới thành công.
 
CAO THỊNH
 
Tài liệu tham khảo: Hồ Chí Minh toàn tập - Nhật ký trong tù, NXBCTQG, HN, 2004, tr263 - 427.
Vũ Ngọc Khánh: Minh triết Hồ Chí Minh, NXBVH-TT, HN, 1999.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo