Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần cuối)

Thứ năm - 26/01/2017 01:36
chu phoong arial moi copy - Theo chúng tôi, có nhiều cứ liệu để cho nhà nghiên cứu nào đó đủ hiểu biết và tâm huyết để viết riêng một chuyên luận mang tên Hồ Chí Minh, nhà lý luận phê bình nghệ thuật. Với cá nhân mình, chúng tôi chỉ xin đi vào lĩnh vực lý luận phê bình văn học và cũng chỉ dám nói là đây là một vài nét tìm hiểu bước đầu mà thôi.

Sinh thời Hồ Chí Minh không nhận mình là một nhà văn nghệ, chưa nói tới việc Người tự nhận mình là một nhà phê bình văn học. Nhưng qua một sự đọc khá hệ thống chúng tôi lại nhận thấy Hồ Chí Minh là một nhà phê bình có tư tưởng, suốt đời nhất quán trong quan niệm, kiên định trong chính kiến, có vốn hiểu biết văn học, văn hoá sâu rộng, có năng lực cảm thụ để phân tích, kiến giải vấn đề một cách sắc sảo, tinh tế.

Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần 1)
Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần 2)
Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần 3)

5. Một phong cách phê bình.
- Phê bình ngắn gọn, hàm súc, chính xác
Cuối tháng 4-1951 Bác đọc truyện ký “Thửa ruộng vỡ hoang” của tác giả Xuân Trường đăng trên báo Nhân dân đã in 3,4 kỳ rồi mà vẫn chưa hết. Người gửi thư cho Tòa soạn nên góp ý với tác giả viết gọn lại (42). Chưa  nói tới tác phẩm này hay dở thế nào nhưng dài như vậy sẽ làm người đọc khó theo dõi. Hơn nữa thời điểm cả nước đánh giặc, biết bao nhiêu việc phải bàn mà báo lại dành in truyện quá dài như thế là một sự lãng phí. Bác gửi thư cho toà soạn cũng chính là một cách nhắc khéo cần biên tập bài vở cho gọn gàng phù hợp với thực tế.
 
Tác giả Đặng Minh Phương kể Bác Hồ sửa thơ ông Phạm Khắc Hòe:
“Đêm 4-9-1947, trong khi trò chuyện, Bác Hồ nhìn ra cảnh rừng nói với ông Phạm Khắc Hòe: “Gió mát, trăng thanh, trời xanh, rừng lặng, cảnh nên thơ lắm! Chú có cao hứng thì tức cảnh ngay một bài. Nếu không thì đọc vài bài cũ cũng được”.
- Thưa Bác, cháu xin đọc một bài cháu vừa làm trên đường lên đây. Đầu đề là Đường tự do:
Biết bao ngày đợi với chờ mong
Giặc Pháp, từ nay thoát khỏi vòng
Chào đón trên đường hương lúa mới
Tiễn đưa dưới nước ánh trăng vàng
Gió đền Hùng thổi căng lồng ngực
Mắt Bác Hồ soi sáng cõi lòng
Đường tự do con đường đẹp nhất
Trường kỳ kháng chiến ắt thành công.

 
Nghe ông đọc xong, Bác Hồ nói ngay:
-  Khá đấy, ý tốt nhưng lời thì hai câu thứ năm và thứ sáu hơi gò. Và Bác hỏi: “Khi bị kẹt trong vùng địch chú có làm thơ không?”
-  Dạ thưa Bác, có, cháu xin đọc bài Câu cá gỗ:
Hỏa Lò Tây đến rước ông ra
Hỏi dẫn đi đâu chẳng biết mà
Cất cành Gia Lâm trời đất cũ
Đặt chân Sơn Nhất nước non nhà
Vai tù muốn đổi ra vai tướng
Chước quỷ không thành lại chước ma
Ba tháng công toi câu cá gỗ
Hồ Gươm Tây lại thả ông ra.

Ông vừa dứt lời thì Bác cười và nói:
- Mình thích bài này hơn bài trước nhiều, nhưng phải sửa một chữ.

Sau một lát suy nghĩ ông Hòe hỏi:
- Thưa Bác cần sửa chữ nào xin Bác chỉ giáo cho, cháu nghĩ mãi không ra.
- Chú cứ suy nghĩ đi thế nào qua một đêm chú sẽ nghĩ ra mà!”.

Qua một đêm mà ông chưa nghĩ ra, đành phải hỏi Bác:
- Câu cuối cùng phải thay thế chữ “ông” bằng chữ “tau” thì mới đúng là câu cá gỗ” (43). Trở lại với bài thơ đầu chúng ta dễ thấy Bác nhận xét câu 5 và 6 “hơi gò” là chính xác vì sáo, khoa trương, ý tứ lộ. Còn bài thơ sau thì quả là phải là dân “cá gỗ” thì mới dùng đúng chữ “tau” ngộ nghĩnh, đầy cá tính.

Tháng 3-1930, tại nước Xiêm, cụ Tài Ngôn giới thiệu với Thầu Chín (Bác Hồ) một câu đối: “Cha ông đâu, sông núi nơi đâu? Đất lạ tháng ngày trơ mặt bạc/ Anh em hỡi, đồng bào ta hỡi! Thù chung non nước tạc lòng son”. Ý cụ Tài Ngôn là chê những người giàu có là Việt Kiều mà khi quyên góp chẳng được bao nhiêu (trơ mặt bạc). Thầu Chín nói ngay: “Chắc anh lại đả kích ông X chứ gì. Người ta chưa giác ngộ một phần cũng do ta chứ. Đã là đồng bào, đã mất nước thì ai cũng thẹn mặt cả. Nên đổi là “Đất lạ tháng ngày thẹn mặt”. Câu sau cũng nên đổi “Thù chung non nước ghi lòng” (44). Rõ ràng sự chữa của Thầu Chín nâng tầm ý nghĩa khác hẳn, nhân ái, đoàn kết, bao dung. Không có sự tinh tế nghệ sỹ, không có tấm lòng yêu nước sẽ không có cách dùng từ như thế.

Nhà thơ Tiêu Tam (Trung Quốc) kể, ngày 1-6-1960 Tiêu Tam được mời đến gặp Bác Hồ. Nhà thơ khoe mới làm được bài thơ Phú vịnh Hạ Long. Khi Tiêu Tam hỏi ý kiến Cụ, Cụ Hồ đã chữa câu “Thủy liên thủy, Thủy liên sơn” thành “Sơn liên thủy, Thủy liên sơn”. Tiêu Tam chữa tiếp thành “Thủy liên thiên”. Cụ Hồ vui vẻ khen “Hay!”. Cuối cùng đã thành bản chính thức: “Sơn liên thủy, Thủy liên thiên, Sơn thủy thiên địa đại đoàn viên” (45). Đúng là chữa “Thủy liên thủy” thành “Sơn liên thủy” thì không gian hình ảnh thơ được mở rộng hơn, tình thơ lai láng hơn, ý thơ sâu sắc hơn.

Thời gian sống ở Việt Bắc, một hôm thấy anh Bình (cán bộ giúp việc) ngồi viết, Bác hỏi: “- Chú viết gì?”. “- Thưa Bác, cháu đang làm thơ tả về túp lều tranh”. Bác bảo anh Bình đọc:
“Một túp lều tranh vách đá rêu
Trên dòng khe nhỏ nước vui reo.
Nắng xuyên cành lá tung hoa nắng,
Cây ngập sườn non lấp lối vào.
Chim hót trong rừng cây bát ngát
Gió lùa cùng những đoá hoa reo..”

Nghe xong Bác hỏi về hai câu kết. Anh Bình nói:
- Thưa Bác, khó quá, cháu chưa nghĩ được.

Bác nói:
 - Vậy chú ghi tiếp vào: “Vì chưng công việc còn bề bộn/ Đâu dám nghêu ngao sớm lại chiều” (46). Như vậy Bác đã đưa hình ảnh con người vào thơ, vì 6 câu trên mới toàn hình ảnh Việt Bắc: túp lều, vách đá, cành lá, nắng, cây, sườn núi, rừng cây, chim, hoa...Phần trước bài thơ mới là cảnh, có hai câu sau mới thêm tình.

Có một lần Người nói về kinh nghiệm làm thơ sao cho hàm súc, kiệm chữ mà lời vẫn có độ dư ba: “- Làm thơ cũng như dịch thơ, phải biết chọn lọc chữ nghĩa và biết tiết kiệm lời. Như trong tập Thiên gia thi có bài thơ:
Thanh minh thời tiết vũ phồn phồn
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn
Tá vấn: tửu gia hà xứ hữu?
Mục đồng giao chỉ Hạnh hoa thôn.

Bài thơ của Đỗ Mục (803-853) tự Mục Chi, thời Vãn Đường có nhiều tiếng thừa, ta có thể bỏ bớt, ý thơ vẫn rõ. Câu đầu nên bỏ hai chữ thanh minh, chỉ để Thời tiết vũ phồn phồn cũng đã nói lên được cảnh trời mưa lất phất đường trơn, không chỉ bó hẹp trong tiết thanh minh. Câu hai, chỉ cần để Hành nhân dục đoạn hồnHành nhân là khách đi đường rồi, cần gì phải Lộ thượng nữa.Thừa. Câu ba, cứ hỏi Tửu gia hà xứ hữu? Thì người ta cũng đã biết là Hành nhân hỏi, việc gì còn phải Tá vấn (xin hỏi) nữa. Tiếp đó Giao chỉ Hạnh hoa thôn đã đủ biết có người trả lời, cứ gì Mục đồng? Nếu bớt được những tiếng không cần thiết thì ý thơ còn rộng lớn, bao quát hơn nhiều...Làm thơ phải biết tiết kiệm lời đúng mức. Đừng dùng thừa chữ. Cũng đừng dùng quá bủn xỉn, khiến bài thơ đọc lên, người nghe không hiểu gì cả.

...Làm thơ phải biết chọn được cái đẹp đưa vào thơ nhưng nhất thiết trong thơ phải có chất chiến đấu” (47). Sự phân tích trên cho thấy một sự hiểu sâu về đặc trưng của thể loại thơ, một năng lực cảm thụ tinh tế, sâu sắc về hình ảnh, tình thơ, ý thơ. Có lẽ nên hiểu “chất chiến đấu” ở đây là bản lĩnh, là tinh thần vượt lên trên ngoại cảnh để làm chủ hoàn cảnh.
- Một năng lực cảm thụ tinh tế mà hóm hỉnh

Trong hồi ký Vào núi gặp lãnh tụ (Trương Nam Hiến kể Lâm Ngọc Thụ ghi) kể một tác giả làm thơ, có câu: “Lửa thiêu củi mục ù ù cháy” có ý ví lửa như đoàn thể Việt Minh, nhân dân đang u mê như củi mục nhưng gặp lửa vẫn cứ cháy...”. Nghe xong Bác cười: “- Hay đấy, nhưng không được ví dân như củi mục. Nhân dân ta có nhiều người tài giỏi gấp trăm nghìn lần chúng ta, nên sửa lại...” (48). Chỉ một câu nói ngắn mà chứa bao ý nghĩa: yêu thương, quý trọng nhân dân; năng lực phát hiện vấn đề nhanh nhạy, sắc sảo.

Chúng tôi xin dẫn lời phê bình của Bác về lĩnh vực sân khấu, nhưng về bản chất vẫn là phê bình văn học, phê bình kịch bản văn học. Câu chuyện do nghệ sỹ Nguyễn Kiểm kể. Hôm ấy nghệ sỹ đọc tấu bài chòi Bế Văn Đàn:
…Bốn bên bom súng nổ vang
Nghĩ thân giá súng anh Đàn thương thay
Đạn trúng vào bụng, ngực, chân, tay
Nhưng Đàn giữ vững không lay chút nào…

 
Đoạn này tôi diễn khá thuần thục, kết thúc bài, tôi cúi chào. Tiếng vỗ tay vang lên. Bỗng Bác vẫy tay gọi:
- Này chú Kiểm chòi Khu V!
Tôi bước nhanh tới gần, Bác âu yếm nói:
- Tại sao đoạn chiến đấu quyết liệt ấy mà Đàn lắc người nhiều thế?
Tôi tự tin trả lời;
- Thưa Bác, cháu tả anh Đàn tránh đạn giặc ạ!
Bác cười rất vui và nói:
- Đã tránh sao hy sinh? Tránh như vậy hóa ra tránh dở!
Bác nói giọng khẳng định:
- Lúc ấy “Bế Văn Đàn quyết tử” đúng không?
- Thưa Bác, đúng ạ!
- Vì “Đàn nguyện lấy thân làm giá súng” để thu hút hỏa lực địch, mở đường cho đồng đội tiến công! Đúng không?
- Thưa Bác, đúng ạ! Tôi thấm thía, dạ lia lịa.

Bác nói tiếp: - Vậy thì đừng tránh nữa nhé. “Đàn giữ vững không lay chút nào kia mà!”
Tôi sung sướng trả lời: “- Thưa Bác, cháu hiểu ạ!” (49).Ví dụ này cho thấy diễn xuất của nghệ sỹ phải phù hợp, nhuyễn với kịch bản. Cơ bản nhất là sự sáng tạo của nghệ sỹ phải lôgich với chân lý cuộc sống.

Nghệ sỹ Nguyễn Thị Thậm kể khi hát bài Tích cực cấy chiêm của Tô Vũ: “...khi tôi hát đến đoạn Một trăm cân mỗi sào, Bác sửa luôn: Nghìn cân mỗi sào chứ, không thể một trăm cân được”. “Bác rất thích nghe những bài hát dân ca, hát ví, nhất là ru con. Tôi hát bài Ru con Nam bộ và một bài chèo Chung một cảnh nghèo theo điệu “duyên phận phải chiều”. Nghe xong Bác cười vui và nói:
- Xưa mới sống chung trong ảnh nghèo, nay phải hát làm sao cho mọi người sống  trong cảnh no đủ và hạnh phúc.

Chị Vũ Thị Tý hát tiếp các điệu hát ví và ru con trong vở Vẹn cả đôi đường, tác giả Xuân Bình. Trong bài hát có đoạn: “Yêu anh mũ cứng sao vàng/ Ngày đêm giữ vẹn xóm làng yên vui!”. Nghe xong Bác lại cười và nói: “- Bộ đội có mũ cứng mũ mềm, nay lại có cả mũ kêpi nữa, sao lại chỉ yêu anh mũ cứng. Bác sửa lại thế này có được không?
Yêu anh mũ đính sao vàng
Tới đoạn tôi hát ru con:
Mẹ no thóc gạo, con no sữa đầy...
Bác lại bảo:
- Để Bác chữa thế này cháu có hát được không nhá!
Mẹ no thóc đủ, con no sữa đầy...
Sau khi tôi hát lại theo câu Bác góp ý, Bác lại vui vẻ nói:
 - Báo với tác giả là Bác không đòi tiền nhuận bút đâu nhé!” (50).

Quả là không có vốn hiểu biết sâu rộng về cuộc sống, sự tinh tế trong cảm nhận, không thể có những nhận xét đích đáng như thế.

Nhà thơ Anh Thơ kể, có một buổi, Bác Hồ đến cơ quan phụ nữ Trung ương. Cơ quan chỉ có nhà thơ và chị Liên đón Bác. “Chị Liên giới thiệu tôi, Bác nhìn tôi một phút, rồi nói:
- Bài thơ Lòng mẹ Bác đọc, biết đích thực là ngòi bút con gái, chứ không phải ngòi bút con trai giả danh.
Mọi người đều bật cười...

Đoạn Bác nhìn tôi:
- Thơ cháu đi được vào tình cảm lớn rộng của chị em như thế là tốt; nhưng nên viết ngắn, gọn hơn để chị em dễ nhớ” (51). Ở cương vị Chủ tịch Nước phải lo biết bao việc lớn thế mà vẫn để thời giờ để đọc thơ, mà lại đọc kỹ, đọc sâu thì trên trái đất này chỉ có Hồ Chí Minh!

Rất nhiều người thuộc lời phê bình thơ Huy Cận dưới hình thức bài thơ của Bác Hồ. Chính Huy Cận kể: “Năm 1963 tôi tặng tập thơ Bài thơ cuộc đời. Bác gửi lời bình:
Cảm ơn chú biếu Bác quyển thơ
Bác xem quyển thơ suốt mấy giờ
Muốn Bác phê bình, khó nói nhỉ!
Bài hay chen lẫn với bài vừa” (52).

Một lối phê bình vui, hóm hỉnh, thân ái và cũng rất “nghề nghiệp”!
Bản thân Hồ Chí Minh là một nhà thơ kiệt xuất, từ góc nhìn lý thuyết trò chơi, chúng ta thấy có khi Người phê bình thơ theo lối “chơi thể loại”, cũng là một cách giải trí rất trí tuệ, lại tạo ra tiếng cười hài hước, hóm hỉnh. Một lần nói chuyện về thơ, Người hài hước nói: “Thơ có thể sửa cho béo, có thể gọt cho gầy. Như bài thơ sau:
Cửu hạn phùng cam vũ
Tha hương ngộ cố tri
Động phòng hoa chúc dạ
Kim bảng đề danh thì
(Nghĩa: Nắng lâu gặp cơn mưa/ Gặp bạn thân trên đất khách quê người/ Đêm động phòng hoa chúc/ Có tên trong bảng vàng).

Nếu chú cho đó là gầy thì sửa cho béo:
Thập niên cửu hạn phùng cam vũ (thêm Thập niên)
Thiên lý tha hương ngộ cố tri (thêm Thiên lý)
Hòa thượng động phòng hoa chúc dạ (thêm Hòa thượng)
Nạp nho kim bảng đề danh thì (thêm Nạp nho) (53).

Đây là câu chuyện Bác phê bình vở chèo cổ:
 “Bác Hồ đi lại mấy bước, rồi Bác cất tiếng đọc rõ từng câu, từng tiếng:
"Một đôi Sơn Bá - Anh Đài
Chữ tình đáng trọng. Chữ tài đáng thương
Chỉ vì ông già dở dở ương ương...
(Bác dừng lại chỉ tay vào mặt chị Hồng Liên là người đóng vai Chúc công, bố Chúc Anh Đài).
Làm cho đôi lứa uyên ương không thành....
Bác ngừng đọc, đi đi lại lại. Rồi Bác cất cao tiếng hơn, một tay Bác nắm chặt giơ lên, nghiêm nghị nói tiếp:
Đánh cho phong kiến tan tành
Cho bao nhiêu Anh Đài - Sơn Bá sẽ được thành lứa đôi...

Những câu thơ đó chúng tôi chỉ được nghe có một lần giữa lúc tâm trạng vui sướng rộn ràng như vậy, thế mà mọi người đều nhớ ngay... - Chị Ái Liên kể - Đối với riêng tôi, hơn mười lăm năm qua rồi, mà tôi tưởng như vẫn đang nhìn thấy Bác khi đó, đang nghe tiếng Bác sang sảng bên tai. Bởi vì qua mấy câu thơ đọc ngay buổi đó, Bác đã dạy chúng tôi rất nhiều về nghề nghiệp, về cách xử lý đúng nhất đối với một vở diễn. Trước đây khi dựng, khi diễn vở Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, chúng tôi đi sâu nhiều vào hoàn cảnh éo le của đôi trai gái để gây lòng thương xót, cảm thông của người xem, qua đó tố cáo chế độ phong kiến dã man độc ác, bóp nghẹt quyền sống của con người. Bây giờ Bác dạy chúng tôi phải nâng cao ý nghĩa đó hơn - phải hành động. Phải "Đánh cho phóng kiến tan tành..."! (54).
- Một vốn sống dồi dào, một trí tuệ sắc sẳo, ứng đối tài tình

Đồng chí Hoàng Đức Triều kể (Triều Ân ghi - Bác về lại Lam Sơn) “Một đêm  trăng sáng. Đồng chí Ông Ké cùng sáu đồng chí và tôi đi tắm đêm. Trông thấy bóng trăng sáng vằng vặc trong lòng suối, đồng chí Ông Ké nói:
- Tôi có một câu đối. Ai đối được tôi gả con gái cho:
Đồng chí Ông Ké liền thong thả đọc vế đối:
“Nguyệt chiếu khê tâm, tâm chiếu nguyệt”
“Nghĩa là: Mặt trăng dọi xuống lòng khe, lòng soi lên trăng).
Ai cũng cố nghĩ lấy một câu đối. Riêng đồng chí Hường đọc câu đối của mình:
“Hoa sinh thạch diện, diện sinh hoa”
“Nghĩa là: Hoa nở trên mặt đá, mặt nở hoa”
Đồng chí Ông Ké thốt lên vui vẻ:
- Ối, thế ra mặt rỗ rồi! (nguyên tiếng Quảng Đông nói “mìn phá” (diện hoa) có nghĩa là mặt rỗ)
Mọi người cùng phá lên cười vui vẻ.

Nghĩ thấy vế đối của đồng chí Ông Ké ra, lời lẽ thanh tao, ý tứ sâu sắc, nhân nhìn trước mặt có cái động núi đẹp đẽ, lúc trẻ tôi vẫn thường cùng bạn bè vào chơi, hét lên một tiếng có ngàn tiếng vang vọng lại. Tôi bèn nói:
- Tôi xin có một vế đối, và đọc:
- “Lôi minh không cốc, cốc minh lôi”
(Có nghĩa là: sấm gọi hang khoáng đạt rộng rãi, hang gọi sấm).
Đồng chí Ông Ké khen:
- Đối được! Nhưng đồng chí không làm rể mình được, vì đồng chí chỉ kém mình mười tuổi, lại đã có gia đình.
Mọi người lại cười ồ vui vẻ...”(55).

Đồng chí Đặng Văn Cáp  nhớ lại trong Con đường dẫn tôi đến với Bác: “…Cuộc sống của Bác bao giờ cũng giản dị vui tươi, Bác làm từ việc lớn như lãnh đạo cách mạng đến việc bình thường nhất như xay bột, giã gạo, vác gỗ…

Có lần Bác đang cặm cụi trồng cây khoai môn trước cửa nhà, thấy chúng tôi vào, Bác liền cười nói:
- “Trồng môn trước cửa”, thử đối lại xem?

Câu đối khá hóc búa vì “môn” tức là cửa, làm thế nào chọn được vế kia cho chọi. Tôi nghĩ ngay đến chữ “ốc” là nhà, bèn đối:
- Bắt ốc sau nhà!
- Tạm cho được!

Bác lại cười một cách vui vẻ” (56).
- Một lối phê bình khen chê đứng mực

Chúng tôi nhận thấy Thư trả lời ông H. (Thượng Huyền) – 1925 Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra một mẫu mực phê bình tác phẩm. Ví dụ Người phê bình “Ông cho rằng từ ngữ "cách mệnh" lấy ở trong Kinh Dịch. Có lẽ không đúng. Song tôi cũng không dám khẳng định. Nhưng tôi không tin rằng khi dùng từ ngữ cách mệnh, người Trung Quốc đã mượn từ ấy của Kinh Dịch, mà họ dịch từ tiếng phương Tây. Những từ ngữ "Cải cách", "Kinh tế", "Độc lập", "Xã hội" cũng được tạo ra như vậy ở Trung Quốc.

...Găngđi là một nhà cải cách chứ không phải là một nhà cách mệnh. Ông Găngđi đòi Chính phủ Anh tiến hành những cải cách về thể chế ở trong nước, nhưng ông không cổ vũ nhân dân ấn Độ nổi lên giành lại độc lập, và ông cũng không bao giờ đòi người Anh thực hiện những thay đổi toàn bộ trong Chính phủ ấn Độ. Và chỉ khi người Anh đã bác bỏ mọi yêu cầu của ông thì ông mới chủ trương tẩy chay (Tẩy chay là một hành động chứ không phải là một đảng). Ở Ấn Độ có Đảng Quốc đại; Găngđi là một trong những nhà lãnh đạo của Đảng chứ không phải là người sáng lập Đảng...”. 

Sau này Bác Hồ có nói về cách phê bình.
“…khen hay chê đều phải đúng mức. Khen quá lời thì người được khen cũng hổ ngươi. Mà chê quá đáng thì người bị chê cũng khó tiếp thụ” (57).  
“…Hướng dẫn khen, phê bình phải cho đúng đắn, có cái phải nghiêm khắc. Khe chê phải đúng mức. Khen, nhưng khen quá lời, “suy tôn” người được khen thì chính người được khen xấu hổ. Đập nhưng đập bậy thì người ta không phục…Văn chương phải hùng hồn, tình cảm phải sâu sắc, lý lẽ cho đích xác…” (58).

Học lại lý luận, phê bình văn học của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, theo chúng tôi là rất có ích cho lý luận phê bình văn học hôm nay.

N.T.T
-------

(42). Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử. Nxb Chính trị Quốc gia,  tập 5, tr 40).
(43). Nhiều tác giả - Bác Hồ ở Việt Bắc – Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, tr 569.
(44). T.S Nguyễn Văn Khoan, T.S Mạc Văn Trọng - Bác Hồ dạy chúng ta nói và viết. Nxb Công an Nhân dân, 2004, tr 152).
(45). Đặng Quang Huy (biên soạn) - Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc Nxb Chính trị Quốc gia, 2012. tr 103). 
(46). Nhiều tác giả- Bác Hồ trong trái tim các nhà ngoại giao – Nxb Chính trị Quốc gia, 1999. tr 167). 
(47). Nhiều tác giả - Bác Hồ, Hội văn nghệ Cao Bằng 1990. tr 262).
(48). Nhiều tác giả - Bác Hồ, Hội văn nghệ Cao Bằng 1990. tr 224). 
(49). Nhiều tác giả- Bác Hồ với nghệ thuật sân khấu. Viện Sân khấu, 1990.tr 143). 
(50). Nhiều tác giả- Bác Hồ với nghệ thuật sân khấu. Viện Sân khấu, 1990, tr 88, 91).
(51). Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh, Nxb Hội Nhà văn, 2010,Tập 1, tr 109).
(52). Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ, văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh, tập 4. Nxb Hội Nhà văn, 2012, tr 13). 
(53). Đặng Quang Huy (biên soạn) - Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc Nxb Chính trị Quốc gia, 2012.tr 95). 
(54). Ái Liên kể- Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh, Nxb Hội Nhà văn, 2010,Tập 1, tr 339)
(55). Nhiều tác giả - Bác Hồ, Hội văn nghệ Cao Bằng 1990. tr 259).
(56). Nhiều tác giả - Bác Hồ, Hội văn nghệ Cao Bằng 1990.tr 55).
(57). Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử. Nxb Chính trị Quốc gia,  tập 8,  tr 317).
(58). Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử. Nxb Chính trị Quốc gia,  tập 8,  tr 304).
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo