Khách mời quán văn: Văn Thành Lê

Thứ bảy - 12/09/2015 07:08
Trực quán số này: Nguyễn Xuân Thủy
Khách văn: Văn Thành Lê

 
Cau chuyen giao duc Van Thanh Le           VĂN THÀNH LÊ
 
- Tên thật là Lê Văn Thành
- Sinh năm 1986 tại Thanh Hóa
- Tốt nghiệp Khoa Sinh học, Đại học Sư phạm Huế
- Hiện là biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Bà Rịa – Vũng Tàu
- Đã xuất bản: Hình như là tình yêu (tập truyện); Con gái tuổi Dần (tập truyện); Trạm điện thoại ở thiên đường (tập truyện); Ông mặt trời và mùi hương của mẹ (truyện vừa thiếu nhi); Biết tới khi nào mưa thôi rơi (tập truyện); Châu lục thứ 7 (tập truyện); Không biết đâu mà lần (truyện dài); Ngày xưa chưa xa (tản văn & thơ).

 Lặng lẽ viết là cách thể hiện ồn ào nhất

 - Ở tập truyện tái bản Biết tới khi nào mưa thôi rơi của anh trên bìa một có dòng chữ “Khi mua cuốn sách này bạn đã ủng hộ 5.000 đồng vào quỹ Trò nghèo vùng cao”. Anh có thể chia sẻ về điều này?
+ Tôi được biết quỹ Trò nghèo vùng cao ra đời năm 2014 với Chủ tịch Hội đồng quản lí Quỹ là TS, nhà báo Trần Đăng Tuấn và Chủ tịch danh dự của Quỹ là GS. Ngô Bảo Châu (tiền thân là Chương trình từ thiện Cơm có thịt do TS, nhà báo Trần Đăng Tuấn khởi xướng vào năm 2011). Quỹ xã hội – từ thiện này thiết thực với việc hỗ trợ học sinh nghèo, chủ yếu ở vùng cao, những nơi đặc biệt khó khăn trong cả nước, để các em có thêm điều kiện học tập, phát triển thể chất và tinh thần. Tôi rất vui khi đơn vị tái bản Biết tới khi nào mưa thôi rơi, Nxb Văn học, có ý tưởng trích 5.000 đồng trên mỗi đầu sách được bán ra thị trường để ủng hộ quỹ Trò nghèo vùng cao. Sách hướng con người ta đến những điều cao đẹp, thật vui khi người viết sách, người làm sách và người đọc sách cùng chung tay góp phần nhân lên những điều tốt đẹp một cách cụ thể, dù đóng góp ấy còn chừng mực, khiêm tốn và nhỏ bé. 

- Đã từng là thầy giáo đứng trên bục giảng chắc hẳn anh luôn quan tâm đến các em học sinh và việc dạy văn, học văn trong nhà trường?
+ Tôi thuộc tuýp người hay để ý vặt. Thích ngó nghiêng và săm soi. Rồi tự “nội soi” mình về những điều mắt thấy tai nghe. Đã từng có thời gian đứng trên bục giảng, nên tôi có để ý, quan tâm nhất định đến chuyện dạy và học, khu biệt hơn nữa là chuyện dạy văn và học văn trong nhà trường. Nhớ lúc còn đi dạy, mặc dù dạy Sinh học, nhưng tôi đã xin dự giờ đồng nghiệp dạy Ngữ văn, để xem cô và trò môn Ngữ văn giờ “làm ăn” như thế nào, khác gì so với thời tôi được học không.

- Và những sáng tác của anh một phần cũng được dành cho chủ đề giáo dục, như cuốn Không biết đâu mà lần mới đây chẳng hạn...
+ Tôi quan niệm, mình nên bắt đầu từ những gì mình “thuộc” nhất. Văn chương nhất thiết cần tưởng tượng, nhưng sự tưởng tượng phải đứng/xuất phát trên nền của cuộc sống, của hiện thực, hoặc đương đại hoặc kí ức đã qua. Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình, có thể gọi là, có truyền thống với nghề giáo, cộng thêm gần 3 năm trực tiếp đứng lớp, vậy nên tôi có kha khá sáng tác về đề tài giáo dục cũng là điều dễ hiểu. Sau những truyện ngắn, thì gần nhất là truyện dài Không biết đâu mà lần đã làm “tiêu hao” kha khá “vốn liếng” của tôi về đề tài này.

- Gần đây, trong những nỗ lực đổi mới dạy văn, học văn trong nhà trường, việc ra đề thi môn Ngữ văn thường gây nhiều tranh cãi, người thì cho là đề mở, người lại cho rằng như thế là tắc tị, đánh đố học sinh, tạo nhiều dư luận khác nhau, thậm chí chính các nhà văn cũng lên tiếng. Chắc hẳn anh cũng ít nhiều theo dõi, từng là thầy giáo tham gia giảng dạy anh nhìn nhận hiện tượng này thế nào?
+ Mục tiêu của môn Ngữ văn ở nhà trường được xác định khá rõ ràng: Một là, giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giao tiếp, trong đó có cả kĩ năng thu thập và xử lí thông tin để triển khai những bài viết hay bài nghiên cứu nhỏ; Hai là, thông qua những tác phẩm văn học đặc sắc, giúp học sinh phát triển năng lực thẩm mĩ, khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu giá trị nhân bản và thân phận của con người; Ba là, giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, đặc biệt là tư duy phản biện, sự tự tin, tính tự lập và tinh thần cộng đồng; Bốn là, trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông về ngôn ngữ và văn học. (Theo PGS. TS Bùi Mạnh Hùng). Vậy mà nhà trường, thầy cô cứ cương quyết gò các em theo một khuôn của những ý chính thế này, ý nghĩa thế kia, khiến các em phải “sinh sản vô tính” ra những bài làm na ná nhau. Vô hình trung, nhà trường đang dạy các em thói quen... đạo văn một cách hồn nhiên. Cách ra đề hướng các em đến việc thoát li văn mẫu nên được khuyến khích. Tuy nhiên, đường hướng là thế, cụ thể với mỗi đề thi lại khác, không phải đề thi nào cũng đáp ứng được, nếu như đội ngũ làm giáo dục không đồng đều. Hơn nữa, phải bắt đầu từ chính năng lực của người dạy, rồi thứ đến là chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy và học, sau cùng mới đến cách kiểm tra chất lượng. Bộ ba xe - pháo - mã này phải đều tay thì mới có thể “chiếu tướng” thành công.

- Nhà văn Bảo Ninh từng nói, đại ý, với mấy chục năm chiến tranh liên miên, mỗi người dân Việt dù ra trận hay không thì đều bị chi phối và tham gia vào cuộc chiến theo cách của họ, như vậy có thể nói mỗi người dân Việt đều có một vết thương chiến tranh của riêng mình. Tác phẩm của anh thường xuất hiện những nhân vật người lính hoặc từng trải qua chiến trận phải chăng cũng là như vậy? Anh có thể chia sẻ thêm...
+ Quả là vậy, trong nhà tôi thôi đã có bác tôi rồi bố tôi từng trực tiếp chiến đấu ở chiến trường B2, trong làng thì vô cùng nhiều người đã đi qua bom đạn chiến tranh. Trong hỗn độn gia tài tuổi thơ, trong ngồn ngộn chất dinh dưỡng “vỗ béo” tâm hồn cho tôi lớn lên, thấp thoáng lúc này lúc khác, khi có chủ đích khi không, là những câu chuyện, là những ám ảnh về tuổi trẻ đi qua chiến trận của bác tôi, bố tôi và những người trong làng. Kí ức ấy lên men rồi được chưng cất ở hình ảnh người lính nào đó trong tác phẩm cũng là cách tôi mong được chia sẻ và mong hiểu được phần nào đó về thế hệ đi trước.

 
van thanh le
“Khác với một Văn Thành Lê man mác nhẹ nhàng mà tôi đã biết, ngòi bút Lê giờ đây dường như cũng đã cùng chủ nhân của nó nếm trải đủ thử thách của cuộc đời để viết nên những trang văn gân guốc và trĩu nặng suy tư, trong đó có cả kinh nghiệm dạn dày, có cả tổn thương mất mát và những phát hiện đôi khi đau đớn đến tưởng chừng không chịu nổi. Những nhân vật của Lê là những nhân vật rất thật, được đặt trong những hoàn cảnh rất thật. Họ là những con người gần gũi quanh ta, họ là chính ta, với những vấn đề tưởng chừng tầm thường nhỏ bé mà thật ra lại lớn, những vấn đề của xã hội hiện tại mà tuổi trẻ đang phải đối mặt ừng phút từng giờ.
Chưa đến ba mươi tuổi, Văn Thành Lê có đủ sự lăn lộn giữa cuộc đời để biết rất nhiều và nói rất thật. Lê viết thật lắm, dám đưa ngòi bút lục lọi xáo xới cả hiện thực ngoài đời lẫn những nỗi niềm nội tâm từng nhân vật. Trang viết của Lê vì thế mà đượm một nỗi buồn, một thứ buồn tỉnh táo và hơi tàn nhẫn, nhưng biết sao được vì sự thực thì bao giờ cũng thế, đòi hỏi người ta phải dũng cảm để đương đầu.”

  Nhà văn TRẦN THÙY MAI

- Anh sẽ ứng xử với đề tài chiến tranh thế nào khi không được đứng trên một “cái nền hiện thực” như viết về nghề giáo?
+ Nếu như tôi đã viết về nghề giáo với tâm thế của người trong cuộc, người được “tắm” trong “cái nền hiện thực”, thì với đề tài chiến tranh, là trong tâm thế “ngắm lại”, thông qua tư liệu sách vở, lời kể của người trong cuộc. Dẫu là “tắm” hay “ngắm” thì vẫn đứng trên nền bột - hiện - thực để gột nên hồ - tác - phẩm. Thế hệ trẻ như chúng tôi không thể, và cũng không muốn, viết về chiến tranh một cách trực diện với những trận đánh đầy bom đạn, lửa khói, vì điều này thế hệ cha anh đã làm, và làm xong rồi. Nhìn theo hướng tích cực, những người trẻ chúng tôi có lợi thế nhất định khi ở vào thời điểm sau chiến tranh với độ lùi vừa đủ để có thể “soi” lại một cách điềm tĩnh hơn. Và nữa, chỉ riêng cái nhìn của người trẻ về chiến tranh, nếu có, một cách nghiêm ngắn đầy ý thức, tự thân nó đã tạo ra giá trị khác với thế hệ đi trước. Chưa kể, văn học không chỉ dừng lại ở anh viết về cái gì, anh kể câu chuyện gì, mà cao hơn nữa là anh viết như thế nào, anh kể câu chuyện như thế nào.

- Tương lai văn học đề tài chiến tranh, hậu chiến tranh sẽ thuộc về những người viết trẻ. Mỗi người sẽ có cách dự phần của riêng mình. Với anh, anh có dự định gì với mảng đề tài này?
+ Dự định là từ chưa đủ độ tin cậy, vậy nên tôi muốn giữ cho riêng mình. Tôi biết rằng, tôi còn nợ rất nhiều những câu chuyện trong chiến tranh của bố tôi và những cựu chiến binh trong làng ngoài làng tôi đã gặp, rồi những câu chuyện lịch sử tôi đã tiếp cận. Mà khi đã nợ, không sớm thì muộn, sẽ phải trả.

- Đọc Văn Thành Lê thấy anh đã có những nỗ lực đưa tiếng cười vào tác phẩm, thứ vẫn cho là còn thiếu với văn học Việt đương đại. Anh nghĩ thế nào về tiếng cười trong tác phẩm, nó chỉ là gia vị hay tham gia vào việc làm nên phong cách của tác giả?
+ Tôi nghĩ là do cái tạng. Tạng tôi thích chọc người khác cười. Kể cả ngoài đời. Rồi nó đi vào trang viết một cách tự nhiên như vậy. Có đau cũng phải cười rồi mới đau, hay để ngăn mình khỏi khóc thì phải há miệng cười. Với tôi, làm được gì đó, nho nhỏ thôi, với chữ nghĩa cũng là vui. Biết bao người, bằng trang văn, đã lấy hết nước mắt của bạn đọc, còn tôi, nếu may mắn mang lại cho ai đó vài nụ cười thì lấy làm mừng rồi. Tiếng cười là gia vị, nhưng người - nấu - chữ nếu biết sử dụng gia vị đúng cách sẽ thành phong cách của riêng mình. Tiếng cười châm biếm, đả kích xã hội đương thời đã tạo nên phong cách văn chương của nhà văn Vũ Trọng Phụng, nhà văn Nguyễn Công Hoan đấy thôi, hay gần hơn là tiếng cười giễu nhại tạo nên văn phong đặc biệt của nhà văn Hồ Anh Thái, nhà văn Vũ Bão...

- Thường người viết ở Việt Nam vẫn có một cái nghề gì đó để mưu sinh và cảm thấy “chắc chân” hơn khi đi trên con đường văn chương bấp bênh. Anh thì đang có nghề nghiệp ổn định lại bỏ ngang để chuyên chú văn chương. Anh cân não nhiều không khi quyết định điều này?
+ Từ “bỏ” nghe có vẻ phũ phàng quá. (Cười). Chính xác là tôi “chuyển ngang” chứ không phải “bỏ ngang”, chuyển từ dạy học sang làm biên tập viên tạp chí văn nghệ. Nghĩa là tôi vẫn đang làm nghề để mưu sinh rồi mới viết văn. Phải sống rồi mới viết. Công việc hiện tại gần với chữ nghĩa hơn, thoải mái hơn, có thể cho tôi thêm những cơ hội mới. Chúng ta đang sống trong một giai đoạn xã hội chuyển giao, bóc tách, vỡ ra nhiều thứ, đầy bấp bênh nhiều thứ, chẳng có gì chắc chắn là ổn định, trong đó có cả nghề dạy học. Ổn định, một cách tương đối, là mình được làm những việc mình thích và sống được, theo cách của mình, với nó, tôi nghĩ vậy.

- Đến nay, sau một khoảng thời gian “văn chương toàn tính”, đến gần hơn với chữ nghĩa anh cảm thấy thế nào?
+ Tôi vẫn đang đi. Chưa đủ dài để ngoảnh lại và tổng kết. Chỉ biết rằng tôi vẫn đang muốn bước tiếp.

- Văn của anh nhè nhẹ, phù hợp với lứa tuổi học trò. Nhưng rồi những bạn đọc học trò của anh sẽ lớn đồng nghĩa với tác giả cần những cuộc chuyển đổi, vượt thoát. Anh có nghĩ mình sẽ phải làm gì đó để tiếp tục được những bạn đọc trưởng thành theo thời gian đồng hành và yêu mến?
+ Tôi đến với văn chương bắt đầu từ những sáng tác dành cho tuổi mới lớn. Đến giờ nghĩ lại, tôi biết ơn những tháng ngày đó, nó đẹp như mối tình đầu tuổi hoa. Sau một vài đầu sách, có nhà văn đáng kính đi trước khuyên tôi, tuổi mới lớn vậy đủ rồi, giờ viết gì cho tuổi hết lớn đi. Tôi hiểu, và đang nỗ lực mỗi ngày. Với Biết tới khi nào mưa thôi rơi, tôi đã lớn hơn một chút, với Không biết đâu mà lần lại lớn hơn chút nữa, và những sáng tác mới đang ấp ủ cho ra mắt cũng mang vóc dáng nỗ lực nhiều hơn như thế nữa.
Tôi may mắn khi những tác phẩm, có thể nói là đầu tay, được một số nhà văn tâm huyết với thế hệ viết trẻ đọc, góp ý và động viên, trong đó có nhà văn Trần Thùy Mai. Vậy nên nhà văn Trần Thùy Mai rõ văn của tôi thuở ấy và văn của tôi bây giờ cũng như chút hành - trình - chữ ngăn ngắn tôi đã qua. Theo thời gian, từ cậu sinh viên ra với cuộc sống đầy bỡ ngỡ rồi dần vỡ ra nhiều thứ, tự thân tôi cũng thấy mình lớn hơn so với chính mình hôm qua, chính mình trước đó. Các sáng tác của tôi theo đó mà thích ứng với nghĩ suy của “thân chủ” nó. Quá trình tôi thích ứng với cuộc sống, những khúc cua, những ngã rẽ, đồng nghĩa với ngòi bút của tôi cũng thích ứng để vượt thoát trên trang giấy.

- Mỗi người viết đều có một cây cầu bắc đến bến văn chương, để từ cái bến ấy họ bước vào lộ trình của chữ nghĩa. Với anh cây cầu ấy là gì?
+ Cây cầu ấy là tạp chí Tài Hoa Trẻ, tập san Áo Trắng, tập san Tuổi Ngọc, báo Mực Tím, báo Phụ Nữ TP. HCM. Đấy là những tờ báo đăng tải các sáng tác thuở ban đầu của tôi, trao cho tôi một vài giải thưởng nho nhỏ, để tôi tin rằng mình có thể viết được văn, dù còn nhiều mơ hồ. Cây cầu ấy, cụ thể hơn nữa, là những lời nhận xét, góp ý cặn kẽ, chia sẻ kinh nghiệm viết quý báu của một số nhà văn, nhà thơ thế hệ đi trước, như: nhà văn Trần Thùy Mai, nhà văn Đoàn Thạch Biền, nhà văn Nguyễn Đông Thức, nhà thơ Nguyễn Liên Châu, nhà văn Hồ Anh Thái, nhà văn Võ Thị Xuân Hà... Họ đã giúp tôi vượt qua những mơ hồ ban đầu.

- Gần đây người ta hay bàn đến sân chơi của người viết trẻ, khi mà họ có vẻ “lép vế”, ít sự hiện diện, ít có tiếng nói trong các hội đoàn. Ngoài việc chơi với trang viết thì họ cần những gì? Theo anh họ có cần đến hội đoàn như một nhu cầu hay chỉ cần lặng lẽ viết và thêm một trang facebook như nhiều người trẻ hiện nay là đủ?
+ Tiếng nói của người viết thể hiện rõ nhất trong tác phẩm của họ chứ không phải ở hội đoàn nào đó. Lặng lẽ viết là cách người viết thể hiện mình ồn ào nhất, hơn bất cứ sự ồn ào nào. Tuy nhiên, ai cũng có nhu cầu chia sẻ, người viết càng vậy, sau và bên những trang viết. Facebook có thể là nơi để mọi người tương tác, chia sẻ với nhau. Và hội đoàn cũng là nơi để chia sẻ. Người viết cần đến hội đoàn như là một nhu cầu khi ở đó họ được gặp gỡ, chia sẻ, trao đổi nghề nghiệp với nhau một cách vui vẻ và ấm áp. Nếu hội đoàn không tạo được không khí như mong mỏi của người viết thì có thể, nói như nhà văn Trang Thế Hy, người viết sẽ “đi chỗ khác chơi”, hoặc tự họ “chơi” với nhau, cũng là điều bình thường và dễ hiểu.

- Ở Bà Rịa – Vũng Tàu có khá nhiều người viết trẻ như anh, Trịnh Sơn, Đoàn Trọng Hải, Hoa Nip... Các anh “chơi” với nhau thế nào? Cá nhân anh mong chờ gì ở tổ chức nghề nghiệp lớn nhất của những người viết cả nước – Hội Nhà văn Việt Nam?
+ Chúng tôi “chơi” với nhau rất thoải mái. Đặc biệt là luôn “sòng phẳng”, thẳng thắn, vô tư trước các sáng tác của nhau. Tôi chưa là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nên có “mong chờ gì” cũng... xa vời quá. Tôi nghĩ, nên để các hội viên của Hội “mong chờ” sẽ hay hơn.

- Cám ơn anh đã chia sẻ!
 


 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 14 trong 3 đánh giá
Xếp hạng: 4.7 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)