Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần 3)

Chủ nhật - 22/01/2017 20:25
chu phoong arial moi copy - Theo chúng tôi, có nhiều cứ liệu để cho nhà nghiên cứu nào đó đủ hiểu biết và tâm huyết để viết riêng một chuyên luận mang tên Hồ Chí Minh, nhà lý luận phê bình nghệ thuật. Với cá nhân mình, chúng tôi chỉ xin đi vào lĩnh vực lý luận phê bình văn học và cũng chỉ dám nói là đây là một vài nét tìm hiểu bước đầu mà thôi.

Sinh thời Hồ Chí Minh không nhận mình là một nhà văn nghệ, chưa nói tới việc Người tự nhận mình là một nhà phê bình văn học. Nhưng qua một sự đọc khá hệ thống chúng tôi lại nhận thấy Hồ Chí Minh là một nhà phê bình có tư tưởng, suốt đời nhất quán trong quan niệm, kiên định trong chính kiến, có vốn hiểu biết văn học, văn hoá sâu rộng, có năng lực cảm thụ để phân tích, kiến giải vấn đề một cách sắc sảo, tinh tế.

Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần 1)
Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần 2)

3. Quan niệm về tiếp nhận văn học.
Chúng tôi xin chứng minh quan niệm về tiếp nhận văn hoá nước ngoài qua cách ứng xử của Người khi sang thăm Pháp năm 1946: 
“Chúng tôi đi chơi rừng Bulônhơ nổi tiếng. Tướng Tetit còn mời Bác đi coi các vũ nữ nhảy điệu Cancan ở Pôli Bécgierơ, một rạp tạp kỹ lừng danh, được cả thế giới biết đến. Nhìn các vũ nữ đẹp, khá hở hang, nhảy múa uyển chuyển, Bác cười vui, chứ không chê bai, kể cả khi đã về tới nhà. Rất dân tộc, Bác biết cái đẹp của dân tộc khác, không bao giờ lấy mình ra làm thước đo” (26).

Phải là người hiểu sâu, biết rộng, tôn trọng bản sắc văn hoá mỗi nước mới có thái độ khách quan, vô tư như vậy. Điều gì đã giúp Người có cách ứng xử văn hoá cao như vậy? Đó chính là tinh thần yêu hoà bình, yêu nhân loại, yêu các dân tộc khác cũng như yêu dân tộc mình. Mà một biểu hiện rõ là trong lần đi Bác thăm Ấn Độ tháng 2-1958. Theo phong tục, đại biểu các tầng lớp nhân dân Ấn Độ đều lần lượt choàng những dải hoa tươi lên cổ các vị khách quý để tỏ lòng kính trọng và hiếu khách. Nhiều vị khách nước ngoài trước phong tục này thường nhận hoa rồi đưa cho cán bộ lễ tân nhưng Bác Hồ đã nhận tất cả để cho từng người choàng những dải hoa lên cổ mình mà không gỡ ra. Khi Bác nhận tấm thảm len khá lớn do bà A-ru-na thay mặt nhân dân Thủ đô trao tặng. Tưởng rằng Bác chỉ nhận tượng trưng nhưng Bác nói: “Quà của tôi, tôi phải tự nhận lấy” và Bác vác tấm thảm đó lên vai. Người nói: “Tôi vác cả tình cảm nhân dân Ấn Độ trên vai” (27).
 
Thái độ trân trọng cái đẹp, tinh thần yêu hoà bình, yêu con người như vậy là tiền đề để Bác Hồ có một quan niệm tiếp nhận văn học tiến bộ, biện chứng.
 
Như vậy cơ sở để hình thành một quan niệm tiếp nhận văn học ở Người là văn học phải vì con người, lấy hạnh phúc con người làm thước đo. Ngày 2-3-1959 Bác đến Băng Đung, đến thăm trụ sở Hội nghị Á Phi, Bác nói với cán bộ phiên dịch: “Đến vào lúc nắng nóng, nhân dân thành phố chắc chờ đón từ sớm, ông thị trưởng lại có diễn văn, nên Bác chỉ nói vài lời. Nói dài, người nghe thấy mệt” (Nhiều tác giả- Bác Hồ trong trái tim các nhà ngoại giao – Nxb Chính trị Quốc gia, 1999. tr 220). Nhà thơ Bảo Định Giang kể, năm 1964, trong một lần tổ chức văn nghệ, nhà thơ báo cáo với Bác sẽ tổ chức dài hai tiếng rưỡi. “Bác nhìn tôi vẻ kinh ngạc, Bác hỏi: "Vì sao chú kéo dài thời gian đến thế? Mấy chú tham quá, nghệ thuật dù hay đến đâu, nhưng kéo dài quá, người xem sẽ chán!"(28).  
 
Là một nhà thơ, như một lẽ tự nhiên Người cũng có nhu cầu đi tìm “tri âm” để chia sẻ, để cùng ngâm ngợi, cùng tâm đắc một ý thơ, một tình thơ. Một hôm Bác hỏi Tố Hữu có biết chữ Hán không. Tố Hữu thưa không. Bác nói: “Vậy thì chú ngồi đây Bác đọc cho nghe”. Đọc mấy bài thơ của mình, Bác nói: “Bác làm thơ, cũng cần có người đọc để cho nghe chứ” (29). Điều này lại cho thấy Hồ Chí Minh cũng là một nhà thơ bình thường như bao nhà thơ khác, hoà đồng vào quần chúng, dân giã và hồn nhiên. Nhưng trong tiếp nhận Người yêu cao sự chính xác, thế nên có lần đoàn chuyên gia nước ngoài vào chúc Tết, vì có nhiều khách nói bằng nhiều thứ tiếng nên Bác tự dịch.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói đến đâu, Bác dịch đến đấy, bằng các tiếng Nga, Hán, Anh, Pháp… Không khí thêm chan hòa, thắm tình hữu nghị. Sau buổi tiếp, Bác bảo, dịch không phải dễ đâu, tiếng nói là phải chính xác. Bác kể có đồng chí phiên dịch đã dịch câu: “Chúc Hồ Chủ tịch mạnh khỏe sống lâu” thành “Chúc Hồ Chủ tịch bách niên giai lão!”, vốn dùng để chúc cô dâu chú rể trong đám cưới (30).

Nhưng cũng chính Người lại rất cầu thị chủ động tiếp nhận ý kiến phê bình của bạn đọc để sửa cho văn bản hay hơn, ý nghĩa hơn. Một lần Bác hỏi ý kiến một cán bộ về một bài báo. Người cán bộ khen hay. Bác nói: “Không phải để chú nói hay, ý Bác hỏi chú có ý kiến gì để sửa chữa”. Người cán bộ nói: “- Thưa Bác, hai chữ Nam Việt có nên sửa thành miền Nam Việt Nam không, vì như thế càng tỏ rõ Việt Nam là một nước thống nhất”. “- Ý kiến này hay, thế thì sửa lại thành “miền Nam Việt Nam”. Đấy, có người góp ý thêm là tốt” (31).
 
4. Quan niệm về truyền thống và đổi mới; kế thừa và cách tân.
a. Về truyền thống và đổi mới
Đại hội Văn nghệ lần thứ hai (1957) được hân hạnh Hồ Chủ tịch đến thăm. Đại hội cử ông Hội trưởng và tôi, nhà văn cao tuổi nhất, đón tiếp Bác. Lúc vào phòng đón tiếp, Bác hỏi ngay: “Việc khai thác vốn cũ dân tộc, các cụ đã làm đến đâu rồi?”. Chúng tôi trình: “Chúng tôi đang cố gắng”. Bác nói: “Nên làm nhanh. Có trước mới có sau. Có cũ mới có mới, nhưng chúng ta không nên nệ cổ. Bây giờ là thời đại cách mạng, phải nhanh, phải cải cách”(32).
 
Trong một lần nói chuyện Người nói với nhà báo I. Phabe (Đức): “…Những người cộng sản chúng ta phải rất quý trọng cổ điển. Có nhiều dòng suối tiến bộ chảy từ ngọn núi cổ điển đó. Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông…” (33). Câu nói này hoàn toàn thống nhất với lời căn dặn tha thiết, nặng tâm huyết mà đầy tinh thần khoa học của Người về nghệ thuật tuồng cho nghệ sỹ Nguyễn Nho Tuý: “- Nghệ thuật của cha ông hay lắm, tốt lắm! Cố mà giữ gìn. Nhưng chớ có gieo vừng ra ngô” (34). Phải giữ cho được cái bản sắc nghệ thuật, đồng thời lại phải phát huy, phát triển làm cho nó tươi mới hơn, phù hợp hơn với thời đại mới. Đó là hai mặt biện chứng của một vấn đề mà Bác yêu cầu.
 
Bác Hồ rất yêu, quý trọng văn học cổ điển, coi đó là cái vốn, trên cơ sở đó mà sáng tạo. Người mong muốn thế hệ đi sau cũng phải như vậy. Câu chuyện của nhà điện ảnh Phạm Văn Khoa kể lại càng cho thấy rõ điều này. Một lần Bác hỏi: “Chú Khoa làm công tác văn nghệ có thuộc Chinh phụ ngâm không? Tôi trả lời: Thưa Bác, cháu thuộc từng đoạn thôi ạ!
 
Bác bảo tôi: Làm công tác văn nghệ mà không tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được đâu”. Và từ hôm ấy trong khi đi đường, mỗi buổi sáng, Bác dạy tôi bốn câu trong Chinh phụ ngâm, buổi chiều Bác bảo tôi đọc lại, rồi Bác lại dạy tôi bốn câu tiếp. Cứ thế trong mấy chục ngày đi bộ, Bác dạy tôi thuộc lòng cuốn Chinh phụ ngâm từ đầu đến cuối” (35). Câu chuyện của bác sĩ Trần Hữu Tước kể cho thấy bác Hồ quan niệm con người nghệ sỹ trí thức như một cái cây thì gốc của cây là nhưng giá trị cổ điển truyền thống: “Có hôm Bác hỏi mọi người có thích đọc KiềuChinh phụ ngâm không. Mọi người trả lời rất thích. Bác ngoảnh sang bác sỹ Tước, hỏi:
- Trong Chinh phụ ngâm, chú thích câu nào nhất?
- Thưa Bác, cháu thích câu Hướng dương lòng thiếp như hoa!
   Bác vừa đùa vừa khen:
 - À, chú này chưa mất gốc!” (36).
 
b. Về kế thừa và cách tân.
Trong một cuộc vui văn nghệ, một cô gái xung phong hát bằng tiếng nước ngoài. Bác đề nghị: “Người mình nên hát tiếng mình thì Bác và các chú ở đây mới hiểu, mới hay chứ”. Lại một đồng chí bộ đội xung phong: “Tôi ra đây hát mừng Cụ Hồ sống lâu muôn tuổi. Bác bảo: “Chú hát bài khác đi, bài này cũ lắm rồi” (37).  Mẩu chuyện này cho thấy tuy biết nhiều văn hoá nước ngoài nhưng điều quan tâm nhất của Bác là “tiếng mình”. Nhưng không hề nệ cổ mà Người luôn hướng về cái mới, cái sáng tạo. Người đã hơn một lần nhắc nhở: “Những cái cũ mà vẫn thúc đẩy cuộc sống thì cần phải giữ gìn nó. Còn những cái mới thì cũng phải chọn lọc những cái tốt có ích lợi cho mọi người chứ không phải cứ mới là làm không suy nghĩ” (38).

Ngay từ năm 1925 Người đã chủ trương: “Ngôn ngữ của ta còn nghèo. Khi nói, chúng ta phải vay mượn nhiều từ ngữ nước ngoài, nhất là từ ngữ Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng lạm dụng từ ngữ Trung Quốc chỉ làm cho văn thêm khó hiểu, trừ những từ thông dụng mà ai cũng đã biết và trừ những từ mới, như người bônsêvích, chủ nghĩa bônsêvích, tài chính...”(Thư trả lời ông H. (Thượng Huyền). Sau này Người vẫn nhất quán với quan niệm ấy: “...tiếng Việt không thiếu chữ đâu. Tiếng mình thật đầy đủ mà hay. Cho nên, những chữ gì mình có thì nên dùng, nên khai thác vốn của mình. Dùng chữ của mình thì dân hiểu mau. Đừng pha tạp tiếng nước ngoài” (39).

Xuất phát từ quan niệm này mà Người chủ trương tác phẩm văn học phải trong sáng, tránh dùng điển tích để dễ hiểu. Thời ở Việt Bắc, đồng chí Hoàng Đức Triều làm bài thơ Vịnh Cao Bằng cho “đồng chí Ông Ké” nghe:
 
Thênh thang chín huyện, hẹp nào, con?
        Dáng luỹ chở che góc nước non
        Ba mặt Tam Giang trôi cuộn cuộn
        Bốn bề tứ trụ đứng chon von
        Trừ tà muôn thuở gươm còn mãi
        Bỉnh chính nghìn xưa dạ chẳng mòn
        Dải đất biên cương nào phải kém?
        Kìa sông những sắt, núi đầy son!”
 
Và giải thích thêm vài điển tích trong bài thơ: “Tam Giang” là sông Hiến, sông Bằng và sông Cổn; “tứ trụ” là bốn ngọn núi: Sầm, Luân, Khấu, Kim Pha. “Trừ tà”, “Bỉnh chính” là muốn nhắc đến tích hai anh em Trần Quý, Trần Kiên giết yêu tinh, hai anh em Bồ Đằng Thiết một lòng chống giặc ngoại xâm.
 
Đồng chí nghe rồi, gật đầu:
- Được! Bài thơ có cái tự hào và chí khí anh hùng!
Nhưng đồng chí Ông Ké cũng phê bình: - Nếu bớt được điển tích, lời văn trong sáng hơn nữa sẽ có sức mạnh hơn” (40). Trong Thư trả lời ông H. (Thượng Huyền) – 1925 Người đã nhắc nhở người bạn viết tránh dùng điển tích: “…bài viết của ông có nhiều điển tích, nhưng tôi ngại điển tích ông nêu ra quá nhiều. Dùng điển tích là tốt, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất cao xa, thâm thuý của các điển tích thường cũng hay bao hàm những ý nghĩa mơ hồ có thể làm cho người ta hiểu lầm”.

Tinh thần học tập, tiếp thu, kế thừa văn hoá nước ngoài của Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong đoạn đối thoại giữa Người với nhà văn Nga Ruf. Bersatxki: “…các bạn chớ hiểu là tôi cho rằng chúng tôi cần phải vứt bỏ văn hóa nào đó, dù là văn hóa Pháp đi nữa. Ngược lại! Tôi muốn nói điều khác. Nói đến việc phải mở rộng kiến thức của mình về văn hóa thế giới, mà đặc biệt hiện nay là văn hóa Xô-viết - chúng tôi thiếu - nhưng đồng thời lại phải tránh nguy cơ trở thành những kẻ bắt chước. Không thể lấy từ nghệ thuật của một dân tộc khác chỉ riêng mặt nào đó - chẳng hạn, tính ước lệ nổi tiếng của văn học Trung Quốc, - cái đó sẽ chẳng hay ho gì. Văn hóa của các dân tộc khác cần phải nghiên cứu toàn diện, chỉ có trường hợp đó mới có thể tiếp thu được nhiều hơn cho văn hóa của chính mình” (41).

Ở đây toát lên mấy vấn đề lý luận: cần tiếp thu đa dạng các nền văn hoá khác nhau; nhưng phải chủ động, không bắt chước, biết tiếp thu cái gì là đặc sắc mà mình còn thiếu. Muốn thế phải nghiên cứu nền văn hoá mình cần tiếp thu một cách toàn diện, hệ thống. Có lẽ cần thấm thía hơn lời dạy của Người về tính chỉnh thể của văn hoá, cần phải nắm bắt cái chỉnh thể để tìm ra cái đặc sắc cá thể để tiếp nhận.

(Còn tiếp)

Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần cuối)

N.T.T
-----------------
(26). Phạm Hoàng Điệp (biên soạn) - Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Pháp. Nxb Chính trị Quốc gia, 2010.tr 159).
(27). Trần Đương - Ánh mắt Bác Hồ. Nxb Thanh niên, 1999 tr 104).
(28). Bảo Định Giang - Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh, Nxb Hội Nhà văn, 2010,Tập 1, tr 46,47). 
(29). Nguyễn Chí Thắng, Nguyễn Ngọc Đào, Lê Kim Dung (Biên soạn và tuyển chọn) - Bác là Hồ Chí Minh. Nxb Thanh niên, 2004, tr 139).
(30). Ban Tuyên giáo Trung ương – Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nxb Chính trị Quốc gia, 2009, tr 146). 
(31). Nguyễn Chí Thắng, Nguyễn Ngọc Đào, Lê Kim Dung (Biên soạn và tuyển chọn) - Bác là Hồ Chí Minh. Nxb Thanh niên, 2004, tr 82).
(32). Hoàng Ngọc Phách. Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh, Nxb Hội Nhà văn, 2010,Tập 1, tr 88)
(33).Trần Đương – Bác Hồ như chúng tôi đã biết. Nxb Thanh Niên, 2009 tr 166). 
(34). Lữ Huy Nguyên (sưu tầm, biên soạn) – Bác Hồ với văn nghệ sỹ. Nxb Văn học, 1995.tr 217).
(35). Lữ Huy Nguyên (sưu tầm, biên soạn) – Bác Hồ với văn nghệ sỹ. Nxb Văn học, 1995.tr 83). 
(36). Nguyễn Sông Lam, Bình Minh (tuyển chọn) - 120 câu chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh. (37). Nguyễn Sông Lam, Bình Minh (tuyển chọn) - 120 câu chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nxb Thanh niên, 2010, tr 275,  276). Nxb Thanh niên, 2010, tr 31).
(38). Nhiều tác giả - Hồ Chí Minh nhà văn hoá của tương lai. Nxb Thanh Niên, 2009. tr 59). 
(39). Nhiều tác giả - Bác Hồ, Hội văn nghệ Cao Bằng 1990. tr 189). 
(40). Nhiều tác giả - Bác Hồ, Hội văn nghệ Cao Bằng 1990.tr 260.Triều Ân ghi - Bác về lại Lam Sơn). 
(41). Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh, Nxb Hội Nhà văn, 2010,Tập 3, tr 56). 
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo