Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần 2)

Thứ tư - 18/01/2017 15:16
chu phoong arial moi copy - Theo chúng tôi, có nhiều cứ liệu để cho nhà nghiên cứu nào đó đủ hiểu biết và tâm huyết để viết riêng một chuyên luận mang tên Hồ Chí Minh, nhà lý luận phê bình nghệ thuật. Với cá nhân mình, chúng tôi chỉ xin đi vào lĩnh vực lý luận phê bình văn học và cũng chỉ dám nói là đây là một vài nét tìm hiểu bước đầu mà thôi.

Sinh thời Hồ Chí Minh không nhận mình là một nhà văn nghệ, chưa nói tới việc Người tự nhận mình là một nhà phê bình văn học. Nhưng qua một sự đọc khá hệ thống chúng tôi lại nhận thấy Hồ Chí Minh là một nhà phê bình có tư tưởng, suốt đời nhất quán trong quan niệm, kiên định trong chính kiến, có vốn hiểu biết văn học, văn hoá sâu rộng, có năng lực cảm thụ để phân tích, kiến giải vấn đề một cách sắc sảo, tinh tế.

Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần 1)

2. Quan niệm về mối quan hệ văn học và đời sống; tác giả và tác phẩm.
a. Về mối quan hệ cuộc sống – nhà văn – tác phẩm.
Nói chuyện với M. Tkatsôp, nhà dịch giả Nga, Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ quan niệm văn học gắn bó với đời sống chính trị: “Tôi vẫn nghĩ thơ và chính trị không thể tách rời - Người ngừng một chút rồi thêm - Còn, có phải thơ chính trị không “cao quý”? Và đó không phải là loại mà người làm thơ có thể viết hay? Có phải nhà thơ không cần làm những bài thơ liên quan đến việc đấu tranh với những cái xấu? Không, không thể thế được. Tôi cho rằng, không nghi ngờ gì cả, cũng như các ngành nghệ thuật khác, thơ phải gắn bó với sự nghiệp cách mạng; đó là điều khẳng định. Và những gì đặt ra chung quanh chuyện này có quan hệ đến nhân cách nhà thơ” (12).

Xuất phát từ quan niệm này mà Người yêu cầu nhà văn phải thâm nhập sâu vào quần chúng, sống cùng họ, chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu để viết về họ, phục vụ họ. Ngày 6-11-1962 dự cuộc họp của Bộ Chính trị cho ý kiến về nội dung Đại hội văn nghệ, bàn về tổ chức anh chị em nghệ sỹ đi thực tế dài hạn, Người tán thành và nói : “Đi, nhưng phải tự nguyện, không ép buộc. Đi, nhưng phải sống như người nông dân chứ đi theo kiểu làm khách là không được. Không để lao động quá sức, nhưng cũng nên thử để thấy người nông dân khổ như thế nào, khỏe như thế nào” (13). 

Chính vì thế khi nhà văn Nga Ruf. Bersatxki tỏ ý tiếc khi không được gặp một số nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, thì Người lại tỏ ra vui mừng: “Sao lại đáng tiếc? Ngược lại, họ đi khắp đất nước là rất tốt. - Và đến đây hóa ra là Chủ tịch biết gần như tất cả mọi chi tiết công việc mỗi nhà văn đang làm. - Như tôi biết, - Người nói, - Chính Tô Hoài, người mà các bạn đã gặp, hàng năm đều đi đến các vùng dân tộc ít người ở miền núi, nơi anh ấy đã chiến đấu, cái đó cũng rất tốt! Hằng Phương - các bạn cũng đã làm quen với nữ thi sĩ ấy - trong thời gian cải cách ruộng đất đã về nông thôn và ở đó cùng lao động với nông dân.

Do đó thơ của cô ta như các bạn hiểu đấy, chỉ hay hơn mà thôi. Và Nguyễn Đình Thi bao giờ cũng sát bên nhân dân. Cả nhà thơ xuất sắc Tố Hữu của chúng tôi cũng vậy. Và như vậy là đúng, phải như vậy, chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng cho sáng tác của các nhà văn bằng những nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó - nhân dân cũng sẽ quên anh ta” (14). Ở đây đã rất rõ ràng một quan niệm thực sự biện chứng ở Người: để có tác phẩm hay nhà văn phải trở về với cuộc sống nhân dân, coi đấy là nguồn nhựa sống.

Câu chuyện của hoạ sỹ Diệp Minh Châu kể càng cho thấy rõ hơn quan niệm của Bác nhà văn phải tìm cái đẹp trong cuộc sống: “Lần đầu tiên được theo Bác đi tìm một địa điểm mới, trong khi đang lội qua suối, Bác dừng lại chỉ tay ra phía trước: "Chú Châu, chú thấy có đẹp không?". Tôi nhìn theo tay Bác trỏ, thấy giữa dòng suối có một hòn đá, nước suối chảy mạnh đập vào tung toé, bụi nước tung lên như ánh bạc. Có một đêm hai Bác cháu đang nghe đài phát thanh, bỗng Bác gọi:
- Chú Châu, qua đây!

Tôi đến ngồi cạnh Bác. Bác kéo đầu tôi ghé cạnh Bác, trỏ ra khung cửa sổ. Một mảnh trăng liềm vừa nhô ra khỏi núi, toả sắc xanh huyền ảo xuống những dãy rừng xa. Bác nói:
- Của chú đấy!” (15).

Đồng chí Lê Quảng Ba kể tháng 2-1961 Bác về thăm Pác Bó, ngắm nhìn cảnh đẹp, Bác nói với đồng chí Tố Hữu: “Nào nhà thơ, làm thơ đi chứ!”. “Mời Bác làm trước ạ!”. Đồng chí Tố Hữu trả lời.Bác nói: “Vậy thì tôi làm trước!”. Và bài thơ Thăm lại hang Pác Bó ra đời (16). Qua hai câu chuyện này còn toát lên một ý: nhà thơ phải tìm cái đẹp trong cuộc sống, lấy cái đẹp vừa là đối tượng miêu tả vừa là cảm hứng sáng tạo. Câu chuyện tiếp theo của đồng chí Đặng Tính cho thấy, theo Bác thì cảm hứng cộng với cái đẹp của cuộc đời sẽ tạo thành thơ:
“Chợt Bác gọi:
-  Chú Tính! Chú Tính lại đây!
Tôi bước nhanh đến bên Bác, Bác chỉ tay về phía biển. Một đoàn thuyền đánh cá nhấp nhô những cách buồm nom xa nho nhỏ xinh xinh như những cánh bướm:
- Chú xem kìa! Rồi Bác đọc chậm rãi như ngâm thơ: Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa...
Tôi xúc động đọc luôn hai câu thơ vừa mới làm xong: Bác về thăm lại quê xưa/ Năm mươi năm ấy bây giờ là đây...
Bác gật đầu cười:
- Hay đấy! Thế mà cũng thành thơ đấy!
Tôi sướng quá, muốn nói to lên...” (17)

Là một nghệ sỹ đích thực, Hồ Chí Minh rất hiểu vai trò của cảm hứng sáng tạo. Nhà thơ Tố Hữu không quen uống rượu, một lần được Bác nhắc: “Ngày xuân, chú cũng nên uống một chén cho bật tứ thơ” (18). Qua câu chuyện của họa sỹ Ngô Tôn Đệ cho biết Bác hiểu và rất quý anh chị em nghệ sỹ: “Một lần họa sỹ trang trí cho một triển lãm. Bác gửi quà, trong đó có rượu nhưng không ai dám mở rượu ra uống. Thấy vậy, ông Vũ Kỳ nói: “Cứ uống rượu đi, Bác bảo là văn nghệ sỹ phải có rượu nó mới vui”... Sau đó, còn bất ngờ hơn, Bác đã điều xe riêng của Bác đưa chúng tôi về...Nhưng chúng tôi không ai dám ngồi xe cả” (19). Phải rất hiểu đặc trưng của sáng tạo nghệ thuật, của cá tính nghệ sỹ, Bác mới có lời dặn sâu sắc mà chí tình này cho ông Hà Huy Giáp (tháng 6-1963): “Tiếp xúc với các nhà giáo cũng dễ. Văn hóa, văn nghệ thì không tiếp xúc được tập thể. Họ đòi tình cảm là chính. Phê bình họ, phải lý tình đi đôi với nhau. Làm họ buồn, họ không sáng tác được…
Gặp nhà giáo, chú có thể gặp tập thể. Gặp văn nghệ sỹ, chú phải gặp riêng từng người một…Đối với văn nghệ sỹ, phải có tình trước mới đưa họ vào lý…Rốt cuộc, mình hiểu anh em, coi trọng anh em thì anh em coi trọng mình, nghe mình” (20). 

Nhưng Hồ Chí Minh yêu cầu ở người nghệ sỹ thái độ trung thực với mình, sâu sắc với cuộc sống, theo chúng tôi, chỉ qua một chữ “hiểu” rất đích đáng. Nói chuyện với nữ ký giả Phrăng-xoa-dơ Co-re-dơ, báo Nhân đạo (Pháp), Người căn dặn: “Cô hãy tự lượng mình là người của báo Nhân đạo - Bác nói - mà viết bài. Chỉ có điều là cô hiểu thế nào thì viết rằng mình hiểu thế, chứ không viết là mình nghe thấy thế” (21). Trong nghề viết ai cũng thấm thía chữ “hiểu” này. Để “hiểu”một vấn đề phải bỏ ra biết bao công phu, tâm huyết, bao sự mày mò...Viết được cái sự hiểu của mình ra thì trang viết mới có hồn, mới đích thực là cái của mình, cá tính mình. Và độc giả cũng cần cái ấy, chứ không cần cái mờ nhạt, chung chung.

b. Quan niệm về tác phẩm văn học.
Quan niệm của Bác về tác phẩm văn học được thể hiện rất sinh động qua câu chuyện của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Năm 1946 Bác nói với nhà văn: “- Kiểm duyệt với báo chí phải thân nhau. Người ta đã đặt hết tâm trí mới viết ra bài, cũng như đẻ được một đứa con. Nay mình thấy cái mặt, cái tay đứa bé có vết hoặc có ghẻ, thì mình phải bảo người ta chữa và chữa như thế nào. Nếu mình lại chặt cái mặt, cái tay ấy đi, thì đứa bé còn ra hình thù gì. Đời nào bố mẹ nó lại đồng tình với mình được? Mà nhân tình thế thái như vậy, dù đứa con hư hại mấy, thì bố mẹ cũng yêu và bênh con” (22). Ví dụ này cho thấy Người rất trân trọng thành quả lao động, thấu hiểu nỗi nhọc nhằn trong quá trình “thai nghén” tác phẩm, thông cảm với sự quá yêu đến cực đoan “đứa con” mình sinh ra của nhà văn.

Thế nào là một tác phẩm hay? Qua nhận xét về Truyện Kiều phần nào cho thấy quan niệm của Bác: “- Thể thơ Việt Nam, được dân ta ưa thích, phải kể có lục bát. Chú hãy xem, không người nào không nhớ một câu Kiều. Chú có rõ Kiều hay như thế nào không?...Chính vì, không ai đọc là không thấy tình cảm của mình ít nhiều trong đó, do đó, truyện Kiều hấp dẫn người đọc” (23).  Đây là một chi tiết đắt, rất tiếc, trong các giáo trình đại học, các sách lý luận khi chứng minh cho một tác phẩm hay vừa phải mang tầm phổ quát nhân sinh, vừa phải đi sâu vào tâm hồn mỗi con người, chưa thấy đâu viện dẫn câu nói này.

Ngày 9-4-1925 với bút danh L.T Nguyễn Ái Quốc có một lá thư gửi cho người nhận là ông H. (Thượng Huyền). Khi đưa vào Toàn tập, Nhà xuất bản đặt tên là Thư trả lời ông H. (Thượng Huyền). Bản gốc tài liệu tiếng Pháp còn lưu tại Viện Lịch sử Đảng. Lá thư thể hiện một quan niệm khá toàn diện về một tác phẩm văn học hay: “Tôi nghĩ rằng một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó được trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được, và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm, thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt”. Ở đây toát lên mấy yêu cầu về tác phẩm: một là, “diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói”, tức là tác phẩm ấy phải đặt ra vấn đề đáng quan tâm nhưng không dài dòng; hai là dễ hiểu, “ai cũng hiểu được”; ba là phải gợi cho người đọc những nghĩ suy về vấn đề tác phẩm đã đặt ra. Các nhà lý luận hiện đại có thể bổ sung thêm một vài ý nào đó, theo chúng tôi cách hiểu của Hồ Chí Minh vẫn là một cách hiểu mẫu mực về một tác phẩm văn học có giá trị.

Hồ Chí Minh chứng minh tác phẩm hay phải có “lối hành văn thật sự trong sáng và cao xa” bằng một câu trả lời ngắn gọn, hàm súc của Tăng Tử trước thầy mình là Khổng Tử. Chúng tôi muốn trích nguyên văn chứng minh sau: 

“Có một lần, một vị tướng của Napôlêông đệ nhất bị bao vây ở Oatéclô. Kẻ địch ra lệnh cho ông ta đầu hàng; ông đáp cộc lốc: "Cứt". Câu nói ấy chỉ có một từ, lại là một từ tục tĩu. Nhưng trong tình thế nguy kịch nghiêm trọng ấy của vị tướng, nghìn lời nói khác cũng không thể nào thể hiện được hơn lòng dũng cảm và sự khinh bỉ của ông đối với kẻ thù. Và chỉ một lời đáp ấy cũng đủ để vị tướng củng cố được đội ngũ của mình. Chỉ câu nói ấy cũng đủ làm cho tên ông vang dội khắp châu Âu. Nó còn được ghi vào biên niên sử cho đến ngày nay và người Pháp ai cũng biết đến lời đáp ấy.

Vì vậy, một lối hành văn giản dị, chính xác hơn hẳn cái lối hành văn rườm rà, hoa mỹ...” (24). 

Văn học hậu hiện đại hôm nay hay nói về cái tục, thậm chí còn coi đó là một cứu cánh. Thực ra, đó là một sự bế tắc, mất phương hướng vì nó đi chệch ra ngoài cái bản chất thẩm mỹ vốn có của văn học. Ở ví dụ trên thì cái tục được coi là một phương tiện để lột tả bản chất nhân vật. Quan trọng hơn, nó chứng minh cho cách dùng ngôn từ văn học: bằng lượng con chữ ít nhất nhưng phải nói được nhiều ý nghĩa nhất. Hồ Chí Minh yêu cầu có một lối hành văn hàm súc, dễ hiểu, trong sáng qua sự chứng minh hai câu văn sau: “Một câu dài dòng: "một người lạ mặt dừng lại ở bên ngoài để nhìn trộm xem có ai đứng sau vách không"; câu ấy nhất định là không gọn bằng câu: "một tên ăn trộm đứng rình” . Người nhấn mạnh sự dễ hiểu của tác phẩm: “Một tác phẩm hành văn hay mà khó hiểu thì chẳng có ích gì. Ví như, bảo đồng bào chúng ta hãy lắng nghe một người Pháp hay một người Trung Quốc hát: dù cho những ca sĩ ấy là những nghệ sĩ tuyệt vời đi nữa thì họ cũng không lôi cuốn được đồng bào ta....”. Dĩ nhiên đây là yêu cầu của Hồ Chí Minh ở năm 1925 về tác phẩm văn học phải phục vụ cho mục đích chính trị cứu nước. Sau này, ở vào một hoàn cảnh khác, Người mượn lời một người bạn Liên Xô (đồng chí L. – trong Bài nói tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 16-5-1959) để yêu cầu tác phẩm không chỉ là văn học mà còn là cả báo chí nữa:. “Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chỉ muốn biết những việc thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc” (25). Chúng tôi hiểu “hay” và “lạ” là nói về nội dung, còn “văn chương” là nói về hình thức tác phẩm.


Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần 3)
Hồ Chí Minh và lý luận, phê bình văn học – Một vài tìm hiểu bước đầu (Phần cuối)

N.T.T
----------


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)